CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Kiến Thức

Kiến Thức

Tìm Hiểu Về Bệnh Ebola

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

1. Nguyên nhân

Virus gây bệnh được tìm thấy lần đầu vào năm 1976 tại một ngôi làng ven lưu vực sông Ebola, tại quốc gia trước đây là Zaire nay đổi tên thành Cộng Hòa Dân Chủ Congo. Do đó tên Ebola được dùng để chỉ virus gây dịch sốt xuất huyết này.

Last Updated ( Thursday, 16 October 2014 20:58 )
 

ĂN CHAY

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Tại các nước kỹ nghệ phát triển, thịt cá là một phần quan trọng trong đồ ăn. Riêng tại Hoa Kỳ giàu có, thịt là món ăn chính trong bữa đối với nhiều người. Nhưng trong những thời gian gần đây, ăn chay đã trở thành một phong trào. Đồ chay chế biến đủ loại bày bán trong các tiệm thực phẩm sức khỏe (health food stores). Trong khung cảnh này, người ta ăn chay vì những lý do khác nhau: Bảo vệ môi sinh, chăm lo sức khỏe, thương yêu súc vật, lý do thời thượng, và cả vì lý do thương mại.

 

5 Hiểm Họa Khi Dùng iCloud

E-mail Print

Hệ thống lưu trữ điện toán đám mây của Apple mang tên iCloud mang lại rất nhiều sự tiện lợi cho người dùng thế nhưng kèm theo đó cũng là những hiểm họa khó lường.

 

Âm Nhạc: Thần Dược Của Thân và Tâm

E-mail Print

A. Âm nhạc và cuộc sống

Âm nhạc là thứ gắn liền trong cuộc sống của con người. Song không đơn giản là một phương tiện giúp con người thư giãn và giải trí, âm nhạc còn có tác động rất lớn đến sức khoẻ thể chất, tinh thần và cảm xúc con người. Sử dụng âm nhạc như một phương pháp chữa bệnh từ lâu đã trở thành một vấn đề nghiêm túc được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

 

Szilard, Cha Đẻ và Cũng Là Đối Thủ Của Bom Nguyên Tử

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Szilard, cha đẻ và cũng là đối thủ của bom nguyên tử

Cho đến nay, người ta chưa biết những gì sẽ xảy tại các nước thuộc Á Châu trong trường hợp nếu bị Nhật thống trị trong kỳ đệ nhị thế chiến (?) nhưng có điều không thể phủ nhận được là chính nước Mỹ sau khi đánh bại Nhật đã giúp Nhật tái thiết quốc gia để ngày nay Nhật Bản trở thành một cường quốc về kinh tế và kỹ nghệ.

Lê Hoàng Thanh

(Phóng dịch theo tài liệu của M.C. Schulte; v. Drach und B. Oswald)

alt

Thay lời mở đầu: Người viết không phải là khoa học gia, cũng chẳng là nhà vật lý học nên với khả năng hạn hẹp của mình, chắc chắn không tránh khỏi những sơ sót khi dùng những từ chuyên môn trong bài này. Kính mong quí vị thức giả, chuyên gia trong ngành lượng thứ và chỉ giáo cho.  Xin trân trọng cám ơn (LhTh). 

Cali Today News - Vài ngày trước đó và đặc biệt ngày 06.8, truyền thông, truyền hình loan tải và chiếu lại những hình ảnh thảm thương liên quan đến cuộc dội bom nguyên tử của Mỹ cách đây 69 năm ở Hiroshima, làm chết hơn 240 ngàn người Nhật, buộc Nhật phải đầu hàng vô điều kiện sau đó.

 
  Nói đến bom nguyên tử (A-Bom), hầu như người ta chỉ biết hay nhắc đến 3. Robert Oppenheimer là người hình thành A - Bom và Albert Einstein là khoa học gia chủ xướng sự nghiên cứu, lí do dễ hiểu vì Openheimer là giám đốc đề án này. Nhưng người cha đẻ có sáng kiến của loại vũ khí hạnh nhân là nhà vật lý học Leo Szilard, ít ai biết đến. Tuy là cha đẻ của loại A-Bom nhưng Szilard lại là người đã chống đối vụ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima của Nhật, chống kịch liệt so với những khoa học gia khác. Đời sống của Szilard là một lịch sử bao gồm khoa học, trách nhiệm và thất bại. 

Tên tuổi của Szilard ít người nhắc đến liên quan đến loại vũ khí hạnh nhân. Leo Szilrad sinh năm 1898 tại Hung ga Ri (Ungarn) và đúng ra mới là người khá phá ra loại vũ khí nguy hiểm này. Szilrad là một nhà ảo tưởng và có sáng kiến chế tạo bom nguyên tử và đây cũng là nguyên nhân chính đưa đến một bi kịch cho chính bản thân ông ta. Ngay từ tháng 9.1933, Szilard đã tiên đoán là có thể có một sự phản ứng dây chuyền về hạt nhân nguyên tử . Tuy nhiên nhiều khoa học gia đương thời đã tranh luận dữ dội và bác bỏ giả thuyết của Szilard. 

Các nhà nghiên cứu hàng đầu lúc bấy giờ như Lord Rutherford, Enrico Fermi và Otto Hahn không tin rằng “hạt nhân“ có thể bị tán nhỏ ra được. Tuy nhiên, Szilard là nhà vật lý hạt nhân có tiếng nói khá mạnh trên phương diện này. Ông ta là người có đầu óc, từng làm ngạc nhiên đồng nghiệp qua những giả thuyết của ông nhưng ít khi theo dõi rốt ráo những giả thuyết này, phần đông dành sự nghiên cứu cho người khác. Dầu vậy, sự suy nghĩ của Szilard làm cho người ta phải lưu ý và thận trọng, một phần cũng nhờ cuốn tiểu thuyết với nhan đề “A World Set Free“ của H.G. Wells. Chính Wells, tác giả cuốn “Krieg der Welten“ (War of the World) đã diễn tả một thế giới vào năm 1914 trong đó con người sẽ sử dụng năng lương nguyên tử là nguồn năng lượng rất phong phú, vô tận và có thể gây nên một cuộc chiến tranh nguyên tử!

Cũng vào năm 1933, Szilard, vốn gốc người Do Thái và đã theo học tại Bá Linh di dân sang Anh quốc, sau khi Quốc Hội Đức bị cháy, ông đã nhìn thấy được là nước Đức muốn gì trong thời gian kế tiếp. Tài sản và tiền bạc ông ta đã chuyển vào trương mục tại Thụy Sĩ năm 1930. Trong thời gian sống tại London ông ta can thiệp cho các khoa học gia cùng cảnh ngộ (dạng di dân) có công ăn việc làm trong khi chính bản thân ông ta lại thất nghiệp. Năm 1934 ông ta nộp giấy đăng bạ phát minh của mình tại phòng cấp và quản lý bằng phát minh Anh quốc, trong đó lần đầu tiên ông đề cập đến sự phản ứng dây chuyền hạt nhân (nuklare Kettenreaktion) và trình bày ý niệm về sự nguy kịch của khối lượng (Idee der kritischen Masse= Idea of critical mass). Nhưng vì không muốn công khai phổ biến những tài liệu cuả mình nên Szilard đã nhượng quyền phát minh cho chính quyền Anh.

Trong những năm kế tiếp, Szilard luôn lên tiếng cảnh giác rằng chiến tranh sẽ bùng nỗ. Ông ta tuyên bố: “Tôi sẽ di dân, một năm trước khi Hitler gây ra chiến tranh“. Và khi Đức quốc Xã chiếm cứ phần lớn nước Tiệp Khắc vào năm 1938 thì Szilard đã không trở về Âu Châu trong một chuyến du lịch sang Mỹ. Cũng tại Mỹ, đầu năm 1939 ông ta nghe được một hiện tượng mới từ Bá Linh do hai khoa học gia Otto Hahn và Fritz Strassmann khám phá ra là qua sự bắn phá Uran với trung nguyên tử (Neutron= nơtron) sẽ hình thành được Barium. Lần đầu tiên vật lý gia đã tán nhỏ ra được hạt nhân nguyên tử (Atomkern= atomic nucleus). Điều này cho thấy giả thuyết của Szilard trước đây là đúng.

Liền sau đó Szilard lui vào phòng thí nghiệm tại Đại Học Columbia ở New york, kiểm chứng lại giả thuyết thứ hai của ông ta là qua sự tán nhỏ Neutron sẽ được tự do (free), tiền đề cho sự phản ứng dây chuyền (Kettenreaktion=series of reactions). Ngày 03.3.1939, cùng với người bạn đồng nghiệp là Walter Zinn ông đã chứng giả thuyết thứ hai của mình cũng đúng nốt. Ngay trong đêm đó, chính Szilard đã tiên đoán là thế giới bắt đầu đi vào một tai hoạ không tránh được. Ít ngày sau, những khoa học gia được giải Nobel như Enrico ở Newyork và Frederic Joliot ở Paris đã xác nhận kết quả thí nghiệm của Szilard. Và theo Szilard, cuộc thí nghiệm thành công nói trên đã tạo nên cơ hội chế tạo ra bom nguyên tử (A-Bom). 

Nhưng Szilard lại hy vọng với sự giúp đở của những đồng nghiệp ông ta có thể ngăn chận được sự chế tạo loại bom nguy hiểm này. Ông ta yêu cầu các bạn đồng nghiệp phải tuyệt đối giữ bí mật kết quả các cuộc thử nghiệm nói trên, đặc biệt là ông yêu cầu Joliot đừng phổ biến những kết quả của ông. Tuy nhiên Joliot không thèm để ý đến lời yêu cầu của Szilard. Sau khi Joliot phổ biến kết quả nghiên cứu thì Fermi thấy là sự giữ bí mật không cần thiết nữa nên cũng cho phổ biến luôn kết quả thí nghiệm của mình. Đầu hè 1939, tất cả kết quả đều được công bố, trong đó có cả kết quả của Szilard. Qua đó, những khoa học gia Đức như Heisenberg và von Weizsaecker có đầy đủ lý thuyết để có thể chế tạo được A-Bom như Szilard tiên đoán, nếu họ có đầy đủ Uran. 

Szilard vốn biết rằng, Albert Einstein, người đã cùng ông ta đăng bạ vài phát minh mới lại là chỗ quen biết với Nữ hoàng Bỉ Elisabeth nên đã cùng với Eugene Wigner (cũng xuất thân từ Ungarn như ông ta) đến thăm Einstein trong khi ông này nghỉ hè tại Long Island. Sau khi bàn thảo xong ba người này đồng ý để Einstein viết thư cho Tổng Thống Mỹ Roosevelt, nhằm mục đích cảnh giác Rosevelt nên đề phòng Đức quốc Xã sẽ chế bom nguyên tử. Cuối thư, họ đề cập Mỹ cũng nên tìm cơ hội tự chế loại A-bom này! Lá thư được Szilard trao chuốt lại và gởi cho TT Rosevelt ngày 02.8.1939 do Einstein ký tên. 

Lá thư nói trên đến tay TT Rosevelt khi mà chiến tranh Âu Châu vừa bắt đầu bùng nỗ, chẳng một phản ứng, xem như không có gì xảy ra từ phiá Mỹ. Mãi đến mùa thu 1940, khi Fermi và Szilard có đủ tiền thì hai người mới bắt đầu làm việc, phần lớn Fermi thì lo việc chế tạo A-bom trong khi Szilard lãnh nhiệm vụ suy nghĩ, không muốn nhọc thể xác nhiều. Qua sự thành công của Fermi-Szilard, chính quyền Mỹ mới nảy ra ý định là việc chế tạo A-Bom có thể thực hiện được, cho dù Đức đã bắt đầu rồi. Lần này thì hai bên Mỹ, Fermi và Szilard đồng ý giữ bí mật kết quả do hai người đạt được, như chính Szilard mong muốn.

Từ đó, tất cả những việc liên quan đến năng lượng hạt nhân được thực hiện dưới đề án chung mang tên “Manhattan Project“, dưới sự điều hành của nhà Vật lý Học J. Robert Oppenheimer. Lúc đầu, các công viện chính được thực hiện tại trung tâm thí nghiệm kim loại của Đại Học Chicago. Mãi tới tháng 12 năm 1942 sự phản ứng dây chuyền (Kettenreaktion=chain reaction) lần đầu tiên mới thành công tại lò phản ứng trung nguyên tử của Fermin và Szilard.

Năm 1943, khi mà Oppenheimer, Fermi và nhiều vật lý gia khác chuyển về Los Alamos thuộc vùng New Mexicos thì Szilard vẫn ở lại Chicago, tiếp tục phát triển và hình thành lò nguyên tử lực tại đây.

Tuy nhiên, tất cả đi ra ngoài ý muốn của Szilard. Ý định của ông muốn thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống một trung tâm nguyên tử lực Đức cũng như lên đầu Hitler bất thành vì đầu năm 1945, đồng minh đã đánh bại Đức quốc Xã làm cho Szilard không còn đối tượng để thả bom nữa. Thay vào đó, Szilard lần nữa liên lạc với TT Rosenvelt yêu cầu quốc tế kiểm soát, đừng cho chế tạo và sử dụng A-bom. Szilard lại cần đến sự hổ trợ của Einstein và có cơ hộ được gặp gở với phu nhân TT Rosenvelt là bà Eleanor. Nhưng không đạt được ý nguyện vì Rosenvelt, người đã ừng nghe theo lời Einstein, bị chết thình lình vào ngày 12.4.1945.

Lúc bấy giờ Harry S. Truman là Phó Tổng Thống nhưng không nắm vững vấn đề đối ngoại của Mỹ. Mãi đến ngày 25.5.1945, Truman mới nghe nói đến vũ khí hạnh nhân, vị chi 13 ngày sau khi đã nhậm chức thay thế cố TT Rosenvelt. Szilard được giới thiệu với James Bymes, một người rất thân cận của TT Rosenvelt, hiện giữ vai trò cố vấn cho TT Truman. Ngày 28.5.1945, Szilard gặp Bymes (sau trở thành ngoại trưởng Mỹ) nhưng Bymes chẳng thiết tha gì đến đề nghị và con người “khó tính“ Szilard. Chính Bymes đã nhìn thấy sự lo ngại đến với Mỹ từ Nga Sô và nhìn thấy rằng qua vũ khí nguyên tử, Mỹ có thể làm áp lực đối với Stalin. Sau đó Mỹ bỏ ra 2 tỉ Dollars để phát triển và chế tạo bom nguyên tử.

9 ngày trước khi thông báo cho TT Truman biết, Tướng Groves, giám đốc Pentagon và Đại Tá Tibbets cũng như vài sĩ quan cao cấp khác và khoa học gia đã nhóm họp và đã ấn định vài trọng điểm sẽ bị dội bom nguyên tử (A-bom). Cuối tháng 4.1945 một ủy ban cố vấn về vũ khí nguyên tử gồm chính trị gia, các nhà quân sự và khoa học gia, trong đó có Oppenheimer và Fermi ra đời. Và trong cuộc họp có tính cách quyết định vào ngày 31.5.1945, ủy ban nói trên với sự tham dự của ngoại trưởng Bymes và Tổng trưởng chiến tranh Henry Stimson đã khuyên TT Truman nên sử dụng ngay A-Bom để chống lại Nhật trong thế chiến thứ hai, không cần phải cảnh cáo trước. Sau cuộc họp nói trên, Bymes đến gặp Truman và cho Truman biết là theo sự ước tính của Bymes sẽ có khoảng 500 ngàn người Nhật bị chết vì A-bom.

Dựa vào dữ kiện này, Truman đồng ý đề nghị của ủy ban. Tuy nhiên có nhiều người cộng tác trong đề án “Manhattan Project“ ở Chicago không đồng ý với quyết định của Truman. Bài tường trình “Frank-Report“ vào ngày 11.6.45, trong đó Szilard tham gia hết mình, yêu cầu tổng trưởng chiến tranh Stimson nên công khai trình diễn một cuộc thí nghiệm loại vũ khí nguyên tử với sự tham dự của đại diện các quốc gia khác trên thế giới. Sau đó nên gởi tối hậu thư cảnh cáo Nhật. Nhưng Stimson không thay đổi ý định, quyết sử dụng A-bom trên lãnh vực quân sự. Szilard vẫn chưa chịu thua, trong khi Tướng Groves tìm bằng cớ để buộc tội phản quốc đối với Szilard là một di dân nhập tịch Mỹ năm 1943 thì ông ta đã thảo một lá thư khác vào ngày 17.6.45, trong đó yêu cầu ít ra phải cảnh cáo Nhật và phải tạo cơ hội để cho Nhật đầu hàng. Có 70 nhà nghiên cứu về nguyên tử lực ký tên ủng hộ thư này, trong đó có cả Eugene Wigner. Szilard gởi văn thư này đi Washington nhưng về sau người ta nghĩ rằng chắc Tổng Thống Truman không đọc.

Một tuần lễ sau, 25.7.45. TT Truman đã ghi trong nhật ký của ông ta nhân cuộc hội nghị tứ cường tại Postdam (Đức) là Mỹ đã khám phá ra một vũ khí rất khủng khiếp trên lịch sử thế giới. Truman còn viết thêm, yêu cầu Stimson là “vũ khí này chỉ sử dụng nhằm mục đích phá hủy những căn cứ quân sự và lính cũng như thuỷ thủ, không được phép sát hại đàn bà và trẻ con“! Trong cùng ngày, Chỉ huy trưởng lực lượng United Statea Army Strategic Air Forces, tướng Groves đã ra lệnh cho tướng Carl Spaatz, thả trái A-Bom đầu tiên vào các mục tiêu đã ấn định sau ngày 3.8.45 khi thời tiết quang đảng cho phép: Hiroshima, Kokura, Niigata và Nagasaki. Hầu như không đề cập đến chuyện mục tiêu sẽ là các cơ sở quân sự mà chỉ nói là các thành phố. Dầu rằng các khoa học gia nghiên cứu và chế tạo ra loại vũ khí hạnh nhân nhưng có thể nói là chưa ai biết rõ được tầm hủy diệt của loại vũ khí này. Mục đích chiến lược của Tổng Thống Mỹ đã rõ ràng. Mỹ muốn sử dụng vũ khí tối tân này buộc Nhật phải đầu hàng ngay lập tức. Vì thế Mỹ phải tấn công bất ngờ.

Ngày 06.8.1945, trái bom nguyên tử đầu tiên được thả xuống thành phố Hiroshima. Ngày 09.8.45, thành phố Nagasaki lãnh thêm trái bom nữa làm hàng trăm ngàn người bị vong mạng, trong số đó có đàn bà và trẻ con. Cùng ngày, Giám đốc “Manhattan Project“, Oppenheimer từ chức.

.... Szilard nhìn biết được thảm cảnh do A-Bom tại Hiroshima và Nagasaki qua truyền thông. Ngày hôm sau, Szilard tuyên bố :“ Việc sử dụng bom nguyên tử chống Nhật là một lỗi lầm lơn nhất trong lịch sử. Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể để ngăn cản, nhưng tôi đã thất bại“. Qua sự việc thả thêm trái bom thứ 2 vài ngày sau đó tại thành phố Nagasaki, theo Szilard là một sự tàn nhẫn! Ông ta cũng biết, Nga Sô chế tạo loại vũ khí nguyên tử nói trên. Vì thế, một năm sau thế chiến, năm 1946, cùng với Einstein ông ta thành lập một Ủy Ban gọi là Emergency Commitee of Atomic Scientists, mục đích cảnh giác quần chúng trước sự nguy hiểm của vũ khí hạnh nhân và yêu cầu sử dụng năng lượng hạt nhân cho những nhu cầu hoà bình. Mục đích xa của những khoa học gia này là duy trì nền hoà bình thế giới. Năm 1947, ông ta viết thư cho Josef Stalin và vì thế, bộ tư pháp Mỹ hăm doạ sẽ tống giam ông ta. Trong thư viết cho Stalin, Szilard đề nghị là Stalin và Truman nên cùng nhau lên tiếng với thế giới qua Radio nói về vũ khí hạnh nhân (mãi đến năm 1988 đề nghị này mới được Reagan và Michael Gorbatschow thực hiện). 

Năm 1948, Szilard từ bỏ ngành vật lý học, theo đuổi ngành sinh vật học khi ông đã 48 tuổi. Năm 1958, ông ta bị ung thư bọng đái nhưng khỏi được nhờ phương pháp chữa trị bằng những tia sáng quang tuyến do ông ta phát minh. Năm 1950, chính Szilard cũng muốn ngăn chận người bạn cũ là Edward Teller ngưng phát minh loại bom khinh khí (gọi là H-Bom) nhưng bị thất bại. 

Ngày 30.4.1964, Szilard, cha đẻ của vũ khí hạnh nhân (A-Bom) đã ngủ thiếp đi vì chứng nhồi máu cơ tim, chết lúc vừa tròn 66 tuổi. 

Thay lời kết: 

Người viết chỉ muốn nói là thế chiến thứ ba cho đến nay chưa xảy ra như Szilard đã lo sợ khi chính ông ta biết được sự tàn phá ghê gớm của vũ khí hạnh nhân. Vào giữa thế kỷ 20, thay vì Đức như Szilard nghĩ, Mỹ là nước đầu tiên có bom nguyên tử nên đã chiếm được ưu thế trong đệ nhị thế chiến, sau đó là các cường quốc Nga, Anh, Pháp và Trung Cộng, được gọi là ngũ cường. Với thời gian những nước như Do Thái, Ấn Độ hay Pakistan cũng chế tạo được loại vũ khí nguy hiểm này. 

Gần đây, Bắc Hàn nói là cũng có A-Bom và I-Ran đang tìm mọi cách để trở thành một quốc gia có bom nguyên tử. Có thể ngũ cường biết “kẻ tám lượng người nửa cân“ nên tuy chiếm thượng phong trên lãnh vưc này họ đã cân nhắc hơn khi sử dụng vũ khí hạnh nhân. Tuy vậy, mặc dầu thế giới đã sợ chiến tranh, sợ bom đạn nhưng nhiều quốc gia vẫn không ngừng nghỉ chế tạo ra đủ loại vũ khí tối tân khác không ngoài mục đích củng cố thế lực quốc qia mình trên chính trường thế giới. 

Có thể nói Nga và Mỹ dẫn đầu trên phương diện vũ trang. Ba mươi chín năm trước đây (1975), Mỹ bỏ Việt Nam vì nhiều lý do, trong đó lý do chính trị, dư luận thế giới qua các phong trào phản chiến đóng vai trò rất quan trọng. Theo thiển ý người viết, Mỹ không thất bại vì thiếu bom đạn, điển hình là Mỹ đã đánh bại A Phú Hãn và gần nhất, thôn tính I-Rắc chỉ trong thời gian rất ngắn, nếu Mỹ muốn. Điều này cũng đã xảy ra tại Hiroshima 69 năm về trước, khi Truman còn là Tổng Thống Mỹ, dùng vũ khí buộc Nhật đầu hàng. 

Cho đến nay, người ta chưa biết những gì sẽ xảy tại các nước thuộc Á Châu trong trường hợp nếu bị Nhật thống trị trong kỳ đệ nhị thế chiến (?) nhưng có điều không thể phủ nhận được là chính nước Mỹ sau khi đánh bại Nhật đã giúp Nhật tái thiết quốc gia để ngày nay Nhật Bản trở thành một cường quốc về kinh tế và kỹ nghệ. 

Việt Nam thống nhất kể từ 30.4.1975, sau khi Miền Nam VN Tự Do bị cộng Sản miền Bắc với sự giúp sức về tài lực, nhân sự cũng như vũ trang của khối cộng sản quốc tế cưỡng chiếm nhưng hiện tại kinh tế vẫn còn èo uột. VN bây giờ vẫn còn nằm trong số 50 quốc gia nghèo nhất thế giới với lợi tức khoảng 500 US-Dollars/năm cho mỗi đầu người. Phải chăng đây là kết quả của chính sách ngoại giao khi Việt Nam đã bỏ tư bản Mỹ và chỉ “chơi“ với các nước đàn anh theo Xã Hội Chủ Nghĩa ???. Tuy nhiên sau khi khối cộng sản Đông Âu bị sụp đổ, csVN từ từ thay đổi chính sách đối ngoại, đang bắt đầu tìm cách đến gần với các quốc gia tư bản Âu Mỹ, đặc biệt gần đây muốn liên hệ với Mỹ gắn bó hơn trên phương diện kinh tế và thương mại. 

Phải chăng CsVN vừa mới nhìn được ra căn bản của vấn đề là “đi chơi với Âu-Mỹ“ vẫn có nhiều lợi điểm hơn là làm bạn lâu đời với mấy anh em Xã Hội Chủ Nghĩa còn lại ???. Dầu trễ còn hơn không vậy! Nhật Bản 20 năm sau chiến tranh đã trở thành một cường quốc ở Á Châu nói riêng từ thập niên 60, trong khi đó VN 39 năm sau 1975 nếu so sánh chẳng biết bao giờ mới được như Nhật ngày nay ?. Bài học tương tự là ngay cả Đông và Tây Đức cũng thế. Bốn mươi lăm năm sau đệ nhị thế chiến cho đến khi chế độ độc tài đảng trị bị sụp đổ, Cộng Sản Đông Đức nghèo nàn và chậm tiến thấy rõ so với Tây Đức. 

Phải chăng tại những nước dân chủ vì người dân được hưởng đầy đủ mọi quyền Tự Do: từ sự Tự do đi lại, thương mại cho đến tín ngưỡng, ngôn luận, học vấn .... và ... khi mà người dân có một đời sống thoải mái, không bị kìm kẹp thì họ mới hứng thú làm ăn, luôn tìm cách trau dồi thêm khả năng và từ đó quốc gia có thể phát triển nhanh, so với các quốc gia theo chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa? 

Qua sự so sánh trên chúng ta có thể khẳng định một điều là ba mươi chín năm sau biến cố 30.4.1975, nếu nhìn về tương lai, người Việt nói chung có quyền tin tưởng và hy vọng rằng rồi đây đất nước chúng ta sẽ có Tự do, Dân chủ, đa văn hóa, đa nguyên đa đảng, điều mà tất cả người Việt hằng mơ ước. Tuy nhiên muốn được như thế thì toàn bộ hiến pháp của csVN phải được hủy bỏ để thành lập một thể chế mới: đa nguyên đa đảng, dựa trên căn bản dân chủ và nhân bản thật sự !. Nếu vì lý do nào đó chưa thực hiện được điều này thì csVN dù có đưa ra hàng chục nghị quyết sửa sai, đổi mới hay có nói gì chăng nữa thì đó cũng chỉ là những đòn phép bịp bợm, gian manh do bản chất của đảng và đám cò mồi tay sai ngụy tạo ra nhằm ru ngủ người dân mà thôi.

Bài học của các nước cộng sản thuộc khối Đông Âu còn đó !. Tình trạng phát triển về kinh tế và dân sinh dưới một chế độ độc tài, đảng trị rất èo ụt, nó không thể là động cơ thúc đẩy người dân đem hết khả năng ra làm việc để góp phần vào sự phát triển quốc gia. Muốn phát triển thì dân chúng của một quốc gia phải có đầy đủ các yếu tố căn bản: đa nguyên đa đảng, được hưởng mọi quyền Tự do dựa trên tinh thần dân chủ thật sự và đây chính là „chìa khóa“ đã giúp cho Nhật sau chiến tranh nói riêng và các nước Đông Âu một thời từng theo Xã Hội Chủ Nghĩa đã và đang phát triển mạnh trên mọi lãnh vực. Toàn khối Đông Âu cũ nay đã tạo cơ hội cho người dân của họ có một đời sống tốt đẹp, an lành hơn so với hơn 24 năm trước.

Hy vọng ngày đó sẽ không còn bao xa nữa đối với người Việt chúng ta!

* © Lê Hoàng Thanh  (Thượng Tuần Tháng 8.2014, bản có hiệu đính cho phù hợp ngày tháng)

 

URL:

http://www.baocalitoday.com/vn/tin-tuc/khoa-hoc-doi-song/szilard-cha-de-va-cung-la-doi-thu-cua-bom-nguyen-tu.html

 

Last Updated ( Saturday, 30 August 2014 11:19 )
 

Công Dụng Khi Ăn Đậu Đen

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Đậu đen là loại thực phẩm ngon miệng và rất có lợi cho sức khỏe, nhất là khi kết hợp với các loại ngũ cốc sẽ tạo ra nguồn protein dồi dào.

Có tác dụng khử độc sulfates

Do có chứa khoáng chất vi lượng molypden - một thành phần của enzyme sulfile oxidate nên có tác dụng rất tốt trong việc khử độc sulfates (sunfit) cho cơ thể. Đây là hóa chất có nhiều trong thực phẩm chế biến sẵn không có lợi cho con người, làm tăng nhịp tim, gây đau đầu hoặc rối loạn chú ý. Nếu ai cơ thể nhạy với sunfit thì phải bổ sung để nó khử độc. Một bát đậu đen có chứa tới 172% nhu cầu khoáng chất molypden cần thiết cho cơ thể mỗi ngày.

 

Những Bí Mật Thú Vị Về Email

E-mail Print

Ngày nay, email là một trong những khái niệm quen thuộc và không thể thiếu với người dùng Internet. Nhưng bạn biết gì về lịch sử ra đời và phát triển của email? Cùng khám phá trong bài viết dưới đây.
40 năm trước, bức thư điện tử (Electronic Mail - Email) đầu tiên được gửi đi, đánh dấu sự ra đời của một trong những khái niệm quan trọng nhất của tương lai.


Trải qua 40 năm tồn tại và phát triển, email đã có nhiều bước thăng trầm, để trở thành công cụ giao tiếp phổ biến và rộng rãi nhất thế giới ngày nay.


Cùng khám phá những bí mật thú vị về quá trình phát triển của email trong bài viết dưới đây.

Last Updated ( Thursday, 12 June 2014 13:12 )
 

Ngày Lễ Cha xứ người

E-mail Print

 

Ngày Lễ Cha xứ người
 
* © Lê-Ngọc Châu




http://www.glitters123.com/glitter_graphics/Festivals/Fathers_Day/Fathers-Day-Glitters-29.gif

                                                                     
Hằng năm, hầu hết trên toàn thế giới, con cái thường làm lễ mừng cha mẹ là những người đã sinh và nuôi dưỡng mình khôn lớn. Người Việt chúng ta nói riêng xưa nay không có ngày Lễ mừng Cha hay Mẹ riêng biệt mà chỉ lấy ngày Đại Lễ Vu Lan, được tổ chức rất trọng thể vào ngày 7 tháng 7 âm lịch để tưởng nhớ đến đấng sinh thành. Nhân ngày Đại Lễ này, con cái thường đi Chùa lễ Phật cầu an hay cúng vái, tưởng nhớ đến Cha Mẹ, nếu đã khuất núi.
 
Tuy nhiên, sau tháng tư đen 1975, hàng triệu người Việt rời bỏ quê hương đi tìm Tự Do, lưu lạc khắp năm châu và định cư tại nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Áo, Vương Quốc Bỉ, Mỹ, Gia Nã Đại, Úc, Thuỵ Sĩ, Đức, Hòa Lan, Na Uy … Nhập gia thì phải tùy tục cho nên với giòng thời gian chúng ta từ từ hội nhập vào đời sống, xã hội  của quốc gia tạm dung, cũng theo phong tục người bản xứ tổ chức những ngày lễ giống như họ. Trước hết là Ngày Lễ Mẹ, hay theo người Việt mình được gọi với cái tên âu yếm, dễ thương hơn là Ngày Hiền Mẫu, được tổ chức vào tháng 5. Sau đó là Ngày Lễ Cha, nhằm vinh danh người cha mà truyền thống Á Châu mình ví như là rường cột của gia đình (ghi chú thêm của người viết: Quan niệm này đối với người Việt chỉ có giá trị tương đối vì sau 30.4.1975, khi mà  người cha bị Cộng Sản bắt đưa đi học tập cải tạo thì người mẹ một mình đã phải tảo tần nuôi đàn con dại, thăm nuôi chồng cho đến ngày người chồng may mắn được về đoàn tụ cùng gia đình, vợ con!).
 
Trong khi khắp nơi trên toàn thế giới tổ chức Ngày Lễ Mẹ đồng loạt vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng năm thì ngược lại, ngày Lễ Cha tùy theo địa phương được tổ chức, ít ra cũng có ba  ngày khác nhau, vào ngày Lễ Thăng Thiên, ngày chủ nhật thứ hai của tháng sáu và ngày chủ nhật thứ ba của tháng bảy. Trong khuôn khổ bài này, người viết xin được giới thiệu khái quát với quí độc giả Ngày Lễ Cha tại vài quốc gia mà người viết sưu tầm được từ Internet.
 
Hiện tại có nhiều quốc gia trên thế giớicòn duy trì và tổ chức Ngày Lễ Cha.
 
* Âu Châu
 
Ai-len: Quốc gia chủ yếu là Công giáo và ngày của Cha là 19.06. Cho mục đích này, đặc biệt từ vài tuần trước đó đã được trang trí với những món quà cho đàn ông trong nhiều siêu thị .
 
Aó: Khác với Đức, ngày Lễ Cha tại nước Áo được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng sáu và đặc biệt thường được tổ chức giữa những người có đức tin nên mang tính cách tôn giáo nhiều hơn. Tương tự như Ngày Lễ Mẹ, đây là dịp mà con cái người Áo đi mua bông, mua quà nho nhỏ để tặng Cha. Lần đầu tiên ngày Lễ Cha được tổ chức vào năm 1956 tại Áo.
 
Ba Lan : Ở Ba Lan, Ngày của Cha ( Dzień Ojca ) được tổ chức vào ngày 23 Tháng Sáu .
 
Bỉ : Chủ Nhật thứ hai trong tháng sáu ( ngoại trừ tại Antwerp ) là Ngày của Cha tại Bỉ.
 
Bồ Đào Nha : Bồ Đào Nha tổ chức Ngày của Cha (Dia do Pai ) vào ngày 19 Tháng Ba .
 
Bulgaria : Ngày của Cha được tổ chức Ngày 26 tháng Mười Hai tại Bulgaria.
 
Croatia : Croatia tổ chức Ngày của Cha ( Očev dan)  vào ngày 19 Tháng Ba .
 
Đan Mạch : Tại Đan Mạch, Ngày của Cha được tổ chức vào 05 tháng 6 , cũng là ngày của Hiến pháp Đan Mạch .
 
Đức :
Ngày Lễ Cha tại Đức được tổ chức vào ngày Lễ Thăng Thiên (Ascension), ngày thứ năm thứ hai trước Lễ Ba Ngôi (Whitsun / Pentecost) và còn được dân Đức đặt tên là ngày Lễ đàn ông. Ngay vào thời trung cỗ (middle ages) người ta đã tổ chức những buổi diễn hành, để khánh hạ người Cha DIO. Hình thức tổ chức mừng Ngày Lễ Cha như hiện nay đã có từ cuối thế kỷ thứ 19 và vẫn còn được giới đàn ông Đức ưa thích, duy trì cho đến bây giờ. Đặc biệt là tại vùng Bắc Đức, được tiêu biểu qua những buổi liên hoan (Party) dành cho người đàn ông. Họ đi bộ, có người ngồi trên xe ngựa, đi xe đạp, xe đẩy (wheel barrows)  hay trắc-tơ (tractors) nối đuôi nhau kéo ra cánh đồng xanh vui chơi, ăn nhậu và sau đó trở về nhà nhưng ai nấy đều say túy toé. Lắm người uống quá nhiều nên mãi đến sáng hôm sau mới mò về nhà được. Với thời gian, nhất là giới trẻ, nhiều bà cũng tham dự Ngày Lễ Cha chung vui với chồng, kết quả của nền văn minh hiện đại „nam nữ bình quyền“.
Vì tiêu thụ khá nhiều rượu bia và càng ngày càng có nhiều người đàn ông (ngay cả những người chưa có con!) tham dự nên theo thống kê thường xảy ra lộn xộn, người ta hay đánh nhau trong Ngày Lễ Cha cho nên vì vậy ngày lễ này bị tai tiếng nhiều, được mang thêm cái tên là „ngày lễ uống say và đánh lộn“, buồn cười là đàn bà lại đánh nhau trong ngày lễ đàn ông, ngoài tai nạn lưu thông do quý ông say rượu gây ra đã làm cho cảnh sát và các cơ quan cứu cấp làm việc tới tấp trong dịp này.
 
Hòa Lan: Ngày Lễ Cha được du nhập vào Hòa Lan kể từ năm 1936. Tại đây, những người cha tụ họp lại tổ chức buổi tiệc dành riêng cho đàn ông có ca nhạc và nhảy múa. Ngày của Cha ( vaderdag ) Hòa Lan đã được tổ chức kể từ thập niên 70er/80er vào ngày Chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu. Trong ngày này thường thì người Cha được mang đồ ăn sáng đến tận giường, nhận những "Quà Tặng điển hình cho đàn ông " (ví dụ , Cà-Vạt, vớ , xì gà , dao cạo râu , đồ điện  hoặc thậm chí quà tặng tự làm làm bằng tay) . Một số người cha ly dị lợi dụng cơ hội này để bênh vực, bảo vệ cho phong trào "Cha 4 Tư pháp".
 
Hungary : Tại Hungary, Ngày của Cha được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu. Tuy nhiên trong xã hội, trái ngược với Ngày của Mẹ được tổ chức vào Chủ nhật đầu tiên trong tháng Năm, và nhiều hơn nữa cho ngày Phụ nữ 08 tháng 3, không quan trọng.
 
Liechtenstein Ngày của Cha , được tổ chức vào ngày 19 tháng 3, giống như ở Ý. Ngày này cũng chính thức là Ngày Thánh Giuse (St Joseph), là ngày lễ của địa phương.
 
Lithuania: Ngày của Cha được tổ chức vào Chủ nhật đầu tiên trong tháng Sáu , bốn tuần sau Ngày của Mẹ ( Ngày Từ Mẫu, ngày chủ nhật đầu tiên trong tháng Năm ) .
 
Luxembourg (Lục Xâm Bảo):Luxembourg người ta kỷ niệm Ngày của Cha (Pappendag) vào ngày Chủ nhật đầu tiên trong tháng Mười. Trẻ em tặng cha hoa hay những món quà nhỏ hoặc thủ công. Trong trường tiểu học , một số bài hát cho Ngày của Cha được chuẩn bị và sau đó trình bày ở nhà.
 
Na Uy : Đọc Thụy Điển .
 
Nga : Ngày 23 tháng Hai là ngày của người đàn ông nhưng không chính thức .
 
Pháp : Ngày của Cha được tổ chức từ năm 1952 vào ngày Chủ Nhật thứ ba trong tháng Sáu.
 
Phần Lan : Ở Phần Lan, Ngày của Cha được tổ chức vào ngày Chủ Nhật thứ hai trong tháng Mười Một.
 
Romania : Ngày của Cha được chính thức tổ chức vào ngày 05 tháng 5 kể từ năm 2008 . Quyết định năm 2007, bởi các sáng kiến ​​của hãng sản xuất bia Interbrew SA Romania với thương hiệu "bia núi".
 
Slovakia : Ban đầu, Ngày của Cha tại Slovakia được tổ chức vào ngày Thánh Giuse là ngày 19 tháng Ba. Tuy nhiên về sau được chuyển thể theo Mỹ. Bây giờ, Ngày của Cha được tổ chức vào Chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu.
 
Tây Ban Nha : Vào ngày 19 tháng Ba, người Tây Ban Nha ăn mừng Ngày của Cha El Día del Padre Đây là ngày đã được lựa chọn bởi vì đó là Joseftag, ngày Saint José (cha của Chúa Giêsu) . Tại Tây Ban Nha , phong tục là người cha nhận được quà tặng của trẻ em, thường sơn hoặc làm thủ công trong trường. Tạo ra ngày lễ hội này là giáo viên Manuela Vicente Ferrero với trường học của bà ta gần Madrid. Lễ hội tại trường học đã được tổ chức năm 1948 trong đó người cha của học sinh được "giải trí". Lễ hội này là một sự cân bằng đối với Ngày của Mẹ (Ngày Từ Mẫu) hầu xoa dịu sự " ghen tị " của những người cha.
 
Thụy Điển : Ngày của Cha (fars dag) được tổ chức vào Chủ Nhật thứ hai trong tháng Mười Một. Năm 1931, từ Mỹ truyền đến Thụy Điển và lần đầu tiên được tổ chức vào tháng Sáu. Nhưng sau đó, Ngày của Cha theo yêu cầu của cộng đồng thương mại Bắc Âu dời lại vào ngày trên Chủ Nhật thứ hai trong Tháng Mười Một hầu tạo cho đàn ông một tình trạng so sánh với mẹ . Ngày của Cha được tổ chức khắp nơi ở Scandinavia và Estonia cùng ngày, với ngoại lệ của Đan Mạch, nơi  sẽ được tổ chức vào ngày 05 tháng 6 .
 
Thụy Sĩ: Khá phức tạp khi đề cập đến ngày Lễ Cha tại Thụy Sĩ vì ngày lễ này không mang nhiều ý nghĩa quan trọng đối với dân Thụy Sĩ. Năm 2007, Ngày Lễ Cha Ngày hành động đã được "du nhập" không chính thức vào Thụy Sĩ được tổ chức trên toàn quốc vào ngày chủ nhật đầu tiên trong tháng Sáu.
Đặc biệt, những buổi tiệc vui hay sinh hoạt như tổ chức du ngoạn nhân ngày Lễ này thường được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai hay thứ ba của tháng sáu.
Theo những người khởi xướng phong trào Ngày Lễ Cha của Cha Thụy Sĩ là để bày tỏ ước tính giá trị giao ước (Engagement) cho người cha. Không giống như  ở các nước khác Ngày Lễ Cha trước hết là một ngày hành động giữa cha - con và cũng là nhằm vào một chiều hướng chính trị: các điều kiện khung cho trách nhiệm đối với cha trong nghề nghiệp, gia đình và xã hội được cải thiện.

• Vương quốc Anh : Ngày của Cha ở Vương quốc Anh được tổ chức vào Chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu, không phải là một ngày lễ chính thức .
 

• Ý : Tại Ý, đại đa số là Công giáo thì Ngày Của ChaNgày Thánh Giuse 19 tháng Ba. Không giống như ở Đức, tại Ý Ngày của Cha không phải là ngày cho các trò chơi của người đàn ông hay " ngày dành cho nam giới " , nhưng là ngày Lễ gia đình bắt rễ sâu, được tổ chức và quan sát như là một đối tác với Ngày của Mẹ . Trẻ em thực hiện hoặc mua các món quà nhỏ cho người cha , cũng như tìm hiểu những bài thơ hay trình diễn ở trường mẫu giáo và trường học những màn kịch ngắn.

 
* Úc Châu :
 
• Úc : Ở Úc, Ngày của Cha được tổ chức vào Chủ nhật đầu tiên trong tháng Chín.
New Zealand : Tại New Zealand, Ngày của Cha , giống như ở Úc được tổ chức vào chủ nhật đầu tiên trong tháng Chín.

* Á Châu:
 
·        Cộng hòa Trung Quốc (Republik China)::
Tại Cộng hòa Trung Quốc Đài Loan, Ngày Lễ Cha được tổ chức vào 08 tháng Tám . Điều này là do " số tám" ở Cộng hòa Trung Quốc ( , Hán Việt bā ) được phát âm là ba, và ngày thứ tám của tháng Tám, từ đó hình thức gọi ngắn hạn là baba, phát âm tương tự như " Cha " . Ngoài ra, số 8 cũng là một biểu tượng cho sự may mắn .
 
Hồng Kông: Ngày của Cha , bất kể Trung Quốc được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu.

Iran : Tại Iran, Ngày của Cha tổ chức vào ngày kỷ niệm sinh nhật của Shia Imam đầu tiên , Ali . Đây là ngày có thể thay đổi do lịch Hồi giáo và âm lịch hàng năm .
 
Nam Hàn: Tại Nam Hàn không có " Ngày của Cha ", nhưng ngày Lễ Cha 05 tháng Năm còn được gọi là ngày trẻ con (children’s day) và cũng là ngày Quốc Lễ, nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho người cha đùa chơi tại những công viên (parks) hay có thì giờ để chung vui với con cái.

Nhật Bản : Ngày của Cha được tổ chức vào chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu. Ở Nhật Bản ngày này còn được gọi là " chichi no hi"  và không phải ngày nghỉ lễ.
 
• Philippines : Ngày của Cha được tổ chức vào chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu
 
Thái lan: Người Thái gọi ngày Lễ Cha là „Wan Phor“ và là ngày quốc lễ, dân chúng được nghỉ làm vì đó cũng là ngày sinh nhật của Vua Bhumibol Adulyadej, mồng năm tháng 12. Trong ngày Lễ này Thái vinh danh những người Cha gương mẫu của toàn nước Thái. Trong năm 2004 có đến 327 người Cha được vinh danh. Nếu ngày 5.12 là ngày chủ nhật thì Thái, không liên quan gì đến ngày sinh nhật Vua, sẽ dời ngày Lễ này sang ngày thứ hai kế tiếp.

Thổ Nhĩ Kỳ: Ngày của Cha (" babalar günü" ) được tổ chức vào Chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu. Và cũng giống như nước Áo, không phải là ngày thuần túy cho đàn ông, tổ chức tương tự ngày Lễ Mẹ.
Trung Cộng : Ngày của Cha được tổ chức vào chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu.
 
* Châu Phi

• Nam Phi: Ở Nam Phi, Ngày của Cha được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu.
 
* Mỹ Châu
 
       Mỹ:
Tại Mỹ, ngày Lễ Cha tương đối được trọng vọng, không thua gì ngày Lễ Mẹ và được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu. Trọng điểm của ngày lễ này là người cha mà biểu tượng chính cho ngày Lễ Cha tại Mỹ là Cà Vạt, xe hơi (càng chạy nhanh càng tốt) và những hoạt độ thể thao như đánh Golf hay đi câu cá.
 
Lần đầu tiên, vào năm 1909, Bà B. Dodd nảy ra ý kiến tổ chức Father’s Day để vinh danh Cha của bà, ông William Smart, là một cựu chiến binh trong cuộc nội chiến vào những năm 1861-1865. Mẹ của bà ta bị chết sau khi sanh xong đứa con thứ sáu và ông Smart đã một mình nuôi đứa con vừa lọt lòng cũng như lo chăm sóc cho năm đứa con dại khác tại một nông trại thuộc miền Đông tiểu bang Washington. Vì thế bà B. Dodd muốn vinh danh người cha đã có nghị lực nuôi dưỡng sáu người con. Ngày Lễ Cha đầu tiên được tổ chức vào ngày 19.06.1910 tại Spokon/Washington. Cùng thời điểm nhiều thành phố khác trên nước Mỹ cũng tổ chức ngày lễ vinh danh những người cha. Ngày lễ thành công đến độ Tổng Thống Calvin Coolidge năm 1924 lên tiếng hổ trợ và đề nghị chọn một ngày Lễ Cha chung cho từng tiểu bang nước Mỹ. Với thời gian, hầu hết mọi giới người Mỹ đều chấp nhận ngày lễ này.
 
Và trong năm 1966, Tổng thống Lyndon Johnson đã ký một tuyên bố rằng tuyên bố chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu cho Ngày của Cha. Vào năm 1974, Tổng thống Richard Nixon , bởi Công Luật 92-278 , đã tuyên bố chính thức chấp nhận ngày lễ Cha làm ngày quốc lễ và chọn ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu làm Ngày Lễ Cha của Mỹ. Tại Mỹ, con cái mua bông hoa, làm thơ, mua quà tặng cho người Cha. Riêng trong năm 1997 đã có hơn 90 triệu thiệp mừng được bán nhân ngày lễ này. Giống như ở Đức, vì được xem như là ngày lễ dành riêng cho đàn ông nên ở Mỹ, người cha cũng thường hay ngồi xe ngựa diễn hành để vui mừng ngày lễ cho chính mình, ngoài những buổi du ngoạn chung giữa cha con và đây chính là kỷ niệm mà hầu hết „những người đàn ông Mỹ“ sau này khi lớn lên họ không khi nào quên được.
 
Tổng thống Mỹ George W. Bush công bố vào ngày 13 Tháng Sáu 2003, " Ban hành Ngày của Tổng thống Cha („President’s Father’s Day Proclamation“) !" .

Argentina : Ở Argentina họ ăn mừng " Dia del Padre " hàng năm vào ngày chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu.

Bolivia :
Kỷ niệm Ngày của Cha " Dia del Padre " vào ngày 19, Thánh Giuse ( San José ) .

Brazil :
Ngày của Cha được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ Nhật thứ hai trong tháng Tám.

Cuba : Cuba kỷ niệm Ngày của Cha (Dia de los Padres ) vào ngày chủ nhật thứ 3 trong tháng Sáu. Ngày này có được là do sáng kiến
​​của nhà văn Dulce María Borrero, đã vận động cho một ngày quốc gia tưởng nhớ đến người cha. Lần đầu tiên Ngày của Cha ở Cuba đã được tổ chức vào ngày 19 tháng Sáu năm 1938 .

Panama, Paraguay, Peru và Venezuela: Ngày của Cha được tổ chức hàng năm vào ngày chủ nhật thứ ba trong tháng Sáu.
 
Người viết tóm lược nguồn gốc Ngày Lễ Cha xứ người để giới thiệu cùng độc giả và hy vọng qua đó người Việt tỵ nạn cộng sản, nếu đang định cư tại một trong những quốc gia kê trên biết thêm (nếu chưa) được chút ít phong tục tập quán của người bản xứ hầu từ đó có thể dễ dàng hội nhập hơn vào xã hội xứ lạ.
 
Vì tính cách tổng quát của bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong quý độc giả thông cảm và bổ túc thêm.
Đa tạ !.
 
·        © Lê-Ngọc Châu
·         (Tháng 5-2014, Nhân ngày Father’s Day = Le jour de père = Vatertag)
·        Tài liệu tham khảo : Internet
 
 
 
FYI: Bài cũng đã được phổ biến theo Link
 

 

   

Mười Chữ Tiếng Anh Quan Trọng

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Một chữ có thể đem đến nhiều ý nghĩa tốt đẹp đến hay là phá vở lối sống của chúng ta. Một chữ có thể đem đến tình yêu cho ta hay là làm tiêu tan hạnh phúc của ta. Một chữ, tự nó sẽ đem đến cho ta một ý nghĩa, một sự hiểu biết và cách đối xử cho đúng khi ta dùng nó. Mười chữ trong tiếng Anh này diễn tả một sức mạnh vô song và khi dùng nó chúng ta có một cơ hội để hiểu thêm về con người của mỗi cá nhân và cách hành xử của họ:

Last Updated ( Tuesday, 20 May 2014 19:27 )
 
Page 4 of 11
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account