TRĂNG QUA THI CA VIỆT NAM

Print
User Rating: / 0
PoorBest 

Nếu ngày xưa bên Trung Quốc, thi sĩ Trương Nhược Hư đã tả cảnh “XUÂN GIANG HOA NGUYỆT DẠ” (Đêm Trăng Hoa Trên Sông Xuân) thật đẹp tuyệt vời thì tại Việt Nam, có thi sĩ nào tả cảnh đêm trăng không?

Theo thiển ý, bất kỳ một thi sĩ nào sáng tác thơ thường không thể quên đêm trăng được. Đây không phải là một định  luật mà là sự rung cảm tâm hồn của thi sĩ trước cảnh đẹp nên thơ giữa đêm khuya thanh vắng. Vì vậy mà trên trần gian này, có bao nhiêu thi sĩ thì có bấy nhiêu bài thơ tả cảnh đêm trăng. Có nhà thơ thì tả cảnh trăng mờ bên suối, có nhà thơ thì tả cảnh đêm trăng ngày mùa, nhiều nhà thơ thích tả cảnh trăng chênh chếch đầu núi, một số nhà thơ khác tả cảnh đôi tình nhân hẹn hò dưới ánh trăng khuya, cũng lắm nhà thơ tả cảnh uống rượu tiêu sầu hay ngồi ngâm thơ vịnh nguyệt dưới ánh trăng vàng.

Ta hãy xem một số thi sĩ tả cảnh hẹn hò dưới ánh trăng khuya, để rồi sau đó xa nhau mãi mãi, để rồi vĩnh biệt ngàn năm khiến cho tâm hồn quằn quại nhớ nhung chất ngất. Điển hình nhất là thi sĩ Đông Hồ qua bài: “Nhớ rằm tháng Hai”. Qua bài này, nhà thơ mượn vầng trăng non nước Hà Tiên để tả nỗi thương nhớ người bạn vàng đã cùng nhau rong chơi dưới nguyệt đêm nao:

“Non Bình San lững lờ bóng nguyệt

Nước Đông Hồ man mác hơi may

Cũng rằm năm ấy tháng này

Cùng trăng cùng nước non này năm xưa

Cảnh năm trước vẫn là năm trước

Tình năm xưa có khác năm xưa

Này trăng, này núi, này hồ

Mà người cùng ngắm bây giờ là ai?

Sực nhớ thuở trăng soi đầu núi

Dưới bóng trăng thui thủi bóng ai

Bóng ai tha thướt cành mai

Cành mai tuyết điểm cành mai sương lồng

Ta cùng ai thong dong dưới nguyệt

Khẽ dang tay người ngọc thẩn thơ

Hồ Đông một vũng nông sờ

Non Bình một dải tờ mờ ngọn cao

Em mới hỏi: “Trăng sao sáng tỏ?”

Anh bảo rằng: “Trăng có đôi ta”

Bây giờ em đã cách xa,

Vầng trăng xưa vẫn chưa nhoà bóng gương”.

 

 

 

 

Nếu dưới đêm trăng, nhà thơ Đông Hồ và người bạn vàng đã thỏ thẻ bên nhau: Em mới hỏi: “Trăng sao sáng tỏ?”. Anh bảo rằng “Trăng có đôi ta”, thì nhà thơ Xuân Diệu trái ngược lại không dám mở miệng nói dù chỉ một lời khi đi bên cạnh người yêu dưới ánh trăng khuya:

 

 

“Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Ánh sáng tuôn đầy các lối đi

Tôi với người yêu qua nhẹ nhẹ

Im lìm không dám nói năng chi”.

                                             (Trăng)

 

Riêng nhà thơ Nguyễn Bính, ông đã thỏ thẻ với người yêu quá nhiều trong một đêm trăng nào đó nhưng rồi người yêu đã không giữ lời thề khi xa mặt thì đã cách lòng:

 

“Cách nhau ngàn vạn dặm

Nhớ chi tới trăng thề”. 

                        (Tình quê)

 

Cũng hẹn cũng hò, cũng thề cũng thốt, lắm lúc cũng có người giữ được lời thề, nhưng nhiều khi có người lại không giữ được lời thề. Ai đã đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng không bao giờ quên mấy câu thơ sau đây khi nàng và chàng đã cùng nhau thề thốt dưới ánh trăng khuya trong đêm thanh vắng:

 

“Vừng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song”.

 

Nhưng rồi vì hoàn cảnh éo le của cuộc đời nên nàng đành phải ngậm đắng nuốt cay để rồi phản bội lời thề với người tình muôn thuở!

 

Nhiều nhà thơ trái lại không hẹn hò với người yêu hay nhung nhớ người tình muôn thuở đã năm nào cùng nhau say đắm ân tình, nhưng họ chỉ tưởng tượng chỉ mộng mơ một bàn tay ngọc ngà phủ lên trán dưới ánh trăng mờ hiu hắt giữa đêm khuya thanh vắng mà thôi. Ta hãy nghe nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp diễn tả sự mơ mộng ấy qua mấy vần thơ sau qua bài “Ngày Xưa”:

 

“Đêm nay chờ trăng mọc

Ngồi thẩn thơ trong vườn

Quanh hoa lá róc rách

Như đua bắt làn hương

Ta còn đang luyến mộng

Yêu bóng người vẩn vơ

Tay ngà ai phủ trán?

Hiu hắt ánh trăng mờ”.

                         (Ngày xưa)

 

Riêng nhà thơ Cao Mỵ Nhân, bà không trách người yêu nặng nề như Hàn Mạc Tử: “Cách nhau ngàn vạn dặm, nhớ chi tới trăng thề” mà chỉ hỏi nhè nhẹ: “còn nhớ đêm trăng hẹn” không qua bài Trăng Xanh trong thi tập THƠ MỴ:

 

Ánh bạc mơ hồ tràn cõi mộng

Tơ vàng vương vấn suốt canh chơi

Hỏi người còn nhớ đêm trăng hẹn

Bóng nguyệt kề vai tóc biếc rơi”.

                                     (Trăng Xanh)

 

Nhưng ta thấy rằng có nhiều nhà thơ dứt khoát tâm tư khi biết người yêu đã “vương miện lên ngôi” và “vương hậu đăng quang”.

 

Hãy đọc bài thơ “Dưới bóng trăng vàng” của nhà thơ Cung Diễm thì sẽ thấy rõ ngay:

 

 

“Từ em vương miện lên ngôi

Ta đi nhặt ánh vàng rơi trăng vàng

Từ em vương hậu đăng quang

Ta đi dưới bóng trăng vàng lẻ loi

Niềm riêng không nói nên lời

Đơn phương riêng một phía trời tương tư

Mong ư? - Đâu dám mong chờ

Nhớ ư? - Vâng nhớ bài thơ trăng vàng

Vườn khuya lối trải vàng trăng

Vườn yêu ai trải giá băng lối vào!”

 

Tuy nhiên nhiều nhà thơ chẳng hẹn hò gì với người yêu cả. Họ chỉ thích rong chơi dưới ánh trăng vàng tuyệt đẹp. Nhìn ánh trăng khuya rồi thỏ thẻ với chị Hằng như nói với người yêu đang ở tận trên trời cao vời vợi. Ta hãy nghe nhà thơ Tản Đà diễn tả tư tưởng ấy như sau:

 

“Cái hạc bay lên vút tận trời

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”

 

Hay là:

 

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !

Trần thế em nay chán nữa rồi”.

 

 

Sau khi đề cập một vài nhà thơ tả cảnh đêm trăng có những cặp tình nhân hẹn hò, giờ ta hãy nói đến một số bài thơ tả cảnh biệt ly nhưng lại xảy ra giữa cảnh đêm trăng buồn não nuột ê chề. Bởi sự biệt ly nào cũng buồn da diết, sự cách xa nào cũng nghẹn ngào bi lụy nên cho dù đêm trăng sáng đẹp tuyệt vời thì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ta hãy nghe Đại thi hào Nguyễn Du tả cảnh đêm trăng ly biệt giữa Thuý Kiều và Kim Trọng:

 

“Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vừng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”.

                  (Đoạn Trường Tân Thanh)

 

Nhưng thi sĩ Đặng Trần Côn lại khác. Cụ lấy bóng trăng như là bóng người vợ ở quê nhà, luôn luôn theo dõi chàng ở chốn biên thùy xa tít mù khơi, theo dõi chàng ngay cả từ lúc “múa gươm rượu tiễn chưa tàn”:

 

 

“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi

Dạ chàng ra ngoài cõi thiên san

Múa gươm rượu tiễn chưa tàn

Trỏ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”.

                            (Cung Oán Ngâm Khúc)

 

Cũng để tả cảnh biệt ly, nhà thơ Hoàng Duy qua bài “Trăng vương đường liễu” trong thi tập “Như Bóng Mây Bay” cũng đã nghẹn ngào ai oán khi viết mấy vần thơ lục bát:

 

“Người đi kẻ ở nghiêng sầu

Ai người bịn rịn lòng đau thẫn thờ

Người trông khuất mấy bóng mờ

Trăng buồn thương trẻ bơ vơ xuân tình”.

                        (Trăng vương đường liễu)

 

Tuy nhiên, không phải ai cũng hẹn hò để rồi ly biệt với người yêu, mà lắm lúc cùng những người bạn rượu say tuý luý để tiễn biệt nhau đi giữa chốn giang hồ kỳ hiệp dưới ánh trăng vàng. Ta hãy đọc mấy vần thơ lục bát sau đây trong bài “Giang hồ” của Lưu Trọng Lư sẽ thấy rõ nét của sự tiễn biệt bạn bè:

 

“Mời anh cạn hết chén này

Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn

Tiếng gà đã rộn trong thôn

Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay

Để lòng với rượu cùng say”.

                                         (Giang hồ)

 

Như ta đã thấy, rất nhiều nhà thơ tả cảnh biệt ly dưới đêm trăng sáng, tả cảnh hẹn hò dưới ánh trăng khuya. Nhưng nhiều nhà thơ nhìn ánh trăng khuya mà nhớ tới cảnh quốc phá gia vong để rồi lòng đau như cắt, những mong một ngày nào đó, họ sẽ ra tay xây dựng lại cơ đồ. Hai câu thơ đã một thời vang bóng hiện còn lưu lại trong sử xanh ai ai cũng đã học thuộc lòng. Đó là hai câu thơ cuối nằm trong bài thất ngôn bát cú để diễn tả vị tướng Đặng Dung trong lịch sử nước ta luôn luôn ôm mối hận vong quốc, quyết ra tay tiêu diệt quân thù, để rồi đêm đêm mài gươm dưới ánh trăng chờ cơ hội trả thù cho nước:

 

 

“Thù nước chưa xong đầu đã bạc

Mài gươm vầng nguyệt đã bao ngày”.

 

Cùng một tư tưởng trả thù nước xây dựng lại cơ đồ, những người đi sau quyết noi gương bậc tiền nhân để tiếp tục mài gươm dưới ánh trăng khuya, chờ ngày xuất quân tiêu diệt lũ bạo tàn. Ta hãy nghe nhà thơ Hà Ly Mạc tiếp tục nung nấu hào khí trong lòng, quyết nuôi chí lớn chờ ngày phục hận, luôn luôn mài gươm dưới vầng nguyệt, nghe theo lời vang vọng của núi sông:

 

“Ai đợi chờ ai dưới bóng trăng

Loang loang ánh thép loáng sương vàng

Rừng khuya vang vọng lời sông núi

Chiêu gọi người về dưới ánh trăng

Ta hỏi lòng ta, trăng hỏi trăng

Thời nay nối tiếp thuở xưa chăng?

“Quốc cừu vị báo”nung hào khí

Dưới nguyệt gươm mài hồn lạnh băng”.

                           (Đợi người dưới trăng)

 

Cũng đồng sàng đồng mộng với nhà thơ Hà Ly Mạc, thi sĩ Song Nhị cũng quyết chí trở về quê hương giải phóng, nên đêm đêm ôm mộng phất cờ khởi nghĩa quang phục quê hương, đang quằn quại dưới ách thống trị bạo tàn của quân thù:

“Người gom gió lộng phất cờ

Người qua sông Dịch ngồi chờ dưới trăng

Ta ngồi vẽ lại trăm năm

Ôm pho tượng cổ băn khoăn đợi chờ”.

                              (Gởi người dưới trăng)

 

Nói chung, hầu hết các thi sĩ đều làm thơ khi thấy ánh trăng xuất hiện giữa đêm khuya thanh vắng. Người thì đêm trăng nhớ người tình, người thì đêm trăng rong chơi. Người thì nhìn trăng lại muốn mài gươm để trả thù nhà, thù nước. Tuy nhiên, các thi sĩ thường tả cảnh đêm trăng khá nhiều. Điển hình và rõ nét nhất là những cảnh đêm trăng sau đây được thi sĩ Hàn Mạc Tử diễn tả thật tuyệt vời:

 

“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi

Trong khóm vi lau rào rạt mãi

Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?

Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”.

                                        (Gái quê)

 

Nhà thơ Bích Khê cũng tả ánh trăng, nhưng lại đi xa hơn Hàn Mạc Tử qua đoạn thơ sau đây trong bài “Xuân tượng trưng”:

 

“Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần tuý và tượng trưng

Nâng lên núm vú đồi

Sửa trăng nhi nhỉ giọt

Bay qua cụm liễu phơi”.

          (Xuân tượng trưng)

 

 

Ngược lại, thi sĩ Đoàn Văn Cừ tả cảnh đêm trăng mùa hè ở nông thôn thật linh động, thật thực tế, nên khi đọc lên ta có cảm tưởng như cảnh đêm trăng ở quê nhà, khiến lòng ta nhớ nhung chất ngất, mong sao được trở về quê cha đất tổ để thưởng thức lại những đêm trăng ở miền quê mộc mạc dịu hiền:

 

“Ông lão nằm chơi ở giữa sân

Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân”.

 

“Trong xóm giờ lâu quá nửa đêm

Tiếng chày giã gạo đã ngừng im

Trăng tà hạ xuống ngang đầu núi

Đom đóm bay qua dải nước đen”.

                                        (Ngày nay)

 

Riêng nhà thơ Cao Mỵ Nhân, bà tả cảnh đêm trăng thật tuyệt vời qua bài “Trăng xanh” trong thi tập “Thơ Mỵ”:

 

“Đĩa ngọc ai treo ở đỉnh trời

Xanh màu lá mạ, sáng, xinh, tươi

Một vừng lơ lửng đầy duyên dáng

Vạn nẻo xôn xao chẳng lả lơi

Ánh bạc mơ hồ tràn cõi mộng

Tơ vàng vương vấn suốt canh chơi

Hỏi người còn nhớ đêm trăng hẹn

Bóng nguyệt kề vai, tóc biếc rơi”.

                                    (Trăng xanh)

 

Tóm lại, nói đến trăng qua thi ca Việt Nam, ta không thể kể hết ra tất cả những bài thơ nói về trăng của hầu hết các thi sĩ. Vì trên thế gian này, có bao nhiêu thi sĩ thì có bấy nhiêu bài thơ nói về trăng. Vì thế, ta chỉ nêu ra đây một số bài thơ của một vài thi nhân để làm biểu tượng cho bài “Trăng qua thi ca Việt Nam” vậy.

Dương Viết Điền

 

 

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Monday, 04 July 2011 02:53 )  

Show Other Articles Of This Author