CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Truyện Ngắn Vui buồn đời tị nạn (hồi ký)

Vui buồn đời tị nạn (hồi ký)

E-mail Print
User Rating: / 4
PoorBest 

Ba mươi tám năm kể từ ngày tang thương đó.

Ba mươi tám năm mất Sài Gòn, ba mươi tám năm xa quê hương nhưng TQS tưởng chừng như chuyện xảy ra mới tuần trước.

Tôi còn nhớ rõ những diễn tiến của đêm 28 rạng sáng 29 tháng 4 khi phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích, những giờ phút trước giờ lên máy bay di tản qua căn cứ Utapao ở Thái Lan, rồi những vui buồn của trại tị nạn Pendleton trong những ngày đầu tháng 5.

Chia xẻ cùng các bạn những hình ảnh và kỷ niệm của ba mươi tám năm về trước ....

Vui buồn đời tị nạn

***

Đêm cuối cùng tại Sài Gòn

Tôi rời Việt Nam lúc 9 giờ 15 sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, một ngày trước khi miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm. Lúc đó, tôi là một quân nhân thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân, phục vụ cho xưởng vô tuyến đặc biệt tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Lúc bấy giờ khoảng 6 giờ chiều ngày 28-4. Sau cơn mưa rào, bầu trờI Sàigòn thật trong vớI vài cụm mây trắng lãng đãng trên nền trờI xanh ngắt. Đột nhiên, tôi nghe những tiếng bom nổ lớn từ hướng phi trường Tân Sơn Nhất. Những cột khói đen, có thể nhìn thấy từ mấy cây số, bốc cao. Còi báo động hú lên inh ỏi. Từ chiếc radio, ngườI xướng ngô viên cho biết phi trường Tân Sơn Nhất đã bị dội bom bởi hai chiếc phản lực cơ A37 của chính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (một điều thật đáng buồn).

Ăn vội bát cơm và khoác vội bộ quân phục, tôi chào bố mẹ rồi nhảy phóc lên chiếc Yamaha nhắm hướng Lăng Cha Cả trực chỉ. Lúc ấy, tôi không biết đó là lần cuối cùng tôi thưa chuyện cùng bố mẹ tôi cho đến gần hai mươi năm sau.

Tôi là một trong những người đầu tiên vừa tớI cổng Phi Hùng thì hai cánh cổng sắt đã được kéo ngang cùng những vòng kẽm gai chắn lối. Lệnh 'nội bất xuất, ngoại bất nhập' vừa được ban hành. Sau mười lăm phút đợi chờ, hoang mang và không biết phải làm gì, cuối cùng tôi quyết định trở về nhà. Tôi quay lại định trở đầu xe thì mới biết, sau lưng tôi đã có hơn trăm chiếc xe gắn máy đủ loại đã đậu chắn lối tự bao giờ. Chẳng còn một chọn lựa nào khác, tôi đành ngồi yên trên xe tiếp tục chờ đợi...

Khoảng một giờ sau, cánh cổng trại Phi Hùng được mở rộng. Chúng tôi ùa vào như đàn ong vỡ tổ. Đường đi tối như mực vì không có điện. Ngọn đèn pha của chiếc Yamaha hầu như không đủ soi sáng mặt đường nhựa, ngổn ngang dẫy đầy những mảnh vụn của gạch ngói.

Như đã trình bày ở trên, tôi phục vụ cho xưởng vô tuyến đặc biết (còn được gọi là xưởng Bravo) thuộc Sư Đoàn 5, Không Quân. Đây là một căn cứ mật, có nhiệm vụ thâu thập tin tức tình báo, xác định những mục tiêu của địch, rồi cung cấp những dữ kiện này cho các phi đoàn oanh tạc cơ Việt-Mỹ. Xưởng Bravo gồm ba dãy nhà hình chữ U, nằm chơ vơ, biệt lập trên một khu đất rộng. Về phía bên trái cũng như bên phải, là những ụ máy bay, hay cho dễ hiểu, là những chỗ đậu cho những chiếc phi cơ AC-47 thuộc phi đoàn 718. Sau lưng Bravo khoảng nửa cây số là phi đạo chính của phi trường Tân Sơn Nhất. Từ sân sau, chúng tôi có thể quan sát rõ ràng những chiếc phi cơ cất cánh và hạ cánh. Vì lí do an ninh, tôi bắt buộc phải đậu xe cách xưởng nửa cây số, qua một cổng sắt, đi bộ băng ngang qua một dãy phi đạo 'taxi' rồi mới tới sở.

Tới xưởng Bravo, tôi thật bàng hoàng vì những cảnh tượng trước mặt. TrờI tối như mực, không một ánh đèn ngoại trừ ánh trăng yếu ớt. Hai chiếc phi cơ AC-47 bên tay trái và phải đều bị trúng bom thiêu hủy hoàn toàn. Dãy nhà hình chữ U đã bị sập một nửa vì sự chấn động và sức ép của bom. Mảnh vụn của gạch ngói vung vãi khắp nơi, đồ đạc đổ vỡ ngổn ngang.

Sau khi dọn dẹp sơ sài, anh em chúng tôi điểm danh tập họp, trang bị vũ khí và chia nhau canh gác. Đêm hôm đó, chúng tôi phải trải chiếu ngủ trên nền xi măng ngoài bờ hè vì nhà ngủ đã bị hư hại. Tôi tìm được một góc hè, ngả lưng và thiếp đi lúc nào không biết.

Đang ngon giấc, bỗng tôi choàng tỉnh vì một tiếng 'ầm' vang dội cả một góc trời.

Lúc đó khoảng 4 giờ sáng.

Có tiếng la lớn:

-Pháo kích, pháo kích, chết mẹ, tụi Việt Cộng pháo kích. Xuống hầm mau.

Tôi bật dậy như một cái lò xo, quơ tay chụp cây M16, lao mình nhảy vội xuống hầm trú ẩn.

Những trái đạn pháo kích rớt đều cách nhau vài phút.

Những tiếng rú ghê rợn của đạn pháo kích 'chiiiuíiiuuu' rồi 'ââầmmm' rồi 'chiiiuíiiuuu' rồi 'ââầmmm' kéo dài gần ba giờ đồng hồ.  Lúc gần, lúc xa.  Có lúc, tôi tưởng chừng như trái đạn rớt chỉ cách chúng tôi vài mét. Những mảnh vụn cùng đất đá bị bắn lên cao, rơi xuống như mưa trên đầu chúng tôi.

Trời hừng sáng, đạn pháo kích thưa dần rồi ngưng hẳn. Chúng tôi bò lên khỏi hầm, duyệt xét lại cơ xưởng và kiểm điểm những hư hại. Tạ ơn Chúa, xưởng Bravo cũng không hư hại hơn, và không ai trong chúng tôi bị thương tích gì cả. Sau khi làm vệ sinh cá nhân dã chiến, chúng tôi chia nhau dọn dẹp. Đang loay hoay sắp lại những đồ vật, bỗng tôi nghe tiếng nói nhỏ bên tai :

-Ê Sỹ, tao với mày 'dzọt' về nhà. Tao thấy ở đây không khá được. Tao đang giữ chìa khóa xe pick-up của sở, tụi mình viện cớ đi mua đồ ăn sáng cho anh em, rồi 'dzù' luôn.

Tôi ngẩng nhìn lên, nhận ra Lễ, một đồng đôi. Lễ ở gần nhà tôi, chỉ cách nhau một khoảng đường. Tôi ngập ngừng, suy nghĩ một lát rồi xiêu lòng đi theo Lễ ra chiếc xe pick-up.

Trên đường ra cổng tôi mớI có dịp quan sát kỹ cảnh hoang tàn sau một đêm bị dộI bom và pháo kích. Tôi không tin vào mắt mình nữa. Phi trường Tân Sơn Nhất thật tang thương như vừa trải qua một trận động đất kinh hồn. Đó đây, những chiếc phi cơ bị trúng đạn pháo kích, thiêu huỷ, cháy rụi, còn lại chỉ là một khối sắt đen sì. Dọc hai bên đường, những ngôi nhà cũng bị đạn pháo kích tàn phá, đổ nát. Một vài xác người chết nằm cong queo, đẫm máu, bên vệ đường. Cảnh đỗ vỡ, chết chóc cùng với mùi khét lẹt trong không khí đã làm cho tôi có một cảm giác rùng mình, ớn lạnh.

Từng đoàn người lũ lượt, tay xách nách mang, bồng bế, dắt dìu nhau nối đuôi nhau ra cổng. Họ là những gia đình quân nhân sinh sống trong khu gia binh đang tản cư ra ngoài để tìm sự an toàn. Sẵn có xe, chúng tôi đã tình nguyện chở giúp một số người, phần đông gồm đàn bà và con nít.

Tới cổng, tôi và Lễ bị quân cảnh đuổi trở vào. Anh quân cảnh với sắc mặt lạnh như tiền, trên tay cây M16, chặn chúng tôi lại và hô lớn:

- Dân đi ra, lính đi vô.

Tôi và Lễ tiu nghỉu, vòng xe trở lại.

Tôi và Lễ trở lại Bravo khoảng 7 giờ rưỡi. Đây đó, bạn bè tụm năm tụm ba bàn tán. Tôi và một vài ngườI nữa đứng ngoài sân sau xem những chiếc phản lực cơ A-37 và F-5E gầm thét trên không trung, bắn từng quả rocket và thả bom vào những vị trí địch quân, lúc bấy giờ có lẽ đã sát bên phi trường. Một chiếc vận tải cơ C119, chậm chạp bay trên bầu trời. Bỗng nhiên, một vệt khói đen từ chân trờI vút lên. Chiếc hoả tiễn tầm nhiệt SR7 xé gió, trong chớp mắt phá nát đuôi chiếc C119 làm nó chao đảo rồi chúi đầu đâm thẳng xuống đất. Chiếc phi cơ hai cánh quạt rơi như một quả chuối, chạm mặt đất, nổ tung tạo nên một khối lửa màu cam khổng lồ. Tôi không biết là ngườI phi công và những quân nhân trên chiếc phi cơ xấu số đó có kịp bung dù thoát ra ngoài hay không. Thật là một cảnh tượng hãi hùng mà tôi được chứng kiến.

Khoảng gần 8 giờ, đạn pháo kích lại bắt đầu rơi. Một lần nữa, chúng tôi lại lao mình xuống hầm trú ẩn. Lần này, hình như bọn Việt Cộng đã chiếm được đài không lưu, có 'đề-lô' chấm toạ độ rõ ràng nên những trái đạn rơi thật chính xác. Từ hầm trú ẩn, tôi đã được mục kích cảnh từng chiếc phi cơ bị thiêu hủy. Một chiếc ..., hai chiếc ..., ba chiếc ... chiếc này theo sau chiếc kia, từng chiếc một, trúng đạn và bốc cháy.

Đến gần 9 giờ sáng, đạn pháo kích ngừng rơi. Chúng tôi lại bò lên khỏi hầm trú ẩn, hoang mang không biết việc gì sẽ xảy ra kế tiếp. Từ sân sau của sở nhìn ra phi đạo chính, chúng tôi thấy những chiếc A37, những chiếc F5, rồi đến những chiếc C-130 thay phiên nhau cất cánh. Lúc đầu không ai để ý nhưng khi càng ngày càng nhiều phi cơ cất cánh, lúc đó, chúng tôi mới vỡ lẽ là 'bà con' đang di tản. Tất cả mọi người đều nhốn nháo. Sau những lời đôi co bất đồng ý kiến, chúng tôi được lệnh bỏ sở, chen nhau trên chiếc xe pick-up, ra phi đạo với hy vọng mong manh sẽ tìm được một chiếc phi cơ.

May thay, cuối một đường của một phi đạo nhỏ, chúng tôi gặp một chiếc C-130 đang quay máy chuẩn bị để 'taxi' ra phi đạo chính. Trên phi cơ, đã có hơn 200 người, chen chúc nhau ngồi trên sàn sắt lạnh. Anh em chúng tôi lần lượt lên tàu, cũng ngồi bệt xuống sàn tàu như mọi người khác. 9 giờ 15 phút sáng 29 tháng 4 năm 1975, chiếc C-130 lướt nhanh trên phi đạo rồi nhấc bỗng khỏi mặt đất, vĩnh viễn đưa tôi rời xa thành phố Sài Gòn, nơi tôi đã sống và lớn lên vớI hàng ngàn kỷ niệm buồn vui. Trên 200 gương mặt trầm tư, mỗi người mang một tâm trạng khác nhau, một nỗi buồn riêng tư của chính mình. Tất cả đã được thể hiện trên gương mặt mỗi người với nét đăm chiêu, tư lự. Riêng tôi, sang hôm đó, tôi cảm thấy buồn và mất mát rất nhiều. Lý do thật giản dị, tất cả những người thân yêu của tôi đều ở lại. Tôi biết lần ra đi này, có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại những gương mặt thân yêu đó nữa.

Bất giác, một giọt nước mắt trào ra từ khoé mắt và lăn dài trên má của tôi.

Những ngày trên đảo Guam

Phi cơ đáp xuống phi trường Utapao, Thai Lan, sau hai giờ bay căng thẳng. Ở đây, chúng tôi được phân phát thực phẩm, quần áo, cùng một vài thứ cần thiết. Trưa ngày 30-4, tất cả quây quần bên chiếc radio để nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Mọi người đều xúc động, rơm rớm nước mắt. Một anh vì quá tức giận đã đập nát cái radio transistor nhỏ mà anh đang cầm trên tay.

Sau ba ngày tạm trú tại Utapao, tôi đặt chân lên đảo Guam ngày 2-5-1975.

Trong túi tôi lúc đó không một đồng xu dính túi ngoại trừ hơn 30 ngàn đồng Việt Nam vô giá trị. Với số vốn Anh ngữ sẵn có (tôi đã từng du học tại Hoa Kỳ năm 1973), tôi đã nhanh chóng nghĩ ra cách kiếm tiền một cách dễ dàng và hợp pháp. Lân la đến những anh chàng GI trên đảo, sau một vài câu xã giao, tôi móc túi lấy ra xấp giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa và gạ gẫm với họ:

-Các anh có biết những tờ giấy bạc này sẽ có giá trị như thế nào trong tương lai không ? Tôi cho các anh một cơ hội để làm chủ lịch sử bằng cách đổi cho các anh một tờ giấy bạc này với một tờ giấy bạc Hoa Kỳ. Anh có thể chọn bát cứ tờ nào anh thích trong xấp giấy bạc này và chỉ cần đưa lại tôi bất cứ tờ giấy bạc Hoa Kỳ nào anh muốn.

Vớí cách này, trong ba ngày ở Guam, tôi đã kiếm được trên một trăm đô la.

Một buổi sáng, tôi đang đứng sắp hàng để làm thủ tục định cư tại Hoa Kỳ thì nghe tiếng léo nhéo chuyện trò của những người đứng sau tôi.

Tiếng một người đàn ông:

-Trời ơi, cụ già rồi, không ở lại Việt Nam mà còn qua đây làm gì? Con cháu cụ đâu mà lại để cụ đi một mình như vầy ?

Tiếng một người đàn bà lớn tuổi:

-Xin các ông làm ơn giúp tôi, tôi mang ơn các ông lắm

Tiếng một người đàn ông khác:

-Tụi tui còn ú ớ không biết gì, làm sao giúp bà cụ được. Tuổi bà cụ sang Mỹ thì còn làm được gì nữa. Sao bà cụ không ở nhà cho khỏe ?

Tôi quay lại thì bắt gặp ánh mắt khẩn cầu của một cụ bà tuổi xấp xỉ tám mươi. Hỏi ra tôi mới biết cụ đi một mình từ Việt Nam qua Mỹ dưới sự bảo lãnh của người con gái lớn. Cô này có chồng Mỹ và đã theo chồng về nước năm 70. Cu không biết một chữ tiếng Anh và cần giúp đỡ để điền những mẫu đơn thiết lập hồ sơ xin định cư tại Hoa Kỳ. Nghe vậy, tôi nhanh nhẩu nói với cụ:

-Ngoại đừng lo ( tôi van có thói quen gọi những bà cụ già là ngoại ), ngoại đi theo con. Con nói được tiếng Anh, con sẽ giúp ngoại.

Bà cụ mừng rỡ cám ơn tôi rối rít. Tôi đưa cụ tới bàn lập thủ tục, trình bày với nhân viên phụ trách về hoàn cảnh của cụ. Việc lập thủ tục định cư khá giản dị nên chỉ mất độ hơn hai mươi phút là bà cháu tôi đã ra khỏi văn phòng. Thấy bổn phận mình đã xong, tôi kiếu từ bà trở về lều tạm trú.

Khoảng hơn nửa giờ sau đó, tôi bỗng giật mình khi thấy bà khệ nệ, tay xách nách mang hành lý cá nhân vào lều của tôi. Bà cườI lả vả:

- Bà dọn qua đây ở với con cho vui. Chừng nào đi Mỹ, con cho bà theo con.

Tôi than thầm: khi không lại mang rắc rối tớI cho mình Tuy nghĩ vậy nhưng tôi cố làm vui:

-Dạ được, con sẽ đưa ngoại qua tới Mỹ.

Sáng hôm sau, bà cháu tôi được ban điều hành trại thông báo chuẩn bị đi Cali vào buổi chiều hôm đó. Xế trưa, hai chuyến xe bus đến trại đưa chúng tôi ra phi trường. Một thân một mình, lại di tản bất đắc dĩ nên hành lý của tôi chẳng có gì ngoài bộ quấn áo trên người và một cái túi xách nhỏ. Ngược lại, bà ngoại của tôi lớp va li, lớp xách tay, lớp giỏ, lớp bị, ôi thôi thật lỉnh kỉnh. Vài giờ sau, chiếc Boeing 747 khổng lồ rời đảo Guam mang theo tôi và mấy trăm dân Mít tị nạn vượt biển Thái Bình để về miền Cali nắng ấm.

Tôi đang thiu thiu ngủ trong khi chiếc Boeing lướt gió tung mây vượt đại dương, thì bỗng bị bà ngoại đánh thức. Mở mắt, tôi thấy bà mếu máo cho biết là bà đã để quên cái xách tay trên xe bus. Tôi hỏi bà trong xách tay có những gì thì ba bảo là toàn bộ giấy tờ cá nhân và hồ sơ bảo lãnh của cô con gái. Nghe xong tôi tái mặt nghĩ thầm: thôi khổ nữa rồi, đúng là ách giữa đàng lại đi mang vào cổ . Tôi trấn an bà rằng khi tới Mỹ sẽ có nhân viên giúp bà tái lập lại hồ sơ.

Tuy vậy, tôi cũng biết chuyện này không phải dễ.

Những ngày trong trại Pendleton

Chúng tôi tới trại Pendleton vào đêm 5-5-75. Trại Pendleton là một căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, cách Little Saigon khoảng 40 dặm về hướng Nam. Có tất cả tám trại tị nạn được dựng lên rải rác trong căn cứ. Ngoại trừ trại 1, 2 và 3 là những nhà ngủ của lính Mỹ, những trại còn lại được dựng lên bằng những cái lều vải khổng lồ. Trại 1 đến trại 7 đã hết chỗ, nên chúng tôi là những người đầu tiên được đưa tới trại 8. Mọi người được phát cho một cái ghế bố để nằm, một cái phao hơi (air matress) làm nệm, hai tấm khăn trải, một cái gối và một cái chăn len.

alt

Camp Pendleton 1975 - TQS là người thứ 4 từ trái

Những đêm đầu, tôi không thể nào chợp mắt. Chu choa mẹt ơi, xứ sở gì mà lạnh thế. Có lẽ vì chưa quen với thời tiết nên mặc dù giữa mùa xuân mà tôi cứ tưởng như mình đang sống giữa mùa đông giá lạnh. Mỗi đêm, tôi đóng vào người bộ long-jon (quần áo ngủ của quân đội), ngoài mặc quần dài và áo sơ-mi, khoác thêm cái áo lạnh, đắp hai cái chăn len, thế mà tôi vẫn co ro không đủ ấm. Bà ngoại cũng được một cái ghế bố cạnh bên.

Mấy ngày sau, tôi đưa bà lên văn phòng cao ủy tị nạn để lập hồ sơ di trú và tìm người bảo trợ. Phần của tôi thì dễ dàng, nhưng của bà ngoại thì không như vậy. Tôi trình bày cho ngườI nhân viên phụ trách là bà có một người con gái hiện đang ở Mỹ, đã làm giấy bảo lãnh cho mẹ, nhưng toàn bộ hồ sơ bảo trợ cùng giấy tờ tuỳ thân của bà đã bị thất lạc tại đảo Guam. Khi người nhân viên sở di trú hỏi đến tên người con gái, con rể và đîa chỉ hiện tại thì bà hoàn toàn không biết gì ngoài một chi tiết không mấy quan trọng: tên của người con gái là Nguyễn thị Hoa, theo chồng về Mỹ năm 1970. Nghe xong, người nhân viên thở dài cho biết là việc tìm cô con gái của bà khó như tìm kim đáy biển. Lý do là chỉ với một cái tên, lại là tên Việt Nam, thật tình không đủ dữ kiện. Thêm vào đó, người con gái của bà có thể bây giờ đã có một cái tên Mỹ hoặc đang mang tên họ của chồng. Người nhân viên này còn cho biết nếu bà biết được tên thành phố và tiểu bang nơi cư trú, thì may ra...

Trở về lều, tôi hỏi bà còn bất cứ một thứ giấy tờ nào liên quan đến cô con gái hay không ? Sau một hồi lục lọi mấy cái va-li, bà moi ra được một bức thư đã nhầu nát và đưa cho tôi. Đây là lá thư của cô con gái ở Mỹ, viết tay bằng Việt ngữ, gởi cho cô em mình ở Sài- Gòn vài tuần lễ trước khi bà rời Việt Nam. Xui xẻo thay, lá thư chẳng có phong bì, đầu thư lại không ghi xuất xứ, nội dung thì chỉ toàn chuyện trên trời dưới biển. Tôi đọc kỹ từng dòng của lá thư, thất vọng định trả lại cho bà thì ở giòng cuối cùng, một câu viết bằng Anh ngữ đã đập vào mắt tôi: 'Hope she'll be in Mobil soon'.

Oh my God ! Tôi mừng hơn bắt được vàng, ba chân bốn cẳng chạy lên văn phòng sở di trú, tìm gặp người nhân viên đã giúp chúng tôi buổi sáng, vui mừng nói:

-'I found it, I found it'.

Tôi cho người nhân viên biết là cô con gái cua bà hiện đang sinh sống ở thành phố Mobil, thuộc tiểu bang Alabama. Nghe xong bà ta nói:

-Rất tốt, nhưng anh đừng quá hy vọng. Chỉ với một cái tên và thành phố nơi cư ngụ, việc truy lùng không phải là dễ. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức.

Nhưng tôi vẫn hy vọng và tin tưởng vào đấng tối cao.

Chỉ vài ngày sau đó, văn phòng sở di trú gọi tôi lên và đưa cho tôi số điện thoại của cô con gái. Họ đã liên lạc được với cô và đã hoàn tất thủ tục bảo lãnh cho mẹ của cô. Tôi vui mừng, trở về báo tin vui cho bà ngoại. Tôi điện thoại cho cô con gái và xin cô làm ơn mau mau đến đón mẹ cô về.

Một tuần sau, cô con gái cùng chồng đã đến trại Pendleton đón mẹ. Họ cảm ơn tôi và mong muốn được trả ơn. Tôi từ chối:

-Xin chị đừng bận tâm, chuyện tôi giúp bà ngoại chỉ là chuyện nhỏ. Điều quan trọng là mẹ con chị đã được đoàn tụ.

Riêng bà ngoại đã ôm choàng lấy tôi mà khóc. Tôi cũng mủi lòng và chúc bà đi được bình an. Ngày hôm đó, tôi cảm thấy thật vui vì nghĩ mình đã làm được một việc thiện.

Đời sống trong trại Pendleton thật quá nhàn hạ. Dân tị nạn cả ngày chỉ có mỗI một việc làm là sắp hàng ăn cơm: sáng sắp hàng ăn điểm tâm, trưa sắp hàng ăn trưa, chiều sắp hàng ăn chiều... Tối đến bà con lại kéo nhau đi xem movie, giờ rảnh thì tự do ngủ, đọc sách, đi lang thang hoặc chơi thể thao...cho qua ngày.
Qua tuần lễ đầu, tôi đã cảm thấy chán. Là một người năng động và thích công tác xã hội, tôi cùng một vài người nữa bèn tổ chức những lớp dạy Anh Văn miễn phí cho đồng hương. Chúng tôi lấy nhà ăn làm lớp học, một ngày dạy hai buổI, mỗi buổi hai giờ. Chúng tôi cũng kêu gọi sự tình nguyện trợ giúp của những vị có khả năng sinh ngữ. Lúc đầu, con số tình nguyện lên đến được gần 20.

Vì chúng tôi dạy 'chùa' nên số học viên mỗI ngày một tăng trong khi số giáo sư mỗI ngày một giảm. Chưa được một tháng, số giáo sư chỉ còn lại năm người. Kết quả là hai ba lớp được dồn làm một và mỗI giáo sư phải dạy hai lớp một lần. Dạy lớp này một chút, xong chạy qua dạy lớp kia một chút. Thú thật, có nhiều lần tôi cũng hơi nản chí và cũng muốn bỏ cuộc. Nhưng khi đến lớp học, nhìn những vị học viên lớn tuổi nói tiếng Anh giọng Pháp, học đâu quên đó nhưng vẫn không nản chí, vẫn hai buổi ngày ngày tới lớp, đã làm tôi suy nghĩ. Đây là động lực chính đã giúp tôi có thể tiếp tục nghề giáo sư 'bất đắc dĩ' này.

Một hôm, ban quản trị trại mờI tôi lên phòng điều hành để gặp một ngườI đàn bà Mỹ tên là Felicity Bach. Bà Bach là một giám đốc của hộI Hồng Thập Tự Hoa Kỳ. Bà cho tôi biết là bà đã xin được tiền chính phủ cho lớp Anh Văn và từ nay chúng tôi sẽ được trả lương, năm đồng một giờ, miễn thuế. Bà muốn tôi điều hành chương trình giảng dạy Anh Ngữ cùng tổ chức lại cho có phương thức. Bà cũng đề nghị tôi tuyển thêm một số giáo sư nữa. BuổI chiều hôm đó, một hàng dài ngườI đã sắp hàng để nộp đơn, trong số này có cả những ngườI đã bỏ chúng tôi trong những tuần lễ trước.

HộI Hồng Thập Tự, phối hợp với Bộ Y tế, Giáo Dục và Xã Hội (HEW) cũng tuyển thêm những sinh viên du học Việt Nam và những người Mỹ thiện nguyện bên ngoài vào trại để giúp chúng tôi. Họ cũng cung cấp cho chúng tôi tài liệu giảng dạy và dụng cụ văn phòng. Nhờ có tiền, sinh khí của những lớp Anh văn bỗng dưng trở nên sôi động. MỗI một lớp học được một giáo sư Việt Nam và một giáo sư Mỹ phụ trách. Đó là những ngày vui nhất của tôi vớI trại Pendleton.

Một lần nữa, sự may mắn lại đến vớI tôi. Một trong số những ngườI Mỹ thiện nguyện tốt bụng này đã cho tôi biết là bà có ngườI bạn ngỏ ý muốn bảo trợ cho tôi. Tháng 8 năm 75, tôi giã từ trại Pendleton nhiều kỷ niệm, giã từ những lớp Anh Văn thân yêu để về Newport Beach, bắt đầu cho một cuộc sống mớI trên miền đất được mệnh danh là : ' Land of opportunities: Miền đất của cơ hội'.

Ông bà bảo trợ đã cho tôi trú ngụ trong nhà họ miễn phí, cho tôi ăn uống miễn phí, đối xử vớI tôi như một ngườI thân và giúp tôi tìm được một việc làm trong một hãng điện tử tại Irvine. Sau ba tháng, cảm thấy mình đã đủ lông đủ cánh tôi bèn xin phép ông bà để được tự lập. Ông bà đã đích thân mướn cho tôi một căn apartment và đã trả trước cho tôi ba tháng tiền nhà. Thật là những tấm lòng vàng hiếm có.

Sự may mắn lạ kỳ vẫn còn theo tôi cho đến ngày hôm nay. Gần bốn mươi năm sống trên đất Mỹ, cuộc đời tôi cũng nhiều lần gặp sóng gió và cũng nhiều lần chao đảo. Nhưng kỳ lạ thay, mỗI lần tôi gặp khó khăn thì sự may mắn kia lại đến với tôi và dường như có một bàn tay vô hình nào đó đã giúp tôi vượt qua những sự khó khăn kia một cách dễ dàng.

Xin cảm tạ Trời Đất, xin cám ơn my Guardian Angel.

Trần Quốc Sỹ
Huntington Beach, CA

Comments  

 
#1 T Trúc 2013-05-09 21:14
Lâu lắm mới thấy lại mấy túp lều , xin hỏi tấm hình trên chụp ở trại số mấy ?
Cảm ơn
Quote
 
 
#2 Trần Quốc Sỹ 2013-05-12 20:32
T. Trúc

Như tôi đã trình bày, tôi là những người đầu tiên được đưa đến trại 8.

Tấm ảnh này chụp trong khu D4, trại 8.
Quote
 
 
#3 Vân Võ Hoài Phương 2013-05-24 07:09
Kính chào Câu lạc bộ TÌNH NGHỆ SĨ
Tôi rất ưa thích những truyện ngắn của nhiều tác giả đã đăng trên các trang văn nghệ đó đây, và ngày hôm nay tôi vừa gửi đến Câu lạc bộ TÌNH NGHỆ SĨ một phần đầu truyện ngắn Cõi Thường, để góp vui văn nghệ với bạn gần xa. Hiện nay tôi chưa rõ Clb TNS đã nhận được hay truyện ngắn chưa gửi tới. Vậy tôi viết vài dòng này nhờ nơi đây gửi đến để biết thêm và xin Quý Clb TNS đã nhận được truyện ngắn cứ việc đăng dần và tôi gửi tiếp những phần sau (xin tùy nghi nhuận sắc.. ).
Mời liên lạc: Vân Võ Hoài Phương
Email: vanvohoai@hotma il.com
Blog của tôi: //sotayvannghe.blogspot.com
CHÚC VUI !
Quote
 
 
#4 Vân Võ Hoài Phương 2013-05-24 09:43
Kính chào Câu lạc bộ TÌNH NGHỆ SĨ và BẠN GẦN XA
Vài dòng lúc trước viết vội, nghĩ ra còn thiếu sót đôi điều, nay xin viết thêm rất mong Bạn gần xa hiểu thấu. Với riêng tôi, thể "Hồi Ký" là thể văn khó viết. Bởi khung cảnh trong một thiên hồi ký rất rộng, nhiều nhân vật có thật trong đời và nhiều tình tiết gay cấn, hấp dẫn đượm chất lịch sử không đơn giản như các truyện ngắn hoặc truyện dài mà người viết truyện có thể mô phỏng đời thường hay tự nghĩ ra. Người ta có thể dễ dàng quên vài truyện ngắn hoặc vài truyện dài thế nhưng khó thể quên một thiên hồi ký giá trị ghi lại một thời tác giả đã từng trải qua với nhiều cảm nhận quí giá.
Rất mong nhận được những chia sẻ của Bạn gần xa.
Vân Võ Hoài Phương
Quote
 

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

 

Show Other Articles Of This Author

Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account