CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Truyện Ngắn Tuyển Tập Văn Học "Vườn Xuân"- Giới Thiệu Bài Viết của Tác giả Lê Xuân Nhuận và Cao Minh Hưng

Tuyển Tập Văn Học "Vườn Xuân"- Giới Thiệu Bài Viết của Tác giả Lê Xuân Nhuận và Cao Minh Hưng

E-mail Print
User Rating: / 0
PoorBest 

Trong thế giới văn học, văn chương có nhiều thể loại, nhưng những thể loại nào dựa vào sự thật hay chuyện thật của đời thường, thông thường mang một thông điệp quý hóa, có giá trị về kinh nghiệm thật về đời sống cho các thư khố văn học, như khi ghi nhận một giai đoạn nào đó của con người, dù do chiến tranh hay hòa bình, nó có giá trị vì không do sự nhào nặn từ óc tưởng tượng ngụy tạo bởi yếu tố hư cấu.

Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ với phân bộ Văn Chương đã hình thành tác phẩm văn học đầu tay do các thân hữu hội viên góp bài ấn hành thành sách mà trong mục lục có nhiều tác phẩm mang nhiều chủ đề đa dạng và là nguồn vui  thú vị cho vài trống canh.

Hôm nay tôi xin trích dẫn hai bài viết từ chuyện thật mà hai tác giả ghi nhận do lại từ "the true fact" trong thời chiến trước 1975 qua tác phẩm "Bụi Đất và Hư Vô", khi mà chiến cuộc và phong trào phản chiến dấy lên tại Hoa Kỳ đã giết niềm hy vọng của một anh GI cho xứ VNCH sống trong thanh bình như quê vợ của người sĩ quan quân lực Hoa Kỳ này để rồi anh thất vọng tuyệt mạng, và tác phẩm "Con Búp Bê" của tác giả Cao Minh Hưng ghi nhận "the true fact" về chuyện thương tâm xã hội tại Việt Nam sau năm oan nghiệt 1975, dù rằng xứ sở được tiếng xum hợp thống nhất.

Cả hai tác phẩm mang đầy tính chất triết lý nhân bản về tình yêu đôi lứa vượt qua khỏi lằn ranh chủng tộc, màu da, và kết cuộc bao hàm sự thủy chung tuyệt đối của đôi tình nhân ở chuyện "Bụi Đất và Hư Vô", còn tính triết lý của "Con Búp Bê"cho thấy tình thương và sự chia sẻ ngọt bùi của những em bé mồ côi thương mến sẵn sàng san sẻ niềm vui với nhau, trong một xã hội hậu chiến tranh khi mà nhà cầm quyền Cộng sản với những tay lãnh tụ đam mê tính chất hữu sản hay tham vọng tạo dựng thặng dư tài sản do nhủng lạm và do bạo lực, nhưng vô tâm, vô luân thường, vô lương tri, vô học thức, vô văn hóa và "vô cảm" với người dân. Một tác phẩm văn chương hay có thể chỉ nêu ra sự vỗ nhẹ nhàng lên những ác tính của con người, của xã hội bất công, chế độ bệ rạc và tụt hậu dù rằng tác giả khéo léo qua ý văn bóng bẩy về nạn mồ côi mà tác giả không cần đào sâu vào phạm trù chính trị, vấn nạn trẻ mồ côi của xã hội bộc phát mạnh mẽ khi nước nhà thống nhất là do nhân tai, không do thiên tai.

Xin mời quý ông bà và anh chị em hãy tìm đọc tác phẩm Tuyển tập Văn học Nghệ thuật Vườn Xuân do phân bộ Văn Chương của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ ấn hành.

Việt Hải Los Angeles

 ----------------------------------------------------- 
 
BỤI ĐẤT VÀ HƯ VÔ 
 
---Lê Xuân Nhuận----
 
Trưa ngày 25 tháng 12 năm 1974, tôi đang cùng với bạn bè dự một bữa ăn nhân dịp Nô-En tại nhà của một thuộc viên thì được Sĩ Quan Trực từ Phòng Tình Hình gọi máy đến báo cáo một tin tức khác thường.
   Vào khoảng 11g30 vừa rồi, có một chiếc trực thăng đáp xuống cạnh Trường Tiểu Học Xã Lộc Mỹ, thuộc Quận Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam. Từ trên phi cơ bước xuống một thiếu tướng và một trung tá Việt Nam Cộng Hòa, cùng với một người đàn ông và một người đàn bà Hoa Kỳ.
Người đàn ông có mang theo một cái hộp trên tay.  Viên trung tá vào trường, dẫn bác Cai Trường ra, giới thiệu với mấy người kia; rồi bác Cai Trường vào trong mang ra một cái xẻng, theo sự chỉ dẫn của hai người Mỹ, đào một cái lỗ, ngay giữa hàng rào phân chia khoảng sân bên hông trường ấy với con đường hương lộ bên ngoài, chôn xuống đó cái hộp của người đàn ông Hoa Kỳ, lấp đất lại, rồi xóa sạch dấu đất mới, để chỗ đó trông giống bình thường như không có việc gì xảy ra. Xong, bốn người kia trở lên trực thăng bay đi, và bác Cai Trường vào trường.
Mọi việc xảy ra mau lẹ như đã được sắp đặt từ trước rồi.
Lúc chôn cái hộp là vào khoảng 12 giờ trưa.
 
Tôi đoán là có cái gì bí mật, mà nhà chức trách địa phương giấu kín, hoặc không biết rõ nên Thiếu Tá Lâm Minh Sơn, Chánh Sở Đặc Cảnh Tỉnh Quảng Nam, chỉ báo cáo đơn giản thế thôi. Cho nên, do tò mò nghề nghiệp, tôi về nhà sớm và bắt tay vào việc ngay.
Sau khi gọi điện thoại hỏi Trung Tâm Hành Quân thuộc Sư Đoàn I Không Quân và Văn Phòng Bộ Tư Lệnh Quân Khu I, tôi tổ chức một chuyến đi quan sát tại chỗ, đồng thời tiếp xúc với các mật viên quanh vùng, để biết thêm chi tiết về vụ này.
*
Bác Nam thanh minh:
‒ Tôi cứ tưởng là chỉ cần báo cáo những gì liên can đến cộng sản mà thôi, còn đây là vấn đề tình cảm cá nhân mà các người trong cuộc đã yêu cầu tôi giữ kín giùm.
Thiếu tá Sơn đỡ lời tôi:
‒ Không ai trách móc bác đâu. Bác hãy kể chuyện về người Mỹ tên Sam đi.
Bác Nam kể:
‒ Đầu năm 1971, Toán Dân Sự Vụ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ hoạt động tại Quận Đại Lộc thay đổi cấp chỉ huy.
Người mới đến là Đại Úy Sam, một thanh niên đẹp trai, hiền lành, nhã nhặn, bình dân. Anh rất lanh lợi và có nhiều sáng kiến hay.
Công tác nổi bật đầu tiên là anh thành lập một Hội Việt Mỹ cho Quận Đại Lộc. Anh chịu khó đi thuyết phục để mời vào Hội không những chỉ các viên chức chính quyền như Quận Trưởng, Phó Quận Trưởng, Chỉ Huy Cảnh Lực, Trưởng Chi Thông Tin, Trưởng Phòng Văn Hóa Giáo Dục, Hiệu Trưởng Trường Trung Học, các sĩ quan thuộc Chi Khu, Xã Trưởng, giáo sư, phụ huynh học sinh, học sinh trunghọc, v.v... như thường lệ, mà anh còn mời cả các thương gia, nông dân, tài xa, tài công, lâm dân, ngư dân, v.v... cùng với một số tu sĩ PhậtGiáo trong vùng.
 
Với Hội Việt Mỹ của Sam, sinh hoạt ở đây sinh động hẳn lên. Hội viên gồm mọi tầng lớp xã hội. Sách  báo từ phía Hoa Kỳ phân phát, phổ cập hầu như đến từng gia đình. Hoạt động không chỉ thu gọn trong các kỳ họp, mà còn thể hiện qua bất cứ cơ hội nào có người Mỹ xuất hiện trong làng xóm ViệtNam.
Sam đề nghị, và được phía Việt Nam đồng ý, dùng phòng học của Lớp Năm trường này làm nơi trao đổi văn hóa, dạy tiếng Anh vào buổi tối, vì nơi đây thuận tiện cho sự đi lại của mọi người.
Phòng này nằm ở đầu dãy, bên hông có một cửa sổ nhìn ra hàng rào che khuất tầm mắt của người qua đường.  Phía bên kia đường, các ông thấy đấy, có một cây đa cành lá sum suê, rễ ở gốc cây cao hơn mặt đất, người nào vóc cao mà đứng lên trên đám rễ, tựa vào gốc cây nhìn vào cửa sổ thì trông thấy mặt cô giáo rõ ràng.
 
Giáo viên Lớp Năm là cô Diệu Hương, hoa khôi toàn Quận, năm ấy vào khoảng hai mươi, dịu dàng, lễ phép, đứng đắn, siêng năng.
Phòng học Lớp Năm trước kia là nơi cô đến soạn bài, chấm bài cho học sinh, và tự học thêm chương trình đại học vào các ngày nghỉ và mỗi buổi tối, thì nay còn là nơi cô đến làm công việc của Hội với tư cách thư ký, học tiếng Anh, dạy tiếng Việt và giới thiệu phong tục tập quán của người Việt với ngưới Mỹ, giúp chiếu phim, điều khiển máy ghi âm, v.v...
Cha mẹ cô thuộc giới trung nông, sùng Đạo Phật và chịu ảnhhưởng Đạo Nho.
Sự giao tiếp giữa cô với Sam, trong khung cảnh chung của sự tiếp xúc giữa hai bên Việt Mỹ, có bắt tay, có vỗ vai, nhất là giữa đàn bà con gái Việt Nam với đàn ông Hoa Kỳ, bề ngoài là chuyện tự nhiên, nhưng cha mẹ cô rất lo, nên đã nhờ tôi theo dõi, ngăn ngừa giùm, sợ đi quá xa.
Tôi là liên lạc viên của Hội, vừa sắp dọn rồi cất dẹp mọi thứ trước và sau mỗi buổi, vừa tham dự học tiếng Anh và dạy tiếng Anh, nên tôi có mặt hầu hết mọi lần Sam và Diệu Hương gặp nhau. Và tôi đã thấy ngay một mối tình trai gái chớm nở giữa hai người, ngày càng sâu nặng hơn.
 
Quả thật là tôi đã có đồng lõa với hai người.
Thứ nhất là vì tôi thấy Đại Úy Sam thật tình yêu Diệu Hương, muốn xây dựng lâu dài. Anh đi lễ chùa vào rằm, mồng một âm lịch, tìm hiểu Đạo Phật, học hỏi phong tục tập quán Việt Nam. Anh biếu quà và tham gia mọi cuộc vui với trẻ em vào các dịp cuối tuần, nghỉ hè, Trung Thu. Anh đưa Y Tế Mỹ đi săn sóc từng cụ già, cứu trợ từng nạn nhân bị Việt Cộng pháo kích, giật mìn. Anh giúp lợp nhà, sửa đường, đào mương, tích cực hơn cả cán bộ của mình. Dân chúng nhờ anh rất nhiều.
Mà điều quan trọng là anh trân trọng người yêu, không hề sỗ sàng bậy bạ như đa số người Mỹ khác. Sam nói riêng với tôi là anh sẽ xin chính thức cưới Diệu Hương.  Tôi biết là có nhiều cô gái Việt Nam lấy chồng Mỹ đường hoàng, nên tôi yên tâm.
Thứ nữa là vì tôi nghĩ: nếu cho cha mẹ cô biết thì chắc ông bà sẽ cấm hẳn cô tới lui với Hội Việt Mỹ; mà không có cô thì Hội tất nhiên sẽ tan, vì anh sẽ dời Hội đi nơi khác, tôi mất việc làm với đồng lương cao và tiền lời bán đồ giải khát, bánh, kẹo, cháo, chè mỗi đêm.
Mãi đến hôm nay, giữ đúng lời hứa với hai người trong cuộc, tôi vẫn chưa kể cho cha mẹ cô biết về mối tình giữa hai người.
Huống chi đại úy Sam thì đã về nước từ sau Nô-En năm ấy, và cô Diệu Hương thì cũng đã bỏ đi đâu biệt tích từ sau Nô-En năm ngoái, 1973.
 
‒ Từ khi Sam rời Việt Nam, đến khi Diệu Hương đi biệt, là hai năm trời, hai người có còn liên lạc với nhau hay không?  Đời sống tình cảm của cô thế nào?
‒ Anh vẫn gửi thư đều đặn cho cô, qua tôi; tôi đều chuyển lại tận tay; nhưng cô nói là cô không trả lời. Tôi không được biết trong thư anh nói những gì.
Có nhiều thanh niên Việt Nam cũng như vài ba người Mỹ có vẻ săn đón cô hơn, nhưng cô đối xử với họ bề ngoài tự nhiên như đối với Sam trước kia, chứ không có gì khác hơn.
Cuối năm 1972 thì cô đổi về dạy ở Tam Kỳ, thuộc Tỉnh Quảng Tín; cuối tuần về nhà thường ghé thăm tôi.
Tôi hiểu là cô rất buồn, ít nói hơn, da xanh hơn.
 
                                          
 
Đây là bức thư của cô đã viết cho Sam vào dịp Nô-En năm ngoái. Cô đã dặn tôi: nếu đến hết ngày Nô-En năm nay, tức là 12 giờ khuya hôm nay, mà Sam vẫn không trở lại gặp tôi, thì xin tôi hãy giải giùm lời thề, bằng cách đốt nó ở gốc cây đa, là nơi anh đã đứng đó nhiều lần hướng về cửa sổ say-đắm nhìn vào... .
*
Lộc-Mỹ, ngày 25/12/1973
 
Anh Sam yêu-dấu,
 
Đây là bức thư đầu tiên mà cũng là bức thư cuối cùng em gửi anh, người đàn ông đầu tiên mà cũng là người  đàn ông cuối cùng trong đời em. Nội dung chỉ là EM YÊU ANH. Nhưng vấn đề không chỉ đơn giản như ba tiếng “em yêu anh”.
Anh là người Mỹ học thức, giàu có, mạnh khỏe, trẻ trung, can đảm, cần cù, nhân ái, vị tha, hào phòng, tự do.
Những quân nhân như anh, ngoài các cuộc hành quân còn dành thêm tâm trí, công sức và thì giờ để làm công tác xã hội giúp ích cho người xung quanh, thật là hiếm hoi. Trong cương vị của anh, anh xứng đáng tiêu biểu cho một dân tộc hung cường, nghĩa hiệp, vượt vạn dặm trùng dương đến đây hy sinh xương máu để bảo vệ, kiến thiết, và phát triển Việt Nam nghèo yếu khổ nạn quê hương em.
Anh là một thanh niên lịchthiệp, nói theo các bạn em là “con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai”, yêu đời, yêu người, biết kính già quý trẻ, biết tôn trọng những giá trị tinh thần, nhất là tôn trọng người mình yêu.
Anh đã cho em biết thế nào là mãnh lực ái tình, thế nào là tình yêu không phân chia chủng tộc, màu da.
Anh vừa lãng mạn phác họa một cảnh gia đình hạnh phúc tràn trề, vừa thực tế dự trù sau khi xuất ngũ sẽ tiếp tục học lấy bằng M.A., lấy bằng Ph.D., dọn đường cho sự nghiệp tương lai. Anh đặt kế hoạch cho tiền đồ của cả hai chúng mình. “Anh đã cho em Niềm Tin trong Tình Yêu”...
Nhưng vì cha mẹ em không chấp nhận việc một người con gái Việt Nam lấy chồng người nước ngoài (em biết điều đó qua nhiều lần ông bà phê bình người khác trước mặt em, và qua lời ông bà nói với bác Nam mà bác ấy kể lại với em), nên em đành phải giấu giếm mọi người, trừ bác Nam mà em đã thú thật sau này.
Yêu nhau mà phải lén lút, còn gì bực bội và xấu hổ bằng!
Hy-vọng duy nhất của em là chờ đến ngày em hai mươi mốt tuổi, là tuổi hợp pháp tự mình quyết định hôn nhân của mình; nhưng không phải là để tự do làm giấy hôn thú với anh, mà là để dễ thuyết phục song thân em chấp nhận mối tình của chúng mình, vì em không thể làm một đứa con bất hiếu ‒ bất-hiếu vì làm trái ý cha mẹ, bất hiếu vì làm cha mẹ mất mặt với mọi người.
Nhưng, nếu ông bà vẫn không đồng ý thì sao? Đó là điều mà em không dám giải đáp, vì chỉ nghĩ đến là em đã thấy sợ rồi.
Đùng một cái, anh được lệnh hồi hương. Một việc bình thường mà thời gian qua đắm chìm trong tình yêu em không nghĩ đến. Hết hạn tùng quân thì phải về thôi!
 
Tuy thế, có lý nào chấm dứt mọi sự ngang đây sao anh?
Nhưng anh đã trấn an em. Anh hứa là sẽ tìm đủ mọi cách trở lại Việt Nam, dù với tư cách quân nhân hay nhân viên dân chính, thường dân.
 
Qua năm 1972 thì Hội Việt Mỹ dời đi nơi khác.
Em sống xa anh, lại không còn gần những cảnh sinh hoạt thân quen do anh tạo nên và vẫn mang đậm dấu ấn của anh, nên em cảm thấy cuộc sống trống vắng, lạt lẽo vô cùng, dù anh vẫn gửi thư về đều đều; nên qua Nô-En thì em đã xin thuyên chuyển về dạy ở Tam-Kỳ.
Em về Tam Kỳ để gần căn cứ Chu Lai, để được thấy các bạn anh nhiều hơn, để đỡ nhớ anh hơn, và để càng nhớ anh hơn.
 
Anh yêu!  Cuộc đời không chiều lòng người. Nô-En 1972 anh chưa trở lại được, nhưng vẫn còn nhiều hy vọng, vì chiến tranh vẫn còn. Nô-En 1973 anh không trở lại được, thì đâu còn hy vọng, vì chiến tranh không còn. Phải chăng hy vọng chỉ còn, tình yêu của chúng ta chỉ còn, khi vẫn còn chiến tranh, cuộc chiến khốc liệt mà chúng mình muốn sớm kết thúc? Nhưng, kết thúc như thế nào, có phải là trong chia lìa, mất mát, đổ vỡ, đau thương không anh?
 
Nô-En năm nay em có một quyết định mới. Em bỏ gia đình, em bỏ việc làm, em thử... tìm về Hư Vô, một cõi sắc không không sắc ‒ như anh đã có nghiên cứu và nói là đã lãnh hội được rồi ‒ vì cuộc đời quả là bể khổ, oái oăm phi lý quá, phải không anh? Cha mẹ em ép buộc em phải kết hôn với một người mà em không yêu. Thế là em đã có lý do để thoát ly gia đình mà không làm cho ai đổ lỗi cho anh.
 
Thời hạn ba năm của lời thề xưa vẫn còn. Anh còn một năm để giải lời thề trước cây đa làng cũ. Anh còn một năm để thử thách lòng anh. Em đã cố tình không viết một dòng chữ nào cho anh từ hai năm qua, trừ lời nhắn miệng với các người bạn mà anh nhờ gặp, rằng em trọn đời yêu anh và sẽ trung thành với anh, cốt để giúp anh trắc nghiệm tình anh. Nếu anh trở lại được, thì anh đi tìm em được; Tình Yêu sẽ hướng dẫn anh. Nếu anh không tìm ra em, mà anh vẫn muốn tìm em, thì đêm Nô-En 1974 em sẽ chờ anh ở Nhà Thờ năm xưa; chậm lắm là vào 12 giờ khuya ngày 25, phút cuối cùng của thời gian thử thách, em sẽ chờ anh ở gốc cây đa.
Ở gốc cây đa đó, em đã đón nhận nụ hôn đầu tiên của người khác phái, em đã trao anh nụ hôn đầu tiên của người con gái, là lần đầu tiên em ngây ngất mê ly, là lần đầu tiên em sẵn sàng chết đi trong vòng tay siết chặt của người yêu. Ôi, nụ hôn ngọt ngào như lời thề nguyền buổi sáng mùa xuân cuộc đời, mà cũng là nụ hôn đắng cay mùi vị chia ly chúng mình dành cho nhau trước ngày anh xa em.
Anh không sợ ma, em không sợ ma, nhưng hầu hết những người dân làng ở đây đều sợ ma. Nhờ họ sợ ma nên họ để yên cho chúng mình gặp nhau giữa khuya bên gốc cây đa nhiều đêm. Những lần ấy, anh có biết đâu, em lo sợ vô cùng: không phải là sợ có người biết được mối tình mà chúng mình giữ kín, mà là sợ Việt Cộng tìm cách ám hại anh, vì chúng đã hơn một lần muốn nhờ tay em...
 
Bây giờ thì anh đã hiểu rồi đấy. Nụ hôn biểu hiện lời thề. Đời em chỉ hôn một người; người đó, trên đạo lý, đã là chồng em.
Em còn nhớ mấy câu Kinh Thánh mà anh đã giảng cho em: “Không được thề dối!” và “Không được phạm tội ngoại tình!”; và: “Hễ ai ly dị vợ mà không phải vì cớ vợ mình gian dâm thì tức là khiến cho nàng ngoại tình!”  (Matthew 5:33, 27, 32)...
 
Em không ngoại tình, em không gian dâm; em chỉ yêu một mình anh. Nếu không có anh thì em sẽ là hư vô, vì đời trở nên hư vô.
Đây cũng là một cuộc thử thách tối trọng và tối hậu về phần em: do nơi anh, và do lời hẹn của anh, em sẽ trở về sống với hạnh phúc trần gian, hay sẽ tiếp tục và vĩnh viễn trở thành sắc không...
 
    D.H.
*
‒ Và đây là mười hai bức thư của anh; Diệu Hương không ghé lấy từ mười hai tháng nay...
 
Trời đã xế chiều. Tôi tranh thủ mở đọc bức thư mới nhất của người thanh niên đã từng một thời là Đại Úy Sam:
                                            New York, December 1974
 
Diệu Hương, người yêu duy nhất của anh:
 
Cả ba năm nay em không viết thư cho anh. Anh chấp nhận, vì đó là ý muốn của em mà em đã nói cho anh biết trước rồi; nhưng trong thâm tâm anh bao giờ cũng mong ước và ngóng chờ thư em.
Vậy mà giờ đây thì anh không còn trông đợi thư em nữa, em biết vì sao không?
 
Ngay khi gặp em là anh yêu em. Đồng thời, sau khi đã ở Việt Nam rồi, đã hiểu Việt Nam rồi, là anh yêu luôn Đất Nước và đồng bào em.
Anh về Hoa Kỳ không phải chỉ để vận động trở lại Việt Nam với em mà thôi, mà là còn để nói lên tiếng nói của lương tri, chống lại phong trào phản chiến, kêu gọi tinh thần khử bạo phù nguy vốn là truyền thống cao đẹp của dân tộc Hoa Kỳ.
 
Thế nhưng kết quả ngược lại.
Ma quỷ đang hồi cực mạnh; người ta không nghe tiếng nói thống thiết của những con người chính trực như anh, thậm chí bác đơn thỉnh cầu của anh xin được một lần trở lại Việt Nam.
Và bây giờ thì nước Mỹ đã bỏ cuộc rồi.
 
Anh còn mặt mũi nào sống trên đời này mà làm người thua cuộc, hả em? nhất là trong cuộc tình của chúng mình mà hạn chót của lời thề đã đến rồi.
 
Trong quá khứ, nước Mỹ đã từng cứu Pháp, giúp Đức, tiếp trợ Âu-Tây, nâng Nhật Bản, vớt Đại Hàn, che chở Á Đông.
Trong tương lai, nước Mỹ chắc chắn sẽ còn hành hiệp cái thế độ nhân.
Nhất định mọi người sẽ phải xét lại thái độ yếu hèn của ngày hôm nay.
 
Riêng đối với em, anh đã giữ tròn danh tiết cho em.
Trong đêm cuối cùng, bên gốc cây đa, em đã lịm người trong vòng tay anh, phó mặc hoàn toàn cho anh.  Nhưng anh kính trọng tinh thần văn hóa Đông Phương...
 
Anh sẽ không để cho ai biết gì về mối tình vô vọng của chúng mình.
“Khối tình mang xuống tuyền đài khôn tan...”
Nếu còn có thoáng chốc nào em nhớ đến anh, thì xin em hãy tin rằng, đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình, anh vẫn chỉ biết một lòng yêu em.
Tình Yêu ấy là sinh khí cho hình hài này, vốn là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất mà thôi.
 
Xin cho linh hồn anh được thanh thoát, làm một Romeo, một Trương Chi...
                                                                               SAM            *
Sơn, Chánh Sở Đặc Cảnh Tỉnh sở tại, nãy giờ ghé mắt cùng đọc theo tôi, phát biểu:
 
‒ Như thế là cô Diệu Hương đã tái xuất hiện ở Nhà Thờ đêm qua, và sẽ có mặt ở gốc cây đa đêm nay...
 
Tôi nghĩ: “Đoạn cuối câu chuyện không thuộc nhiệm vụ của mình. Mình chỉ tìm biết xem cô là ai, lâu nay làm gì, ở đâu; thế thôi”.
 
Tôi bắt tay từ giã Sơn:
‒ Tất cả thư từ, và những việc gì xảy ra đêm nay, về sau, hoàn toàn để tùy bác Nam giải quyết. Bây giờ thì tôi phải về; còn nhờ anh Hòa trong Quảng Ngãi, anh Song trong Quảng Tín, và anh Đảm ngoài Thừa Thiên, dĩ nhiên là cả anh ở Quảng Nam nữa, tìm xem cô đang tu ở chùa nào...
*
 
     Đà Nẵng, ngày 25 tháng 12 năm 1974
 
                         PHIẾU TRÌNH
 
Kính trình...
   tại SÀI GÒN
Tiếp theo công điện...
Kính xác nhận điện trình sơ khởi về việc...
 
Văn Phòng Tư Lệnh Phó Quân Khu I đã xác nhận với chúng tôi rằng chính Thiếu Tướng Tư Lệnh Phó Hoàng Văn Lạc, thừa lệnh Trung Tướng Tư Lệnh Ngô Quang Trưởng, đã dùng trực thăng đưa hai người Mỹ liên hệ đến Xã Lộc Mỹ trưa ngày hôm nay, 25-12-1974. Trung tá Quận Trưởng sở tại dẫn đường.
Hai người Mỹ ấy là đại diện của một Văn Phòng Thừa Phát Lại Mỹ, thi hành di chúc của một người tên Sam.
 
Theo di chúc của Ông Sam thì sau khi ông tự tử chết đi, thi hài được thiêu thành tro, đem đến chôn ở hàng rào của trường tiểu học Xã Lộc Mỹ, thuộc Quận Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, ngay hướng mắt nhìn từ gốc cây đa vào khung cửa sổ Lớp Năm, giữa ngày Nô-En năm nay...
 
Chúng tôi đã đến tận nơi tìm hiểu, được biết:
Nguyên...
*
Tôi đang đọc lại bản lưu Phiếu Trình nói trên thì Sĩ- Quan Trực Phòng Tình Hình báo cáo rằng các Chánh Sở Đặc Cảnh các Tỉnh đã có mặt sẵn, đang chờ lệnh tôi trên máy điện đàm.
 
Thiếu tá Thái Văn Hòa của Tỉnh Quảng Ngãi được tôi hỏi trước, trả lời:
‒ Ở Tỉnh Quảng Ngãi có chùa Thiên Ấn và nhiều chùa khác, nhưng không có ni cô nào giống với đối tượng cần tìm...
Thiếu tá Đặng Văn Song, Chánh Sở của Tỉnh Quảng Tín, báo cáo là chưa tìm ra.

Chánh Sở Trương Công Đảm của Tỉnh Thừa Thiên liền xin xác nhận:
‒ Ngoài này chúng tôi đã tìm ra được cô rồi.

Cô ở ngay Chùa Sư Nữ nổi tiếng của Miền Trung. Tại đây, cô giấu lý lịch; ngoại trừ Sư Bà trụ trì, còn với người khác thì cô xưng một tên khác, nhưng thường chỉ dùng pháp danh mà thôi. Cô không bao giờ tiếp xúc với người ngoài chùa. Trước đây đã có nhiều người từ trong Đại Lộc ra tìm, nhiều lần mà không gặp được. Riêng ngày hôm qua, cô đã xin phép đi vào Quảng Nam thăm nhà...
 
Tôi cám ơn các anh, rồi hỏi Thiếu Tá Lâm Minh Sơn của Tỉnh Quảng Nam tình hình đêm qua thế nào.
 
Sơn đáp:
‒ Đêm qua, chúng tôi không thấy Diệu Hương đến gốc cây đa. Có lẽ cô đã nấp kín, cũng gần đâu đó mà thôi.  Nhưng không thấy Sam xuất hiện thì cô đến đó làm gì!
Còn bác Nam thì, sau khi đốt xong bức thư của cô ở gốc cây đa, đã chôn luôn các bức thư của Sam vào chỗ đã chôn cái hộp mới được đưa đến từ nửa vòng trái đất bên kia...
 
Lê Xuân Nhuận     
  
 ----------------------------------------------------------------------------------------------------
 
Con Búp Bê 
 
---Cao Minh Hưng---
 
Tuy mới tròn năm tuổi, bé Sandy cũng biết háo hức chờ cho đến khi xong buổi tiệc sinh nhật của mình . Khi người khách cuối cùng vừa rời khỏi nhà, Sandy chạy vội đến bên đống quà mừng để mở. Tôi ngồi xuống bên cạnh bé để thu nhặt những mảnh giấy gói quà vứt bừa bộn xung quanh. Khi được món quà gì mình thích, Sandy hớn hở khoe:
"Daddy! Look what I got!" 

Rồi bé vui mừng nở nụ cười thật xinh khoe những chiếc răng bé xíu. Trong tia nắng yếu ớt chiều mùa Thu xuyên qua khung cửa sổ, tôi chợt trông thấy một con búp bê thật xinh của ai đó tặng cho bé Sandy bị bé hững hờ vất sang một bên. Bé Sandy có lẽ đang thích thú với những món đồ chơi điện tử mà bé vừa được tặng hơn là con búp bê này. Tôi thầm nghĩ chỉ vài ngày nữa thôi, đống đồ chơi mới này rồi cũng bị vứt vào một xó xỉnh nào đó trong căn phòng tràn ngập những thứ đồ chơi trước. Như bao nhiêu trẻ em khác lớn lên ở nước Mỹ với đầy đủ mọi thứ tiện nghi vật chất, bé Sandy được cũng được lo lắng, chiều chuộng  đủ thứ nên bé dễ dàng nhàm chán với những gì mình có.
Cầm con búp bê trên tay, tôi chợt nhớ đến bé Ly, một cô bé thật đáng thương trong trại mồ côi mà tôi có dịp được tâm sự  trong một lần viếng thăm trại mấy năm về trước.
. . .
Xuân năm đó, bé Ly vừa lên 6 tuổi. Nó còn nhớ mang máng trước lúc ba má nó dắt tay nó trao cho dì Tâm, nó đã òa khóc và cứ bám chặt lấy tay mẹ. Má Ly vừa lau nước mắt cho nó vừa dỗ dành:

"Nín đi con. Má hứa sau chuyến đi buôn này về, má sẽ mua một con búp bê để làm quà Tết cho con."

Đó cũng là lần cuối Ly được má nó ôm vào lòng. Chuyến đi buôn hàng trên chiếc xe đò định mệnh đã cướp đi cuộc đời của ba má nó. Một bác qua đường trong khi cố giúp lôi những người hành khách còn sống sót dưới gầm chiếc xe bị lật đã nhìn thấy người đàn bà bị chiếc xe đè lên người đang thoi thóp thở, tuy tay vẫn còn ôm chặt một con búp bê với lời trăn trối:

“...Nhờ bác… trao lại cho con gái tôi...".

Con búp bê với mái tóc vàng hoe và đôi mắt tròn xoe đã trở thành món đồ chơi mà bé Ly luôn mang theo bên mình. Nó còn quá nhỏ để thấu hiểu nỗi đau mất mẹ lẫn cha. Những lúc nhớ má, Ly thường hỏi dì Tâm, người em gái duy nhất của má nó tại sao má nó đi buôn lâu quá mà không thấy về. Dì Tâm vuốt nhẹ mái tóc cho nó, rồi cất giọng an ủi:

“Con ráng ăn ngoan, ngủ giỏi rồi má con về..."

Hết ngày này qua ngày khác, chiều nào bé Ly cũng ẵm con búp bê ra đầu ngõ với hy vọng sẽ trông thấy ba má nó bước xuống từ một trong những chiếc xe đò đỗ lại ở quán nước bên kia đường, nơi những bác tài xế và các chú lơ xe thường tạt vào uống vài ba ly nước hay mua dăm ba gói thuốc trước khi tiếp tục cuộc hành trình của họ. Đã không biết bao nhiêu đêm, bé Ly từng nằm mơ thấy má nó về và ôm choàng lấy nó vào lòng. Nó giật mình tỉnh giấc nhưng không thấy má nó đâu ngoài bóng đêm đang bao phủ với tiếng kêu nỉ  non của côn trùng ngoài hè và trong tay nó vẫn nắm chặt con búp bê. Nó cất tiếng gọi khẽ " Má ơi! Con nhớ má lắm", rồi nằm khóc thổn thức một mình trong đêm.

Ngày tháng trôi qua, bé Ly linh cảm như một điều gì đó đã xảy ra cho ba má mình. Nó gặng hỏi dì Tâm mãi làm đôi lúc dì cũng phải cáu gắt lên với nó. Bé Ly để ý thấy dạo gần đây, dì Tâm có những cử chỉ khác lạ. Thỉnh thoảng có một người đàn ông lạ mặt đến bàn tính với dì điều gì đó. Có một lần nó núp phía sau vách và nghe lõm bõm vài câu dì Tâm nói với người đàn ông nọ:

 
"Thân tôi chỉ có một mình... Nếu bán đi căn nhà nầy cũng đâu đủ số cây vàng cho dì cháu tui... Thiệt tui cũng không biết tính làm sao nữa..."

Rồi nó nghe tiếng thở dài và tiếng thút thít khóc. Khi nó nghe tiếng bước chân từ sau cửa phòng bước ra, nó ôm con búp bê chạy vội ra phía sau hè.  Mấy ngày hôm sau, một buổi sáng trong khi Ly còn đang ngủ say sau một giấc mơ thì Ly thấy má nó trở về. Lần nầy trong giấc mơ, má nó có vẻ gầy hơn trước. Mái tóc đen mượt của người mẹ mà ngày xưa nó thường thích cầm chiếc lược chải và ước ao ngày nào lớn cũng có mái tóc như vậy, bây giờ trông thật xác xơ như những chiếc rễ tre mà bé Ly thấy mọc bên hàng rào xung quanh nhà. Ánh nắng mặt trời chiếu qua cái lỗ hổng trên mái nhà và dừng lại ở khóe mắt còn sót một vết nước mắt đã khô của bé Ly. Chắc hẳn tối hôm qua nó đã khóc thật nhiều khi trông thấy vẻ tiều tụy của má nó. Dì Tâm lay nó dậy, rửa mặt rồi đón xe cho hai dì cháu ra chợ Búng. Ngôi chợ nhỏ mà ngày xưa thỉnh thoảng ba má Ly chở nó đi ngang qua. Khi xe đến chợ, dì Tâm ghé vào tiệm quần áo mua cho nó vài bộ đồ mới, sau đó dì dẫn nó đến gánh bún riêu ở phía trước chợ. Lâu lắm, Ly mới có dịp được ăn ngon như vậy. Dì Tâm không ăn gì, chỉ ngồi nhìn nó ăn. Lúc ăn sắp xong, dì nói:

 
"Ly ăn xong đi rồi dì dẫn cháu đến thăm ba má cháu."

 
Nghe nói được đi thăm ba má, bé Ly bỏ tô bún riêu đang ăn giữa chừng và đòi đi ngay. Chiếc xe đò men theo con đường quốc lộ 13, chạy ngang qua những rừng cao su đang thay lá, rồi đỗ lại ở một con dốc. Bé Ly không biết mình đang ở đâu, chỉ thấy xung quanh một vùng đất đỏ, lác đác những ngôi mộ hoang. Khi nó hỏi dì Tâm ba má nó ở đâu, nó thấy dì đưa tay chỉ hai nấm đất với những ngọn cỏ xanh còn chưa phủ kín. Dì Tâm lấy trong giỏ ra vài nén nhang rồi quỳ xuống bên cạnh một nấm đất trong lúc bé Ly còn đang ngơ ngác chưa hiểu gì. Trong tiếng gió chiều và tiếng chuông cổ leng keng của mấy con trâu gặm cỏ gần đó, nó nghe lõm bõm tiếng dì Tâm nói trong khi nước mắt rơi lã chã:

"Em thật có lỗi với chị... Xin chị hãy phù hộ cho cháu..."

 
Đó cũng là lần cuối cùng bé Ly còn được ở bên cạnh dì Tâm. Trên chuyến xe đò trở về, nó không được về nhà dì mà được chở thẳng đến một nơi mà nó chưa bao giờ đến.
Trên tấm bảng dựng phía trước khu nhà, nó bập bẹ đánh vần được mấy chữ "Nhà Tình Thương". Một bà sơ có khuôn mặt hiền lành nắm tay nó dẫn qua dãy hành lang. Nó bước nhanh, trong lòng rất sợ sệt trước những ánh mắt của những đứa trẻ, có những đứa bằng tuổi nó, có đứa lớn hơn, đang soi mói nhìn nó. Nó ôm ghì lấy bọc quần áo mà dì Tâm mới mua từ lúc sáng với con búp bê mà nó đã dấu kỹ trong đó. Nó thoáng thấy một thằng bé cỡ hơn hai tuổi đang cố kiễng chân với lấy một con búp bê nhàu nát ai đó treo trên tường. Thằng bé cố nhướng người nên mất thăng bằng ngã xuống trên nền nhà. Thằng nhỏ khóc ré lên, nhưng mấy dì sơ đang bận cho mấy đứa khác ăn cơm chiều nên chẳng ai rảnh tay để dỗ nó.
 
 
Nhìn thấy cảnh đó, bé Ly càng ôm chặt bọc quần áo hơn. Nó cảm thấy một niềm hạnh phúc dâng trào vì nó biết dù má nó đang ở đâu đó thật xa, má nó vẫn thương và đã lo mua cho nó con búp bê nầy. Chắc má nó không muốn thấy cái cảnh nó phải kiễng chân để với tìm một tình thương mà có lẽ bao nhiêu đứa trẻ bất hạnh như nó sẽ không bao giờ tìm lại được.
Tối nay nó sẽ chải lại mái tóc của con búp bê như ngày nào nó vẫn chải tóc cho má nó. Nó sẽ ôm con búp bê vào lòng rồi thiếp đi trong giấc mộng với hai tiếng gọi "Má ơi!”.
 
Cao Minh Hưng

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Wednesday, 04 April 2012 19:41 )  
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account