CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

XUẤT XỨ BÀI GÁI XUÂN- Thơ Của Nguyễn Bính

E-mail Print

Mỗi dịp Tết đến, những giai điệu quen thuộc của bài hát Gái Xuân lại vang lên: "Em như cô gái hãy còn xuận Trong trắng thân chưa lấm bụi trần..."

 

KHÔNG THỂ BIẾN THÚ VẬT THÀNH NGƯỜI

E-mail Print

Hình như nhiều người tranh đấu và cả dân chúng đều có chung một "niềm tin" này: VC cũng là người thì có thể sửa đổi được, có thể uốn cho ngay lại được, có thể làm cho chúng thành người tốt được.

 

Đêm Yên Tĩnh

E-mail Print

Bài hát nổi tiếng “Stille Nacht” bắt nguồn từ nước Áo. Chữ “stille” tiếng Đức tương đương với chữ “still” trong tiếng Anh, có nghĩa là yên tĩnh hay yên lặng. Bài hát có tên tiếng Anh là “Silent Night”. Tiếng Việt là “Đêm Thánh Vô Cùng”, lời Nguyễn Văn Đông. Tưởng chúng ta cũng nên mở ngoặc ở đây vinh danh nhạc sĩ Đại Tá Nguyễn Văn Đông, người đóng góp rất nhiều cho nền tân nhạc Việt Nam. Ông cũng soạn lời Viêt cho bản “Ave Maria” của Franz Schubert, một bản nhạc nổi tiếng khác hay được hát vào dịp đám cưới hay Giáng Sinh.

 

NGƯỜI SÀI GÒN XƯA - "Lên Đi Thằng Ông Nội"

E-mail Print

Dù bạn sinh quán ở đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là: NGƯỜI SÀI GÒN.

Last Updated ( Thursday, 21 November 2019 11:16 )
 

Thân Phận Con Người

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Tôi gặp các bạn trong một quán nhỏ tại Đài Loan. Quán không mang tên là quán chửi nhưng rộn ràng cả quán là những tiếng chửi thề. Giọng chửi Long An, Cần Thơ, Rạch Giá của miền Tây hiền hoà sang đến Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình khô cằn sỏi đá. Và toàn là giọng nữ. Họ là những cô dâu, ô sin, lao động chính thức, lao động chui, lao động bằng tay chân, lao động bằng thể xác. Những thiếu nữ 16 cho đến ngoài 30 đã làm nên một tầng lớp người Việt Nam lạ lẫm ở xứ người: những nô lệ của thời đại mới.
Nếu bạn muốn tìm kiếm một thiếu nữ đoan trang, thuỳ mị để ăn khớp với hình ảnh một con người đầy thương xót trong lòng bạn, bạn sẽ thất vọng. Đây là những con người sinh ra và lớn lên trong cái máy nghiền nát tâm hồn của cộng sản. Và những cay đắng, tủi nhục giày xéo thêm lên cuộc sống của họ ở xứ người đã biến họ thành những con người chai đá, bất cần và nổi loạn. Ở họ, từ những tiếng chửi thề rổn rảng, đã toát lên thái độ sống của 2 câu thơ từ một nhà thơ mà tôi không biết tên: "Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng / Đ. mẹ đời đ. má tương lai..."

 

Chuyện Tình Lê Uyên & Phương

E-mail Print

Cuối thập niên 60, tôi chuyển trường từ Ban Mê Thuột sang trường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, học năm Đệ Nhất (ngày nay là lớp 12). Tôi trọ học tại đường Võ Tánh, đoạn gần với trường Chiến tranh Chính trị, Đại học Đà Lạt và trường nữ Bùi Thị Xuân. Xin bắt đầu “Chuyện tình Lê Uyên & Phương” với câu chuyện “Đà Lạt sương mù: Năm tháng ngao du” đã đăng trên Blogspot, Nguyễn Ngọc Chính’s Hồi ức một đời người, https://chinhhoiuc.blogspot.com/…/a-lat-suong-mu-nam-thang-…:

 

CÂU CHUYỆN VỀ NỖI OAN KHUẤT ĐÃ ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ SAU 60 NĂM

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 
Đi qua những tình tiết bất ngờ, câu chuyện về người tù binh chiến tranh dưới đây đã khiến người đọc thực sự hồi hộp. Mất 60 năm để mọi người biết sự thật, quãng thời gian thật dài! ✪ Roddick là một tù nhân chiến tranh người Anh. Anh bị bắt trong một lần kém may mắn và giống như nhiều tù nhân khác, Roddick bị áp giải đến một trại tập trung ở Đức. Trong trại tập trung có gần 1.000 tù binh, toàn bộ đều là người Anh. Họ bị đối đãi thậm tệ đến mức khó có gì lột tả hết, không khác gì loài vật và phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. May mắn là, Roddick là một binh sĩ huấn luyện kỹ năng lái xe tải trong quân đội Anh. Trong trại tập trung của Đức, vị trí này lại thiếu rất nhiều nên tại đây, anh được chiêu mộ làm lái xe. Tất nhiên, trong số những tù binh Anh ở trại tập trung đó, không ít người có kỹ năng lái xe nhưng chẳng ai tình nguyện làm công việc đó, bởi nhiệm vụ của việc lái xe là chuyên vận chuyển những chiến hữu chết đói và bị sát hại mỗi ngày đến nơi chôn cất. Tuy nhiên, Roddick lại tỏ ra rất nhiệt tình với công việc này. Anh nói mình sẽ vui vẻ làm tốt công việc được giao. Và như vậy, Roddick cuối cùng đã là một lái xe của Đức quốc xã và cũng kể từ đó, anh trở nên thô bạo và tàn nhẫn với chính đồng bào mình. Không chỉ quát tháo, lớn tiếng với các tù nhân, anh còn dùng bạo lực, nắm đấm hướng về phía họ. Thậm chí, có tù nhân rõ ràng chưa chết, anh vẫn cố tình vứt lên xe. Lẽ dĩ nhiên, tất cả những tù binh đều tỏ ra căm hận con người này, đồng thời dùng nhiều cách khác nhau để cảnh cáo Roddick. Nghe xong, anh vẫn bỏ ngoài tai, việc mình mình làm. Các tù binh không tiếc lời mắng nhiếc Roddick là tên cẩu tặc, kẻ bán nước, loài chó săn… Nhưng cũng chính nhờ đó, quân Đức quốc xã càng lúc càng thích thú và tín nhiệm Roddick. Ban đầu, khi anh lái xe ra khỏi trại tập trung, binh sĩ Đức quốc xã đều chặn xe lại kiểm tra, giám sát từng cử động nhưng về sau, anh có thể ra vào thoải mái mà không hề bị kiểm soát. Chiến hữu của Roddick cũng ngầm công kích anh, không ít lần thiếu chút nữa thì bị họ đánh cho mất mạng. Sau một lần bị đánh thừa chết thiếu sống, Roddick vĩnh viễn mất đi một cánh tay, đồng thời, anh cũng mất đi giá trị lợi dụng. Không còn có thể tiếp tục lái xe, Roddick như chiếc bị rách bị quân Đức quốc xã vứt ra bãi rác. Không còn được quân Đức bảo hộ, Roddick nhanh chóng rơi vào trận địa báo thù vô tình của các tù nhân chiến tranh Anh. Một ngày mưa, trong một hoàn cảnh cô độc đến thê lương, anh chết cạnh một góc tường ẩm ướt trong trại tập trung của người Đức. ✪ Người cứu mạng tôi, trở thành người tôi hận nhất 60 năm đã trôi qua, người dân ở quê hương Roddick dường như sớm đã quên mất anh còn những người trong gia tộc cũng cố tình né tránh tất cả những việc làm liên quan đến con em mình. Cứ như thế, Roddick bị chôn vùi trong cát bụi của thời gian. Thế nhưng bỗng nhiên có một ngày, một tờ báo có lượng phát hành không nhỏ của nước Anh đã đăng tải một bài viết có tựa đề: "Người cứu tôi, là người tôi hận nhất" ở ngay vị trí bắt mắt nhất trang nhất. ● Nội dung bài báo như sau: Trong tại tập trung của Đức quốc xã có một tên phản đồ tên Roddick, cam tâm bán mạng cho tụi Nazi (ám chỉ Đức quốc xã). Ngày hôm đó, tôi ốm nhưng chưa chết, thế nhưng anh ta vẫn vất tôi lên xe tải và nói với bọn Đức là đem tôi đi chôn. Tuy nhiên, điều khiến tôi không thể ngờ đến là, khi xe chạy được nửa đường, Roddick dừng xe, nhấc tôi đang thoi thóp ra khỏi xe và đặt tôi xuống dưới gốc một cây cổ thụ, để lại vài mẩu bánh mỳ đen và một bình nước, vội vã nói với tôi: Nếu như anh có thể sống, hãy đến thăm cái cây này rồi cấp tốc lái xe đi mất. Sau khi câu chuyện ngắn ngủi này được đăng không lâu, tòa soạn báo liên tục nhận được điện thoại gọi đến và không một ai ngoại lệ, tất cả đều là cựu binh chiến tranh Thế giới thứ hai và đều là những chiến binh già không may từng bị bắt làm tù binh. Một điều nữa càng khiến người ta không tưởng tượng được, là không một ai ngoại lệ, 12 cựu chiến binh gọi điện đến đều từng ở cùng nhau trong một trại tập trung của Đức – đó là trại tập trung mà Roddick đã ở. Những câu chuyện do chính 12 cựu quân nhân kể ra, dường như đều là bản sao của câu chuyện đã được đăng tải trên mặt báo: Họ đều được Roddick đặt xuống dưới gốc cây và nhờ đó mà thoát chết. Điều khiến người ta chú ý hơn là, mỗi lần Roddick lái xe ra khỏi trại tập trung, anh đều nói với các chiến hữu rằng: Nếu anh có thể sống, hãy quay lại thăm cái cây này. Người biên tập và giới thiệu bản thảo của bài viết là một cựu biên tập từng tham gia chiến tranh. Dựa vào trực giác nghề nghiệp, ông phán đoán một cách nhạy cảm, rằng cái cây mà Roddick nhiều lần nhắc đến, nhất định phải chứa đựng nội dung gì đó. Và ông lập tức tổ chức các cựu binh, hợp thành nhóm 13 người, men theo con đường năm xưa họ trốn chạy để tìm cái cây vốn không thể phán đoán liệu nó tồn tại hay không. Khi đoàn người đến được điểm đến, rừng núi vẫn như xưa, cái cây cổ thụ vẫn ở đó. Một cựu binh không kiềm chế được cảm xúc, chạy về phía trước ôm thân cây, khóc lớn. Trong một cái hộc ở gốc cây, người này phát hiện một cái hộp sắt đã hoen gỉ từ bao giờ. Khi mọi người xúm lại lấy và mở chiếc hộp ra, họ phát hiện một cuốn nhật ký nhiều trang đã loang lổ và trong đó là một tấm ảnh đã mốc theo thời gian. Nhẹ nhàng lật giở cuốn nhật ký, cựu biên tập viên bắt đầu đọc: Hôm nay mình lại cứu được một chiến hữu, đây đã là người thứ 28 rồi… cầu mong anh ta có thể sống được… Hôm nay, 20 chiến hữu của mình đã chết… Đêm qua, các chiến hữu lại một lần nữa mạnh tay với mình… Nhưng mình phải kiên quyết đến cùng, cho dù thế nào đi nữa mình cũng không được nói ra sự thật, như thế, mình mới có thể cứu được thêm nhiều người khác… Các chiến hữu thân yêu, tôi chỉ có một hy vọng, nếu các bạn còn sống, xin hãy quay lại thăm cái cây này. Giọng của vị cựu biên tập ứ nghẹn lại, những cựu binh khác đã rơi nước mắt tự khi nào không hay. Những mái đầu hoa râm đứng dưới tán cây cổ thụ, cho đến lúc đó mới hoàn toàn nhận thức thật rõ ràng, rằng Roddick đã cứu tất cả 36 tù binh của Anh Quốc. Hôm nay, những người còn sống trên đời, có lẽ không chỉ có 13 người đi tìm lại gốc cây năm xưa. Cuốn nhật ký và tấm ảnh liên quan đến trại tập trung được lưu lại ở hộc cây, đó là bằng chứng thép vạch trần tội ác của Đức quốc xã với thế giới, nó cũng là bằng chứng thép cho thấy Roddick không tồi tệ như các chiến hữu năm xưa đã đánh giá về anh. Roddick đã chấp nhận mọi đau khổ, thậm chí là chấp nhận cả cái chết dù anh biết mình đã bị hiểu lầm. Chia tay với các cựu binh, vị cựu biên tập nhanh chóng cho đăng tất cả những câu chuyện đủ hay, đủ sức lay động hàng triệu triệu trái tim trên khắp thế giới trên trang bìa của tờ báo mình đang cộng tác. Vì được báo chí đưa tin mà khung rừng già cùng gốc cây lưu lại dấu tích của Roddick kia bỗng trở nên náo nhiệt. Không ít người đã tự tìm đến đây, cúi đầu trước người chiến binh thực sự vĩ đại, thể hiện sự tôn kính của họ dành cho anh. Lẽ đương nhiên, Roddick trở thành anh hùng của nước Anh. Một tác gia đến thăm khu rừng này, bó một bó họa rừng không rõ tên đặt trước bia kỷ niệm mộc mạc và ngồi lại dưới gốc cây thật lâu. Về sau, ông ta lấy bút ra viết một đoạn cảm xúc ra cuốn sổ của mình. Ông cảm giác, mình có trách nhiệm phải nói với mọi người: ● Sự hoàn mỹ luôn cần có cái giá để đánh đổi, không có tinh thần trách nhiệm lớn lao, không có sự hy sinh bất khuất, không có một tinh thần thép, tuyệt đối không thể làm được! Khát vọng hoàn mỹ là quyền của mỗi con người. Có những lúc, sự hoàn mỹ đó vì bị môi trường thúc ép mà hình thức biểu hiện của nó trở nên khác với nguyện vọng ban đầu, vì thế mà tạo nên sự hiểu lầm, dẫn đến những ánh mắt thù địch. Điều này nhất định sẽ hình thành nên một loại áp lực xã hội vô cùng lớn. Thế nhưng người có thể vì sứ mệnh cao cả của sự hoàn mỹ, từ đầu đến cuối chấp nhận mọi oan ức, đau đớn, hiểu lầm… tên tuổi của anh ta sẽ trở thành một lá cờ luôn đương giương cao, cao mãi. Roddick là một người như thế. Và trên thế giới này, tôi kính phục nhất một kiểu người mà trong hoàn cảnh ác liệt và tồi tệ, họ thà chấp nhận gánh nặng trên vai và bước tiếp thay vì sống vô trách nhiệm, để mặc đời muốn trôi đến đâu thì đến! Diệp Anh Theo Trí Thức Trẻ
 

Vết Sẹo

E-mail Print

Mẹ ruột chúng tôi mất sau khi sinh em trai út của tôi. Chị Như, chị hai tôi, lúc đó mới lên mười. Tôi, đứa con gái thứ hai, lên tám ốm quặt quẹo. Sau nữa, thằng Thành, năm tuổi, tròn như củ khoai ngơ ngác đi tìm mẹ suốt ngày.

 

Sài Gòn Kỷ Niệm Tuổi Thơ

E-mail Print
Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi. Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc năm 1968, thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất. Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười rồi chia ly với Sài Gòn. Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blancy (Hai Bà Trưng), sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả: Hoa hường phết (phết là dấu phẩy). Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. Tôi viết: Qua tường phết. Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt. Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này: Sài Gòn vòi nước bùng binh Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên Trụ đèn, giây thép, tượng hình Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an Mặc dầu đường rộng thênh thang Ngựa xe đi lại luật hành phải thông Mặc dầu đường rộng mênh mông Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh… Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì. Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba, sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi. Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc. Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ. Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp. Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không có tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra. Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một cái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa. Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được. Bẻ cái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác. Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn, đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà. Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác. Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học của trường Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên. Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này. Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 xu bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho: Tiết Trực Tâm Hư). Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn! Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh. Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambreta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi. Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại. Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ. Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai, với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh. Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống. Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh. Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao một chốn để về. Tác giả không tên.
 

Mỗi Người Việt Là Một Nhạc Sĩ

E-mail Print
Mỗi người Việt là một thi sĩ, câu ấy ta vẫn nghe. Có đúng, nhưng mà chưa đủ. Người Việt bây giờ không chỉ thích làm thơ mà còn thích viết nhạc. Nói cách khác, người Việt không chỉ là thi sĩ mà còn là nhạc sĩ. Sáng tác nhạc, khó hay dễ? Nhạc sĩ ở đây được hiểu là nhạc sĩ sáng tác hơn là nhạc sĩ trình diễn, nghĩa là soạn nhạc hơn là chơi nhạc. Nhạc sĩ trình diễn cần sử dụng thuần thục ít nhất một hai nhạc cụ nào đó đủ để mê hoặc lòng người hoặc sinh sống bằng nghề đàn địch, cũng tựa ca sĩ với nghề hát xướng. Nhạc sĩ sáng tác thì không nhất thiết phải chơi đàn giỏi, chỉ cần am hiểu về nhạc lý căn bản, về kỹ thuật sáng tác bài nhạc và thêm cây đàn thùng guitar nữa là đủ mang đến cho đời những ca khúc chạm ít chạm nhiều trái tim người yêu nhạc. Ngày trước, trong những hoạt động về âm nhạc, số người sáng tác nhạc không nhiều lắm và người ta có thể dễ dàng kể tên các nhạc sĩ là tác giả các nhạc phẩm phổ biến. Còn ngày nay thì chịu vì… nhiều quá đếm không xuể, cả trong nước lẫn ngoài nước, cả những nhạc sĩ tên tuổi lẫn không tên. Trăm hoa đua nở làm tươi thắm khu vườn âm nhạc Việt. Tôi có anh bạn hát hay đàn giỏi. Hát mãi, đàn mãi cũng chán, anh bèn chuyển hướng sang sáng tác ca khúc như một thú chơi tao nhã và cũng để tìm nguồn cảm hứng mới. Sau một quá trình sáng tác được ít bài bản và được bạn bè khuyến khích, anh miệt mài trên con đường âm nhạc nghệ thuật đầy tính sáng tạo này. Có lần tôi được anh cho làm khán giả thưởng thức một bản tình ca, là sáng tác mới nhất của anh. “Anh thấy thế nào?” anh ta hỏi khi dứt tiếng đàn và thấy tôi trầm ngâm. “Anh muốn tôi trả lời cho anh vui hay là nói thật?” tôi hỏi lại. “Nói thật chứ,” anh ta khựng lại một chút, “chỗ bạn bè mà.” “Theo nhận xét của tôi thì bài này ‘ba không’,” tôi nói. “Không hay, không dở và không dễ hát.” Thấy anh lộ vẻ không vui, tôi phải lên dây cót tinh thần để không làm mất đi nguồn nhạc hứng trong anh. “Có một chỗ hơi cao, e khó cho người hát. Tôi tin là anh có thể làm cho hay hơn nữa.” Nói đúng hơn, ca khúc anh bạn tôi sáng tác phải là “bốn không”, vì có thêm một “không” nữa là không cho cảm xúc nào cả. Kể câu chuyện người bạn này để thưa rằng chẳng may phần lớn những bài nhạc sáng tác mà tôi được nghe bây giờ đều như vậy cả. Về lời nhạc, trong nước gọi là “ca từ”, thì chẳng có gì mới lạ, hầu hết chỉ lặp lại những ý, những câu, chữ từ những nhạc sĩ đi trước. Về giai điệu thì chỗ này nghe na ná bài nhạc này, chỗ kia nghe từa tựa bài nhạc kia và người nghe không mấy hứng thú khi được giới thiệu để làm quen với những ca khúc mới mà không mới ấy. Quả thực chưa bao giờ người Việt mình có nhiều nhạc sĩ sáng tác đến như thế, cho dù chỉ sáng tác được những ca khúc ngăn ngắn đủ để khoác danh xưng “nhạc sĩ”. Sáng tác nhạc xem ra cũng không khó hơn sáng tác thơ, nếu khó quá thì chẳng ai theo đuổi làm gì. Những ai tự tin mình có năng khiếu về sáng tác nhạc đều có cơ hội để học hỏi và thử sức, chỉ cần biết đàn, biết hát chút chút, cộng thêm chút kiến thức về nhạc lý. Hiện nay còn có nhiều trường lớp, trung tâm giảng dạy, hướng dẫn về sáng tác nhạc, gồm cả những lớp học cấp tốc, thậm chí không cần biết nhiều về nhạc lý, nhạc thuật lỉnh kỉnh. Đơn giản hơn, có thể tự học qua sách báo, qua online, qua những Youtube khá phổ biến. Sáng tác ca khúc được khuyến khích và lan rộng như một phong trào thời thượng, không chỉ ở trong giới ca, nhạc sĩ mà mọi đối tượng, mọi ngành nghề. Trong nước, ngoài nước người ta bắt đầu làm quen với những danh xưng là lạ như “nhà văn/nhạc sĩ”, “nhà thơ/nhạc sĩ”, “họa sĩ/nhạc sĩ”, “bác sĩ/nhạc sĩ”, “nha sĩ/nhạc sĩ”… nghe ngồ ngộ và khá hợp thời trang. (Đúng ra nên gọi “văn nhạc sĩ”, “thi nhạc sĩ”, “bác nhạc sĩ”, “nha nhạc sĩ”…, theo cách gọi “ca nhạc sĩ”). Tay cầm cọ, tay cầm đàn, hoặc tay cầm ống nghe, tay cầm đàn, có sao đâu! Hoạt động âm nhạc càng thêm khởi sắc, đời sống tinh thần của con người càng thêm phong phú và ý nghĩa. Một anh bạn nhạc sĩ nói với tôi là nghe qua một bài nhạc anh có thể biết được rằng người nhạc sĩ đã sử dụng nhạc cụ nào để sáng tác bài ấy. Tuy không hẳn lúc nào cũng đúng, phần lớn những bài nhạc thể điệu slow, slow rock, boléro người Việt mình yêu thích đều được sáng tác với cây đàn guitar. Do nhiều nhạc sĩ sáng tác ngày nay không cần đàn hay, nhạc giỏi, hầu hết những ca khúc dễ dãi với nhạc điệu, tiết tấu đơn giản cũng từ nhạc cụ phổ biến là cây đàn guitar mà ra. Thỉnh thoảng tôi vẫn được các nhạc sĩ cho nghe những sáng tác mới hoặc gửi cho các CD nhạc gồm những ca khúc mới sáng tác thực hiện từ những phòng thu âm hiện đại, hòa âm phối khí chuyên nghiệp với những giọng ca sĩ quen thuộc. Thường thì tôi nghe trong lúc lái xe và chọn ra những bài nào mình thích để nói cho nhạc sĩ biết. Tôi chắc người nhạc sĩ sáng tác nào cũng muốn nghe, muốn biết. Làm sao biết ca khúc mình sáng tác có được đón nhận và yêu thích? Dễ thôi, trong những cuộc họp mặt có hát hỏng đàn địch, những bài nào không được ai chọn để hát, để nghe là những bài không gây hứng thú cho người yêu nhạc. Nếu không ai chịu hát, chẳng ai chịu nghe thì cũng chả sao, nhạc sĩ vẫn nghêu ngao “hát cho tôi nghe” cùng với tiếng đàn guitar phừng phừng, như thế cũng đủ để yêu người yêu đời và thăng hoa cuộc sống. Phổ nhạc vào thơ, khó hay dễ? Không chỉ sáng tác ca khúc thôi, nhiều nhạc sĩ lại còn cao hứng phổ nhạc vào thơ nữa cho lời thơ tiếng nhạc dặt dìu. Nhạc quyện vào thơ, thơ quấn lấy nhạc, chưa bao giờ nhạc phổ thơ “được mùa” hơn lúc này. Người Việt vốn yêu thơ, yêu nhạc, vì vậy không thể nào chỉ sáng tác nhạc mà không phổ nhạc vào thơ. Phổ thơ là phổ thơ nào, phổ thơ ai? Đơn giản, cứ bài nào ta thích hoặc được nhiều người thích là ta phổ thôi (hoặc mình phổ… thơ mình cũng tốt và dễ tạo nguồn cảm hứng). Nhiều bài thơ hay phổ biến, nhiều thi sĩ tên tuổi được nhiều nhạc sĩ xúm vào phổ nhạc để mong có được bài nhạc phổ thơ hay. Tôi nhớ có một dạo nhiều nhạc sĩ xúm nhau phổ nhạc bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của một cô giáo nào ở trong nước. Lại còn có báo, đài trong, ngoài nước tổ chức cuộc thi phổ nhạc bài thơ ấy và trao giải thưởng Nhất, Nhì, Ba… Có đến mấy chục nhạc sĩ đua tài, tranh giải. Mỗi bài mỗi vẻ, bài nào nghe cũng… ngộ. Kết quả, theo Ban tổ chức cuộc thi, “Các bài hát dự thi chưa kịp trau chuốt, gọt giũa về ý và tứ, về nhịp và điệu, lại cũng vì cố gắng giữ nguyên vẹn các câu thơ nên nhiều từ có bị gượng ép ít nhiều về thanh âm,” và kết luận rằng “Bài thơ có rất nhiều lời khó đưa vào nhạc để tạo được giai điệu hay.” Sau cùng chẳng có bài phổ nhạc nào đến được với người yêu nhạc và người ta vẫn quay về với bài thơ được yêu thích. Bài thơ, là một thử thách khó vượt qua nổi cho những ai muốn phổ nhạc. Phổ nhạc, như thế không khó, bài thơ nào mà chẳng phổ nhạc được. Nếu có khó chỉ là phổ sao để nghe ra nhạc chứ không nghe ra thơ hoặc nửa nhạc nửa thơ, chưa nói là phổ sao để nghe được tình ý của bài thơ. Phổ một bài thơ lục bát chẳng hạn, cái khó là phổ thế nào để không thành bài… nhạc lục bát. Ít ai biết Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy là bài phổ nhạc vào thơ lục bát của Huyền Chi, vì không nghe lục bát chút nào. Trả lời câu hỏi “Phổ nhạc cho thơ lục bát thường khó thoát ra khỏi nhịp điệu sẵn có của thể thơ này, làm thế nào để vượt qua được cái khó ấy?” nhạc sĩ Phạm Duy cho biết: “Nếu phổ thơ mà cứ theo tiết tấu có sẵn của thơ lục bát thì vô duyên quá, phải sửa lại thôi. Mỗi bài tôi sửa theo một cách khác nhau và dùng ‘thủ pháp’ riêng để thổi vào đó một hơi thở mới. Ví dụ như bài Tiếng Sáo Thiên Thai mà tôi soạn vào năm 1952, khi phổ nhạc bài này tôi bắt thơ phải chạy theo nhạc, nghĩa là đặt quy tắc nhạc lên trên thơ. Những câu thơ của Thế Lữ không còn là lục bát nữa mà được sắp xếp lại để cho âm điệu thích hợp hơn.” Bài thơ như được lột xác để “hóa thân” thành bài nhạc hay. Nói cách khác, phổ nhạc bài thơ là mang đến cho bài thơ một đời sống khác. Nhiều bài thơ hay gần như không thể phổ nhạc để thành bài nhạc hay. “Thi trung hữu nhạc”, nhiều người vẫn nói vậy và cho là phổ thơ cũng dễ thôi vì trong thơ đã có sẵn nhạc. Thực sự, nhạc ngữ ở trong thơ và trong nhạc có khác nhau. Các bài thơ đầy khẩu khí như “Hồ trường” của Nguyễn Bá Trác, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, “Tây tiến” của Quang Dũng, “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính hay “Ta về” của Tô Thùy Yên… đều là những bài “thi trung hữu nhạc” cả, và “nhạc” ấy cũng réo rắt, cũng lên bổng xuống trầm, thế nhưng rất khó để mà chuyển thể bài thơ hay thành bài nhạc hay. Âm điệu bi tráng và giọng thơ đầy hào khí ấy là “nhạc thơ” và chỉ có ở trong thơ. Tôi có nghe qua những bài phổ nhạc này và thành thực mà nói, nghe bài thơ ấy qua những giọng đọc hay, giọng ngâm hay vẫn thích hơn và nhiều cảm xúc hơn là nghe bài phổ nhạc. Phạm Duy vẫn được xem là “chuyên trị” nhạc phổ thơ, nhưng không hẳn bài thơ nào vào tay ông cũng hóa thành bài nhạc phổ thơ hay mà chỉ vì ông là người nhạc sĩ có số lượng nhạc phổ thơ nhiều hơn hết trong số các nhạc sĩ cùng thời, và trong số ấy có nhiều bài hay. Có thể ví ông như cầu thủ xuất sắc “ghi bàn” nhiều nhất, tuy rằng vẫn có những… cú sút không thành công. Khi kể mẩu chuyện trên để những người bạn nhạc sĩ tôi vẫn quý mến hiểu cho rằng, nếu tôi có nhận xét là bài nhạc phổ thơ của bạn “không cho được cảm xúc nào cả” thì xin… đừng buồn, vì phổ nhạc một bài thơ không thành công là chuyện thường, chỉ khi nào phổ thành công mới là… tài. Nếu phổ nhạc vào thơ mà dễ ăn thì bao nhiêu nhạc sĩ chả cần phải sáng tác làm gì, cứ chọn bài thơ nào hay hay mà phổ nhạc cho… khỏe và tiện. Nói chung, một bài nhạc sáng tác hoặc phổ thơ không hay là bài nhạc mà người nghe không thấy hứng thú, người hát ít ai chịu hát, tất nhiên ngoài tác giả và những ca sĩ mà tác giả có lời yêu cầu. *** Mỗi người Việt là một nhạc sĩ, rồi sao nữa? Người ta vẫn chờ đợi ở những nhạc sĩ này những sáng tác có hồn có lửa, có những tình tự dân tộc đưa con người lại gần với nhau hơn là những tình khúc, tình ca bốn mùa trong những buổi trình diễn văn nghệ vui chơi hay trong những CD làm quà tặng bạn bè. Thỉnh thoảng vẫn có những ca khúc đấu tranh được yêu thích, nhưng lại không dễ hát và khó nhớ, thường chỉ dành cho ca sĩ hoặc trình diễn trên sân khấu nhiều hơn là “hát với nhau”. Quần chúng, vì thế cứ mạnh ai nấy hát, tùy tiện, và cứ phải hát đi hát lại mãi những bài hát xưa cũ, những bài hát không còn tính thời sự, không tạo được hưng phấn để nâng dậy tâm hồn người. Những trăn trở của người bạn không phải là không có lý, thế nhưng tôi vẫn cứ lạc quan. Nhất định phải có, thế nào cũng phải có thôi. Bao nhiêu là nhạc sĩ sáng tác, bao nhiêu là nghệ sĩ với cây đàn. Mỗi người Việt là một nhạc sĩ mà, lo gì. Tạp ghi tháng chín, hai ngàn mười chín. Sưu Tầm
 
Page 3 of 46
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account