CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Thi Ca Thơ Quê Hương Tỉnh Hồn Quốc Ca 1- Chí Sĩ Phan Chu Trinh

Tỉnh Hồn Quốc Ca 1- Chí Sĩ Phan Chu Trinh

E-mail Print
User Rating: / 0
PoorBest 

Nhân ngày đầu năm, nhớ đến đất nước và dân tộc đang quằn quại rên xiết dưới ách thống trị bạo tàn của việt cộng. Chúng ta sẽ lại nhớ đến những bậc anh hùng chí sĩ xưa, và những lời dạy của các ngài, để xét xem điều gì chúng ta chưa làm được, điều gì chúng ta cần phải làm ... Hôm nay xin mời các bạn dành chút thì giờ đọc lại bài Tỉnh quốc hồn ca 1 của Cụ Phan Chu Trinh (1872 - 1926). [Ở đoạn đầu là bài TQHC đã được rút gọn, ở đoạn dưới sẽ có nguyên văn bài TQHC].

Image result for Tỉnh hồn quốc ca 1

Chí Sĩ Phan Chu Trinh

 

Năm 1906, Phan Chu Trinh đi Nhật Bản trở về, sau đó ông viết Tỉnh quốc hồn ca 1. Năm 1907, tác phẩm được phổ biến lần đầu tiên trong các trường kiểu mới ở Quảng Nam và trong trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, sau đó lan truyền ra nhiều nơi khác.

Bấy giờ, có một số nhà yêu nước cho rằng nhân dân Việt đang ở trong mê mộng : mộng khoa cử, mộng quan trường, mộng xôi thịt, ...hoặc nói một cách tượng trưng là hồn nước đã mê, đã lạc ... cho nên phải gọi dậy để đi theo con đường tự lập, tự cường.... Vì lẽ đó, Tỉnh quốc hồn ca 1 và các tác phẩm đồng thời của các nhà chí sĩ khác, như Đề tỉnh quốc dân ca, Hải ngoại huyết thư, Á Tế Á ca, Chiêu hồn nước, Hợp quần doanh sinh thuyết, v.v ... đã ra đời nhằm mục đích ấy.

Căn cứ Tây Hồ Phan Chu Trinh di thảo do Đốc học Lê Ấm xuất bản ở Quy Nhơn năm 1945, thì Tỉnh quốc hồn ca 1 gồm 472 câu thơ song thất lục bát, xếp vào 12 đoạn.

Trong đoạn đầu, sau khi nêu quá khứ vẻ vang oanh liệt của dân tộc Việt, tiếp đến là chỉ trích lỗi lầm của người trên kẻ dưới đã làm cho nước nhà lụn bại. Từ đó, tác giả đặt vấn đề : phải học tập theo người Âu, người Mỹ (nội dung của 11 đoạn sau). Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tác giả đã so sánh nhiều phương diện về dân khí dân trí của các nước văn minh trên thế giới với dân tình của nước Việt đại để như sau :

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là "đầy tớ" của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v...

Nhìn chung, tác phẩm cổ vũ một sự cách tân xã hội theo chiều hướng dân chủ tư sản, và đối tượng kêu gọi là tầng lớp trung lưu và thượng lưu lúc bấy giờ. Cùng với các bài hiệu triệu khác, Tỉnh quốc hồn ca 1 đã góp phần không nhỏ vào công cuộc canh tân tự phát của nhân dân (tức phong trào Duy Tân) vào đầu thế kỷ 20.

Dưới đây là nguyên văn Tỉnh hồn quốc ca 1 (nguyên tác của Chí sĩ Phan Chu Trinh).

Ngồi mà nghĩ con Hồng cháu Lạc,
Trước vẻ vang rân rác dường bao!
Nam lấy chiếm, Bắc cự Tàu,
Cao mên, Lao ốt, thâu vào một tay
Núi Tân Lãnh cao tày non Thái,
Sông Mê-công một giải trường giang
Hơn hai mươi triệu dân vàng
Ông cha nảy nở họ hàng đúc đông
Thiệt là giống hào hùng khí phách,
Nảy lắm tài luyện thạch bố thiên
Nương vạc ngã, chống nhà nghiêng,
Oai danh lừng lẫy ghi truyền sử xanh
Hiềm vì nỗi học hành sai lối
Thóc vứt đi, rơm bổi quơ về
Sai lầm từ thuở nhà Lê,
Bước qua nhà Nguyễn sa bê lần lần
Pháp luật đủ mười phần thao thiết,
Mượn của người chẳng biết nghĩ xa
Người dùng độc thuốc người ta
Mình đem về để thuốc bà thuốc con
Cấm chăng được hỏi đon việc nước
Cấm chẳng cho ao ước thở than
Thi văn ba họ hàm oan
Công thần như thế ai còn hở môi?
Người cương trực lo lui bước trước
Lũ nịnh tà lần lượt đầy sân,
Vua tôn như thánh như thần,
Phận tôi rơm rác, thân dân trâu bò.
Khoa cử cũng lò mò bắt chước
Đi càng ngày càng lạc, càng xa
Con ta chẳng học sử ta
Bắt ra học những chuyện nhà người dưng
Đạo Khổng Mạnh lấy dân làm chủ
Nghĩa vua tôi giải đủ gần xa
Từ khi cử nghiệp thiết khoa
Năm Kinh, bốn Truyện hóa ra tro tàn
Nay xem thử triều ban quốc chế,
Việc chi không đại để tập Tần?
Vậy mà học sĩ văn nhân,
Thuấn Nghiêu sách đức, thánh thần ngợi công
Pháp luật thế, học cùng như thế
Mấy trăm năm lưu tệ đến đâu!
Vua ngồi thăm thẳm cung sâu,
Một đời chỉ biết đè đầu dân đen
Dưới đại thần đua chen tước lộc
Ngoài trăm quan hì hục thân danh,
Cúi lòn đút lót đủ vành,
Làm quan cốt để rán sành dân ngu
Thói tham lam nhuộm sâu đến tủy
Máu tham quan như đĩ ham tiền
Đua tranh những việc nhãn tiền
Biết đâu nghĩa vụ, công quyền là đâu!
Biết đâu đến người Âu, người Mỹ
Cốt thân mình phú quý là xong
Trời cao thật khéo nỡ lòng
Xách ta bỏ vứt giữa vòng đấu tranh
Nước Đại Pháp binh tinh tướng mạnh
Mấy trăm năm cường thạnh cõi Âu
Dò la quen biết đã lâu
Phen này chí quyết tóm thâu cõi bờ
Trên vua đã lờ mờ như ngủ
Ngày trót đêm vịnh phú ngâm thi
Bá quan văn võ biết chi
Trung thành chỉ có lạy quỳ mà thôi
Đánh cũng chết, hòa rồi cũng chết
Bốn mươi năm gió quét sạch không!
Ông cha gây dựng non sông
Mà nay nông nỗi, đau lòng xiết bao!
Song những kẻ lo sâu nghĩ kĩ
Mình xét mình ngẫm nghĩ mà coi:
Nên hư chẳng bởi nước ngoài
Xưa nay thịt thúi, thì giòi mới sinh!
Vậy những nỗi bất bình để đó,
Quyết theo thầy gắng gố học hành
Đừng điều yêu chuộng hư danh,
Phải lo việc thực mới thành đặng công
Ví quyết chí thoát vòng trói buộc
Phải tự mình tiến bước mới xong
Kìa xem trong cõi Á đông
Trung Hoa, Nhật Bổn cùng giòng giống ta
Nhìn ngoái lại Xiêm la gần đấy,
Phi lip pin chẳng bấy nhiêu xa
Trông người lại ngắm vào ta
Thiên đường địa ngục cách xa muôn vàn
Rùi cơn bão sóng tràn như thấy,
Biết lấy chi vùng vẫy với đời?
Thầy khôn dù sức đủ mười
Tớ ngu thôi cũng chụi người chuyên tay!
Biết bao nỗi đắng cay chua xót!
Ngày trông thầy thấm thót đòi cơm
Bao nhiêu chuốc dữ cưu hờn,
Lòng ta quyết một nhớ ơn quên thù,
Xem trong lúc mấy thu giặc giã
Sóng cõi Âu rúng cả hoàn cầu
Người xui ta phải trả thù
Mà ta giữ vẹn khư khư lòng thành
Nào là kẻ đầu binh ứng mộ,
Vòng đạn tên ruột đổ thây rơi,
Sa trường một giấc như chơi
Giá chôn, tuyết giập, nắng phơi, mưa vùi!
Nào là kẻ mồ hôi nước mắt
Xưởng công binh nung sắt nấu đồng
Xiết bao độc nhiếm thuốc xông,
Rủi ro phút chốc bỏ không một đời!
Nào là kẻ vận dời binh khí
Cuộc tử sinh một tí rủi may,
Bất kỳ đạn lạc tên bay
Còn ai biết đến chút thây lạc loài !
Người thì ráng ra vai cày cuốc
Để giúp người trong cuộc nông tang
Hay đâu thủy thổ bất thường,
Mồ côi để dấu đoạn trường phương xa!
Người thì quyết xông pha sóng gió,
Để giúp cơn khốn khó bể khơi,
Hay đâu trận mạc bất thời,
Thân bèo phó mặc nước trời mênh mông!
Kể sao xiết não nùng đau đớn,
Mấy trăm nghìn hảo hớn Nam bang!
Lạnh lùng những nắm xương tàn
Chiêm bao còn hỡi mơ màng hồn quê!
Lúc tấu khởi ai về đâu đấy,
Thầm thương thay biết mấy muôn nhà
Thẩn thơ mẹ yếu cha già
Mai chiều dựa cửa trông ra ven trời!
Còn một nỗi con côi vợ góa
Kể sao cùng vất vả linh đinh!
Phải đâeu nẻo lợi đường danh,
Vì đâu nên nỗi dứt tình biệt ly?
Ấy tình cảnh người đi như thế,
Xin nhắc qua những kẻ ở nhà:
Xiết bao phú hộ danh gia
Tiền bạc ngàn vạn trao ra không màng
Thương những kẻ nghèo nàn thiếu thốn
Thuế cùng sưu khốn đốn quanh năm,
Vẳng nghe lệnh xuống quyên tiền?
Của tiền mất hàng thiên hàng vạn,
Máu mủ trôi lai láng biết bao!
Cũng vì một dạ ước ao
Giúp thầy cho trọn trước sau cùng thầy.
Ước chánh trị càng ngày rộng rãi,
Dắt ta theo vào cõi văn minh,
Hiến chương pháp luật ban hành
Nói năng nghĩ ngợi thỏa tình tự do
Ước học hành mở cho xứng đáng
Đừng vẽ hình vẽ dạng cho qua,
Công thương kỹ nghệ chuyên khoa
Trí tri cách vật cho ta theo cùng,
Cuộc điều dưỡng mở trong dân sự,
Nẻo giao thông tứ xứ sơn lâm
Làm cho bá tánh yên tâm
Làm cho kinh tế càng năm càng giàu
Ước như thế đặng đâu như thế
Đã mấy năm treo trễ đến nay
Thỏ khôn vừa đã đến tay
Chó săn sống cũng mua ngày mà thôi!
Lời gắn bó như lời nói phỉnh!
Buộc ta còn tín kỉnh làm sao?
Phần thì thêm thuế thêm sưu
Trăm điều cũng cứ đè đầu như xưa
Cách ràng buộc như người đạo tặc
Thấy những điều nghiêm khắc mà ghê
Thử xem trong lúc lính về
Hành hạ đày đọa chán chê trăn phần
Lục cho đến manh quần tấm áo
Lục cho cùng mảnh báo phong thư
Bạc tiền gạc đến của tư,
Chặn đồ xiết dạc, cầm như quân tù!
Câu nhân đạo và câu chánh lý
Đổi cùng thay một tí trở tay
Thân này chẳng chết là may
Sống về để chịu đọa đày vậy ư?
Tiền phụ cấp đợi chờ khốn khổ
Ngày chực chầu như lũ ăn xin
Mấy tuần chưa gọi đến tên
Lãnh rồi chẳng đủ trả tiền tiêu pha
Người ai cũng xương da máu thịt
Sự bất công đau ít tủi nhiều
Có nhơn mới có thưong yêu
Bao nhiêu cay nghiệt bấy nhiêu oán thù
Nghĩa đồng bào, tự do, bác ái,
Lòng Lang sa rộng rãi biết bao
Các anh thuộc địa lòng nào
Làm hùng làm hổ khác nhau lạ lùng?
Loại thuốc phiện, rượu nồng đốt ruột,
Luận lẽ thường là thuốc sát nhân
Văn minh các nước cấm ngăn
Mà ta cứ để uống ăn như thường,
Tiệm buôn bán ngày càng mở rộng
Cốt thuế nhiều, chết sống mặc ai!
Lạ thay những độc vô loài
Trời sinh riêng để phạt nòi giống ta!
Thuế ruộng muối nói ra còn ngán
Nó thực là thổ sản quốc dân
Nuớc ta quanh bể vô ngần,
Lợi to tính cũng vài phần tại diêm
Vậy mà lập phép nghiêm cấm tất
Biết bao nhiêu là đất bỏ hoang
Thừa ra chỉ một vài khoang
Bán mua thôi cũng như tuồng giựt không!
Mua một đồng, mười đồng bán lại,
Gẫm dân ta thiệt hại biết bao!
Lại còn thị thế thị hào,
Mua vun bán sét, thấp cao mặc lòng
Thuế nhơn đinh như tròng vào cổ
Còn bắt thêm nộp bổ năm hào,
Giấy hình là giấy thế nào?
Có hình còn buộc in vào hai tay
Khen ai khéo đặt bày nên chuyện
Mua giấy rồi tùy tiện làm ăn
Vậy sao tàu Mỹ, tàu Anh,
Trong khi thuế mướn đón ngăn đủ đường?
Thuế điền thổ lại càng khốc hại
Mẫu xấp hai, thuế lại xấp mười
Nắng mưa may rủi nhờ trời
Ai toan đắp đập, khai ngòi cho đâu?
Điền ba hạng dồn vào bậc nhất
Thổ sáu nay chia phứt làm ba
Cốt sao số thuế tăng gia,
Đói no chết sống mặc cha thằng bần
Còn những kẻ chỉ trần lợi hại
Bắt buộc cho mắc phải tù lao
Vu cho chống thuế chống xâu
Có gì phép luật ? còn đâu công bình?
Kìa các sở nhật trình nhật báo
Chỉ để cho nói hão nói huyền:
Cháy nhà, chó dại, thằng điên,
Cũng nghề bán giấy kiếm tiền cho qua!
Còn đến chuyện nước nhà lợi hại
Nào cho ai bàn nói vào đâu?
Bắt khoan bắt nhặt từng câu,
Còn ai mở miệng cắt đầu kêu ca?
Sự dạy dỗ gọi là cho có,
Kể trường to trường nhỏ dặng bao?
Học đường ta gọi là cao,
Sánh cùng bên Pháp chưa vào bậc trung
Đàng du học bịt bùng cấm ngặt
Chỉ một đường đi tắt qua Tây,
Tiền lương trợ cấp xưa nay,
Đáng them mà lại bỏ ngay lẽ nào?
Sánh các bậc hiền hào công chánh
Sánh Lư Thoa và Mạnh tư cưu
Bán mua khắp cả hoàn cầu
Phép gì lại cấm đem vào nước Nam?
Học Tây đã lam nham như thế
Học Tàu còn ai kể vào đâu
Thừa ra Quốc ngữ mấy câu,
Trông gì mở dặng cái đầu thiếu niên?
Còn như bộ tân biên luật lệ
Cũng gọi là thể chế đổi thay
Nội dung chưa biết dở hay
Hãy xin trích một điều này mà coi
Quân du đãng là loài gian quỷ
Va ga bông nghĩa chỉ phân minh
Lịch du không giấy thông hành
Buộc vào tội ấy công bình làm sao?
Nói bao nhiêu lại bao nhiêu tức
Kể làm sao tình ức lẽ oan
Thử xem các nước dinh hoàn
Hai mươi thế kỷ, ai còn như ta?
Ấy tình cảnh nước nhà đã thế
Còn những người vượt bể sang Tây
An thân đã chắc xứ này
Vậy còn khuấy rối khuấy rầy bởi ai
Người có chí theo đòi du học
Kẻ tay không lăn lóc làm ăn
Nào ai gây sự thù hằn
Cũng toan đeo vật đuôi giằn cho đang?
Lập một sở gọi rằng Kiểm sát,
Kiểm sát ai trong đất Lang sa?
Vậy mà xa xỉ của ta
Để nuôi một lũ gà nhà đi bươi
Kể lắm chuyện đáng cười đáng ghét
Tên cầm đầu hầm hét bán rao
Rằng: “Tao chẳng đụng gươm dao,
Một cây bút sắt hại bao nhiêu người”
Thông đồng khắp mọi nơi mật kín
Cáo già hùm láo liếng mà ghê.
Nơi thành thị chốn nhà quê
Tìm nơi bắt dấu, tứ bề dò la
Rất đến nỗi các nhà học hiệu
Con nhà người niên thiếu trẻ trung
Cả gan dám tới thị hung
Hỏi tra tên họ gạn cùng mẹ cha
Còn những lũ lâu la vô lại
Máu chảy đâu ruồi lại bu theo
Gian phi ra dạ hiểm nghèo
Thổi long vạch lá, chun theo đồng tiền
Một năm mấy mưoi nghìn sở phí
Lợi ích chi một tí cho ta?
Làm cho hai giống cách xa
Làm cho mang tiếng Lang sa hẹp hòi
Nước Pháp luật hẳn hoi còn thế
Xứ dã man, nô lệ nghĩ sao?
Xưa nay ăn nói ngọt ngào
Nay sao trăm kiếp đè đầu cho dang
Còn như sở Đông Dương sanh kế
Sanh kế gì cắt nghĩa cho thông?
Dinh tư cùng chước già công
Một năm tiêu mấy triệu đồng như chơi
Ai muốn biết tới nơi thì biết
Mấy chữ vàng sơn thiếp nguy nga
Chính ngay đàng ô pê ra
Đường đường khí tượng một tòa thượng thơ
Cuộc đấu xảo chẳng ngờ mà có
Mới bốn năm giặc cỏ vừa xong
Đắng cay hâm mấy triệu đồng
Trong cơn chập hẹp nõ lòng khoe khoang
Kể chi xiết tiêu hoang phí chạ,
Thói nhà quan Âu Á xưa nay
Tiền công đã mó đến tay,
Túi tham phải nhét cho đầy mới thôi
Hiềm một nỗi mọi tôi khinh rẻ
Xài tiền ta chẳng kể gì ta
Sở công nói bảy nói ba
Trông nom chẳng chút cho ta trông vào
Còn những kẻ công lao thuyền thợ
Cốt mộ qua giúp đỡ công trình
Bòn chèn trách mắm, trả canh,
Thịt hôi cá thúi đủ tình gay go
Trong tám tháng bữa no bữa đói
Biết bao nhiêu van vái rỉ rên
Tính ra mấy triệu quan tiền
Để ta ăn hạ uống hèn bởi ai
Lại nói đến các vai đại biểu
Lòe loẹt thay một kiểu y quan
Khăn đen, áo gấm, nút vàng
Khoanh tay bắt đứng sắp hàng thật xinh!
Thảy trăm việc làm thinh không biết
Hỏi: “ băng ngàn chí quyết đi đâu?
- Paris ao ước bấy lâu
Nhịp nhàng khỏi tốn tiền tàu thì đi! ”
Còn lắm chuyện khả phi khả tiếu,
Đợi biểu này, đợi biểu cho ai?
Chứa chan trăm nết tôi đòi,
Còn toan mở mặt với người làm sao?
Khen ai khéo đếm đầu chọn mặt,
Để đem qua bày đặt cho vui
Hiệu, hề, đào, kép đủ vai
Mời lun đến trẫm lên ngai ra tuồng?
Ta đâu phải là tuồng ếch nhái,
Dễ cùng cào mặc thích đi cho!
Cuộc đời là cuộc đôi co,
Công quyền là thánh, tự do là thần
Khắp thế giới tôn dân làm chủ
Khéo cầm ta như lũ dã man
Phật thiêng bao thưở chùa hoang
Chùa hư đem Phật thiếp vàng ích chi?
Lẽ thẳng ấy đồng nhi cũng hiểu
Muốn đè đầu mấy triệu dễ sao?
Thuyền bền thì nước đỡ cao,
Thuyền hư thì nước chôn vào chín sông.
Nào ai muốn tôn sùng đế chế
Nào ai xui bệ vệ rước qua,
Om sòm xưng mẹ xưng cha
Xưng người thay mặt con nhà Việt Nam
Kéo một lũ tai phàm mắt tục
Làm cho thêm sỉ nhục dân ta
Bày chi thì cứ nói ra
Biết đâu lợi hại nước nhà là đâu!
Tiền bạc tốn biết bao mà kể
Vơ vét theo, biểu lễ thập phương
Dân ta ngót mấy năm trường
Lửa thành vạ cá trăm đường gian nan
Hằng năm chịu cơ hàn thủy hạn
Mấy muôn người lưu tán tử vong
Trách ai chẳng chút động lòng
Nỡ đem máu mũ trút dòng bể khơi
Trâu cày mỗi nghỉ hơi cho thở,
Ngựa chở lâu phải mở đồ ra
Huống chi loài giống người ta
Nỡ nào rán mỡ lột da cho đành
Tiền du học sao đành bỏ đứt,
Còn tiền đâu đem vứt lỗ không?
Nói ra lắm kẻ chếch lòng,
Nín đi thì lại ập ùng lá gan!
Nếu để vậy man man chung cổ,
Biết ngày nào tiến bộ mà mong
Người sao trăm việc thong dong
Ta sao gánh đủ mấy chồng gian nan
Cũng vì bởi dã man quen thói
Chưa văn minh tự gọi văn minh
Thử xem các bậc học hành
Nương hơi dựa bong, tập tành đã quen,
Người nói “phải”, đứa khen rằng “phải”
Người nói “không” cũng nhại rằng “không”!
Học hành còn lắm lông bông
Đã toan xách gậy xưng ông đem đường
Người Á chẳng am tường sự Á,
Học Âu chưa khám phá tính Âu,
Vậy mà tự đắc tự cao
Tặng mình như thể ngôi sao giữa trời
Loài thủy mẫu chơi vơi mặt nước
Dựa mắt tôm bắt chước đua bơi
Gặp cơn song gió phí thời
Tôm đi tôm bò nổi trôi giữa dòng
Chim đà điểu sinh trong sa mạc
Lông cánh thưa, vóc giạc dềnh dàng
Bị cơn sợ hãi phi thường
Chôn đầu vào cát là phương tự toàn
Gẫm vật tính minh ngoan khả tiếu
Nghĩ lại càng ruột héo lệ rơi
Ấy là hào kiệt thức thời
Ấy là minh triết của người nước ta
Học thế ấy người ra thế ấy
Quả cùng nhơn khác bấy nhiêu đâu?
Nhơn này ta tạo đã lâu
Tạo nhơn nay phải lấy Âu làm thầy
Huống ta ở dưới tay người Pháp
Sáu mươi năm thấm thoát đã qua
Lỗi lầm cũng nửa bởi ta
Cạn suy, vụng tính hóa ra lỡ làng
Nay bốn mặt nòi vàng sấn sướt
Ta hãy còn thườn thượt thây ma
Biển trời muôn dặm cách xa
Tây nào hồ dễ giúp ta mọi bề
Nếu để vậy chán chê như trước
Ngồi chờ cho khi nước đến trôn
Giống nòi ta đã thon von
Lợi quyền Tây cũng đâu còn mà trông
Cơn sóng gió thuyền chung một chiếc
Dẫu Việt, Hồ cũng quyết đồng tâm
Hay chi oán độc tương tâm
Vạ chung ai dễ ai cầm hơn ai
Tình thế đã tỏ bày ra đấy
Người Lang sa cũng thấy tới nơi
Dở dang một bọn mà thôi
Ra tay muốn dậy bong trời soi chung
Rào sắt quyết bịt bùng ta lại
Kéo vào đàng hủ bại như xưa
Quyền vua dầu mấy cũng vừa
Quyền dân cướp hết còn chưa bằng lòng
Hình thức mặc trong vòng lấn lướt
Tinh thần thì đón trước đón sau
Ngu si dễ khiến mặc dầu
Làm sao sống được trong bầu cạnh tranh?
Cầm ta cũng như hình nem chả
Muốn để dành ăn xả xài lơi
Miếng ngon là của giữa đời
Mình ham phải biết những người cùng ham
Nay tứ phía tai hùm mắt hổ,
Ngày băm băm nghe ngó vào đâu?
Tục rằng: “ăn ít no lâu”
Hãy xin nghĩ kỹ lo sâu cho cùng
Dân Đại Pháp là dòng nghĩa hiệp
Nỡ lòng nào hà hiếp ta đâu
Chẳng nên vập mặt cúi đầu,
Đứng lên ta hỏi những câu công bình.
Nay trộm phép tỏ tình đại biểu
Cả tiếng kêu mấy triệu Lang sa
Hãy xin mở lượng hải hà
Ra tay tế độ con nhà Việt Nam
Xin trên dưới hai “săm” hiệp mặt
Định phương châm cho chắc một bề
Dâng lên Giám đốc thủ phê
Hãy xin kể thử vấn đề như sau
Chánh tự trị bắt đầu hứa trước
Định hạn kỳ, phỏng ước mấy năm
Chủ trương đã có chỉ nam
Trăm điều sau khỏi lỗi lầm sai ngoa
Pháp luật dựa Lang sa làm chủ
Lợi quyền cùng nghĩa vụ cho cân
Có việc thay mặt quốc dân
Có quan trách nhiệm đại thần phụng công
Để ta dự vào vòng chính trị
Từ hội hè suy nghĩ nói năng
Tự do ban bố rõ ràng
Giắt tay ta để lần lần cho theo
Niên hạn chẳng kỳ kèo lâu chóng
Cốt cho ta hiệu phòng tinh thần
Quyền vua đổi lấy quyền dân
Chánh cương trước phải mười phần khai minh
Được như thế thỏa tình ao ước
Nghĩa thầy trò sau trước yếm âu
Lợi quyền chung chạ dài lâu
Trắng vàng một họ, Á Âu một nhà.

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

 
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account