CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Thi Ca

Thi Ca

Đêm Cầu Nguyện

E-mail Print

Đêm dõi mắt sâu nghĩ cảnh nhà
Liên Trì Chùa Cổ chẳng yên thân
Vô thần với lũ người gian ác
Đập phá mái Chùa cảnh nát tan

Last Updated ( Wednesday, 21 September 2016 07:46 )
 

Những Bài Thơ về Cha

E-mail Print

NHỚ CHA

Image result for Nhớ Cha

Những ngày thơ ấu sống bên Cha
Tình thương êm ấm ở trong nhà
Ra đời mới biết đường đi khó
Cuộc sống thăng trầm mãi chốn xa

 

Rẽ Sóng Ngàn Khơi

E-mail Print

Tôi về thăm phố Bolsa
Thăm Tình Nghệ Sĩ đậm đà mến thương
Xa xôi cách trở dặm trường
Một đêm hội ngộ như dường chiêm bao

 

Ánh Sao Rơi - Khóc Thầy Nguyễn Thanh Liêm

E-mail Print

Trích lời giới thiệu của tác giả:

Thật là bất ngờ và đau lòng khi nghe tin cụ G/S Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm từ trần. Chỉ mới hôm tối thứ Sáu tại chương trình Đào Tạo Tài Năng Trẻ của CLB TNS, Phương Hoa và anh Tân Khoa gặp G/S Liêm đến dự. Cụ còn lên nói chuyện rất hùng hồn mạnh mẽ, ngợi khen chương trình của Cao Minh Hưng và các Anh Chị Em đã làm một việc rất hữu ích cho Cộng Đồng chúng ta. PHoa ngồi nghe mà xúc động vô cùng, định lại xin phép chụp chung với cụ một tấm hình làm kỷ niệm, nhưng vì đang lỡ nói chuyện với bạn ngồi gần nên khi quay lại thì cụ đã đi về. PHoa tiếc hùi hụi, cứ theo hỏi anh WoWang nhờ anh kiếm dùm xem cụ còn ở chỗ nào trong hội trường... Không ngờ hôm nay cụ đã đi rồi.

Tân Khoa và Phương Hoa mạo muôi làm một bài thơ vinh danh người G/S đã có lòng vì dân vì nước cho đến ngày cuối của cuộc đời. Đây là tấm lòng kính quý đối với G/S. Có gì không phải kính xin quý vị lượng thứ.

Trân trọng,
Tân Khoa & Phương Hoa

 

“Sợi Tóc Vàng” & “Bản Kinh Cầu”

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

“Sợi Tóc Vàng” & “Bản Kinh Cầu”

(Những Khắc Khoải Cuối Đời Của Nguyên Sa Qua Bài Thơ “Sợi Tóc”?)

Nhân dịp kỷ niệm 50 Năm ngày nhập ngũ Khoá I Nguyễn Trãi, chúng tôi gần bốn chục bạn đồng khoá cùng gia đình, tổ chức buổi thăm viếng những người bạn qúa vãng tại nghĩa trang Peak Family trong phạm vi Bolsa, Little Saigon. Sau khi thắp nhang và khấn vái ngôi mộ cuối cùng của anh Lê văn Nghĩa ở phía Bắc nghĩa trang, chúng tôi kéo nhau thăm mộ nhà thơ Nguyên Sa, Trần Bích Lan, ở kế cận cùng hướng Bắc.
Thực ra đây là năm thứ hai chúng tôi ghé viếng mộ ông. Bởi lẽ ông là bạn đồng khoá 24 Thủ Đức, cùng thụ huấn giai đoạn I với chúng tôi trước khi nhập ngũ trường ĐH/CTCT/ĐL, và cũng vì bài thơ “Sọi Tóc” trên bia mộ của ông có sức quyến rũ đến “liêu trai” khiến cả nhóm bạn gìa chúng tôi dù chưa hiểu gì về nội dung bài thơ ở lần hội ngộ ban đầu, đã tìm đến thăm ông trong lần thăm viếng năm nay.
Đúng như như lời Nguyên Sa có lần chia xẻ với nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh: “Thơ cũng như âm nhạc, cái nghĩa lý của nó không quan trọng mà cái chính yếu là chính nó. Âm nhạc hay chưa hẳn cần lời ca hay, những tác phẩm âm nhạc lớn đều không lời. Nhạc là xúc động chứ không là nghĩa lý. Xúc động vượt ra khỏi nghĩa lý của tư tưởng và ngôn ngữ.”
Cái âm hưởng của nhạc thơ Nguyên Sa trong bài “Sợi Tóc” có sức thu hút mọi người vào giấc “miên trường” ở một góc vườn Vĩnh Cửu của Tiểu Sàigon, thực tế không mấy gì hoang dã:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên

Bài thơ gồm 6 câu lục bát, được khắc trên đá cẩm thạch ở góc trái bia mộ, được đặt nằm ngang mặt đất thành từng hàng đều đặn. Với giọng thơ thanh thản nhẹ nhàng, ỡm ờ như diễu cợt khiến ai ghé mắt qua không khỏi xa vắng bâng khuâng:




Bên góc phải bia mộ ghi tên thánh Giuse, Trần Bích Lan. Phía dưới là ngày và nơi sinh, cùng với ngày và nơi mất.
Theo tiểu sử chúng tôi ghi nhận được, Nguyên Sa sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội, mất ngày 18/4/1998, thọ 66 tuổi. Ông tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 60, với những tác phẩm nổi tiếng đi văo lòng người như :"Áo lụa Hà Đông", "Paris Có Gì Lạ Không Em", "Tuổi Mười Ba", "Tháng Sáu Trời Mưa," ...
Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hoá (Huế). Ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều vua Tự Đúc, đến đời ông nội mới ra Hà Nội.
Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Nơi đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949.
Năm 1953, ông đậu Tú tái Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Sorbonne. Ông tốt nghiệp Cử nhân Văn chương Pháp, ban Triết (?). Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này.
Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước, sống về nghề làm thơ, viết báo và mở trường dạy học tại Sàigon.
Năm 1975, ông di tản qua Mỹ nhưng sau đó đoàn tụ với các con bên Pháp. Trong thời gian này ông có học bổng học cao học Kinh tế, nhưng theo vợ ông, bằng tốt nghiệp này không giúp ích được gi khi ông trở lại Mỹ. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và cư ngụ tại California cho tới ngày qua đời.
Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998 tại Orange County, an nghỉ tại nghĩa trang Peak Family bên cạnh mộ học gỉa Đào Mộng Nam, một nhà Hán học uyên bác về phương pháp dạy chữ Hán theo lối phân tích phương Tây.
Bây giờ thì chúng ta có đủ thanh thản đi vào nội dung bài thơ lục bát đã được ông sáng tác trước khi mất một thời gian và được gia đình yêu thương khắc trên bia mộ. Về nguồn gốc bài thơ này, trong một cuộc phỏng vấn của Thy-Nga đài RFA, được vợ ông tâm sự: “ Mộ của Nguyên Sa gần một hồ nước nhỏ, như là trong góc một khu rừng nhỏ. Khi anh ấy làm bài thơ này, không ngờ nó lại giống nơi anh ấy được nằm ở đó.” Thời gian chính xác là lúc nào bài thơ ra đời hẳn chỉ gia đình mới có thể trả lời, nhưng căn cứ vào lời thơ ngọt ngào tràn đầy lãng mạn, một điều suy luận là, trước khi ông bị bạo bệnh và cũng có thể trước khi ông rửa tội để trở thành con chiên ngoan đạo. Bởi vì theo Xuân Vũ Trần Đình Ngọc: “Tôi biết anh đã ra đi yên ổn vì anh có tâm sự với tôi lúc còn sống anh chỉ ước ao được chết lành như một tín hữu Công giáo.” Chết lành ở đây có thể hiểu là cái chết trong sự thanh thản được chúa thánh thần đón nhận, sau khi đã thực hiện các bí tích và được thanh tẩy hết tội lỗi, dọn mình trong sạch để được về nước Chúa,
Sau khi đã trình bày một số sự kiên liên quan đến nhà thơ và sự ra đời của bài thơ “Sợi Tóc”, chúng ta thử soi rọi một vài tia sáng để tìm hiểu bài thơ có nhiều bí ẩn này.
Hai câu đầu dù còn sống ông mường tượng như mình đã bước vào cõi thiên thu với đầy hoang vắng mà “cỏ hoang” được xem là biểu tượng:
Nằm chơi ở góc vườn này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Câu đầu cho chúng ta thấy vẻ thân mật gần gũi khi ông nằm xuống như nằm chơi ở góc vườn nhà. Nhưng câu bát kế tiếp mang một trạng thái tâm lý dù đong đưa nhẹ nhàng vẫn đượm một vẻ gì u hoài hụt hẫng đến xa lạ: “Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang”.
Cỏ, thảo mộc hay cỏ cây, những từ ấy đối với Nguyên sa không phải là đối vật xa lạ và vô cảm, chúng từng hiện diện trong tâm hồn ông như chính bản thân ông:
Tiếng cười có tiếng cỏ cây
Dường nhu thảo mộc mọc đầy trong tim
(Thủy Triều)
Hay
Trong thảo mộc và thịt xương
Trong chín cánh lộc non, trong mười chồi vị giác
Thân thể mùa xuân đã cựa mình huyền sử
Con nai vụng về còn di chuyển đi đâu
(Lời Năn Nỉ)

Nói cách khác, cây cỏ và con người ông là một thực thể bất khả phân ly. Cỏ cây với ông gần gũi như bóng với hình. Nhưng giờ đây cỏ hiện diện như một đối vật khách thể mang ý nghĩa của xa lạ hoang vu vì vắng bóng người thăm viếng. Chính sự đe doạ của thần chết vào những phút cuối đời đã làm ông lo sợ sự hoang vắng, xa cách với thế giới loài người mà cỏ trở thành xa lạ.
Tâm trạng này ta cũng thấy ở cụ Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.” Nguyễn Du nhấn mạnh đến thời gian (ba trăm năm sau), Nguyên Sa nhắc đến cỏ hoang (đã lâu vắng bóng người thăm viếng nên cỏ mọc tràn đầy). Hai ý trên đây đều liên cảm đến sự cô đơn của thi nhân vốn nhạy bén với sự thiếu quan tâm tưởng nhớ của những người yêu thơ. Cảm xúc về thời gian trước những giới hạn của thân phận con người khiến những tâm hồn mẫn cảm đã có cùng một nhịp xúc động như nhau.
Hai câu sau mới thực sự trở thành một vấn nạn cho độc gỉa và chính tác gỉa:

Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau

Những hình tượng trong thơ thường phản ảnh những nét diễm kiều của người mình yêu, nhất là thơ Nguyên Sa. Không phải ông đã từng làm nguyên một bài thơ “Nga” để tặng bà? Rồi nào là Áo lụa Hà đông với mùa thu và tóc ngắn... Chính vì vậy trong diễn đàn web “Những Vần Thơ Không Nhòa Theo Thời Gian”, một người lấy bút danh là nuoclanh đã nêu lên một nghi vấn: Trong bài thơ của Nguyên Sa “Paris có gì lạ không em” có câu:
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay

“Như vậy tóc của bà Nga trắng? hay tóc của một cô đầm nào?”
Tóc mây theo Đào Duy Anh chỉ là sự mềm mại của mây trời mang sắc diện diễm lệ yêu kiều của người mình yêu. Nói cách khác, đây chính là “Mùa thu tóc ngắn” của Trần Bích Lan. Nhưng “sợi tóc vàng” của Nguyên Sa thì không đơn giản như nhiều người nghĩ.
Ai dám bảo đảm một thi sĩ lãng mạn đầy sức sống như Nguyên Sa lại không có lần đắm đuối một người đẹp tóc vàng chính hiệu Paris trước khi gặp gỡ “Mùa thu tóc ngắn” ở Sorbonne?
Có người lại cho rằng may là ông về nước Chúa sớm, nếu không ông cũng bị “mè nheo” cho đến chết. Riêng tôi thấy việc khắc nguyên bài thơ có “sợi tóc vàng” trên bia mộ chứng tỏ người thân của gia đình ông hơn ai hết đã hiểu và cảm thông cái tình đi mây về gió của thi nhân.
Hơn nữa Nguyên Sa lại là một nhà thơ từ nhỏ du học ở phương Tây từ năm 17 tuổi, thì biểu tượng người đẹp tóc vàng trong thần thoại của những xứ sở này có gì là xa lạ đối với ông?
Nào là nữ thần Venus còn gọi là Aphrodite có mái tóc vàng óng ả, vốn là biểu tượng của sự kết nối tình yêu qua hình ảnh biểu tượng cậu con trai Eros với cây cung và mũi tên vàng. Nữ thần tóc vàng óng ả này đã làm điêu đứng biết bao con tim rớm máu của thế gian, từng là biểu tượng của người đẹp trong di sản văn hoá nhân loại?

Rồi nàng Helen - người đẹp tóc vàng tuyệt mỹ, được miêu tả trong bản trường ca bất hủ Iliad của Homer - là đại diện cho sắc đẹp của người phụ nữ Hy Lạp cổ đại. Helen là con gái của vua Tedareus danh tiếng. Sắc đẹp của nàng đã lan truyền khắp thế gian, đến nỗi không chỉ những người trần tục mà ngay cả các vị thần cũng đắm đuối vì nàng. Helen có một sắc đẹp nghiêng nước, nghiêng thành-- chẳng khác Tây Thi bên Đông phương-- không một cô gái nào có thể sánh, ngay cả các nữ thần cũng phải ghen tức vì sắc đẹp của nàng.
Helen là niềm mong ước của tất cả đấng mày râu trên thế gian. Từ những ông vua giàu có với biết bao cung tần mĩ nữ, đến những hoàng tử thông minh xuất chúng, hay những chiến binh dũng cảm, ai nấy đều sẵn sàng lao thẳng vào nhau quyết chiến để giành được người đẹp. Helen chính là nguyên nhân dẫn đến một cuộc chiến tranh nảy lửa trong thần thoại Hy Lạp, nổi danh với con ngựa gỗ và thành Troy.
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây không phải chỉ là sợi tóc vàng hay sợi tóc huyền là của riêng thi sĩ, mà sợi tóc vàng còn là biểu tượng sắc đẹp của mê lộ tình yêu của nhân loại nói chung trong đó có cả người đẹp tóc ngắn của thi nhân. Nhưng sợi tóc vàng này không phải lúc hiện lúc ẩn trong cuộc đời ngắn ngủi của nhà thơ mà là niềm ước ao miên viễn của con người qua muôn ngàn kiếp tại thế tái sinh:

Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau.
Hoa là người đẹp, là biểu tượng của tình yêu, là chất liệu nhiệm màu có khả năng nâng cao, hạ thấp phẩm chất đời sống tinh thần của con người. Nó cũng là nguồn cảm hứng của mọi sáng tạo nghệ thuật trong đó đặc biệt thắp sáng ngọn lửa tình yêu của mọi thi nhân mà ta thường ca tụng là Nàng thơ.
Một cựu nữ sinh trung học xứ Quảng đã trao lời hẹn ước với tha nhân, nguyện sống hết mình cho tình yêu đôi lứa bằng tình yêu của chính mình:
Dù em chỉ còn đôi nhánh lá
Cũng vì ngươì mà nở hết mùa bông.

Như vậy hoa hay bông là sắc đẹp và cũng là hiện thân của tình yêu làm thăng hoa đời sống con người, giống như Hervé Bazin đã nói: Đời sống thiếu tình yêu giống như sống mà không có mặt trời (Une vie sans amour, c’est une vie sans soleil.)
Chữ kiếp theo Bát Nhã Tâm kinh (phần chú giải trang 153) được định nghĩa: kiếp chỉ đời sống của một con người, một sự vật; hoặc chỉ quãng thời gian của một thế giới.
Phần thế giới được ghi trong phần phụ lục III trang 151: kiếp là tiếng gọi tắt của chữ Kiếp-ba hay kiếp bá, được phiên âm từ tiếng Phạn là Kalpa, dùng để chỉ quãng thời gian của một hiện tượng phát sinh ở thế gian.
Có 3 loại kiếp: đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp. Mỗi đại kiếp có 4 trung kiếp, gọi là: thành kiếp, trụ kiếp, hoại kiếp và không kiếp. Theo nghĩa trong kinh điển thì một đại kiếp là thời gian tồn tại của một thế giới. Vì trong vũ trụ có vô số thế giới, mà mỗi thế giới đều khởi đầu bằng thời kỳ kiến tạo, tồn tại rồi đến suy thoái, cuối cùng là hủy diêt thành hư không. Nhưng thế giới này mất đi thì lại có thế giới khác tiếp nối hình thành, cứ thế mà biến hoá mãi không bao giờ dứt...
Chữ kiếp theo Nguyên Sa ở đây ám chỉ kiếp người. Theo triết lý nhà Phật con người thuờng sống trong vô minh ái dục, không thoát khỏi đươc 12 duyên khởi ràng buộc đời sống, nên cứ mãi triền miên trong luân hồi tái sinh. Cái độc đáo ở đây là Nguyên Sa đã chấp nhận tình yêu như là một duyên khởi bất biến xuyên suốt ngàn kiếp, luân hồi trong phương vị con người. Nhân danh tình yêu như lẽ sống của đời nguời, ông mạnh dạn vượt qua định mênh hay nghiệp chướng an bài để song hành tái sinh với tình yêu.
Viết đến đây tôi lại liên tưởng tới bài biên khảo của ông trong tạp chí Sáng Tạo số 15 (tháng 12, 1957), “Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do.” Ông cho rằng thân phận của Kiều cũng chính là thân phận cũa ND sinh ra trong thời Lê Mạt đối với Nguyễn triều. Thời ấy ND chỉ là “hàng thần lơ láo” giống như Kiều trong chốn thanh lâu. Nhưng qua Kiều ông đã vượt qua định mệnh bằng sắp đặt cho Kiều trả ơn báo oán và quyết không nối lại tình xưa với Kim Trọng để giữ tròn danh tiết. Theo Nguyên Sa, qua cách gỉải quyết mâu thuẫn này của tác phẩm, ND đã chiếm được chỗ đứng trên nẻo đường tư do.
Với Nguyên Sa, việc hành xử tự do trước định mệnh an bài của ND cũng chính là lập trường và thái độ tự do của ông đối với Thập nhị nhân duyên và kiếp Luân hồi của Phật giáo. Trong mê trận đồ này Nguyên Sa đã chọn một ngã rẽ giải thoát cho con người qua ngả tình yêu.
Hai câu cuối ông vận dụng đến cả hai thực thể tình yêu và tôn giáo để biện minh cho con đường giải thoát:

Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên

Người ta thường nói “yêu là chết trong lòng một tí, vì mấy khi yêu mà đã được yêu”. Câu nói thời danh ấy lấy từ hai câu thơ đầu trong bài thơ nổi tiếng “Yêu” của Xuân Diệu, Thực sự hai câu ấy lấy ý của hai câu thơ khác nhau của hai tác gỉa người Pháp ghép thành: Partir, c’est mourir un peu, trong bài Rondel De L’Adieu của Edmond Haraucourt (1856-1941) và Offrir beaucoup, et recevoir bien peu de choses” của nhà thơ Pháp Félix Arvers.
Tình yêu thánh hóa con người nhưng tình yêu cũng làm con người điêu đứng vì đau khổ. Với Phật giáo yêu là bể khổ, tình là giây oan. Trước khi trở thành một tín hữu công giáo, với niềm tin vào số kiếp ắt hẳn ông phải là một Phật tử thuần thành bởi lẽ ông đã từng có nhiều bài viết đóng góp trên các tạp chí Phật giáo đương thời ?
Trong hoàn cảnh phân vân ấy ta không khỏi liên tưởng đến tâm trạng của Kiên Giang qua bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím,” không phải tìm đến Chúa như tìm đến sự giải thoát toàn diện, mà tìm đến sự cứu rỗi của một tâm hồn ngoại đạo sống khổ đau vì tình yêu vô vọng:

Lạy chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ngự trên cao
Trong lòng con giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con chúa ơi!

Phải chăng “bản kinh cầu” của Nguyên Sa cũng nẩy mầm từ những hoàn cảnh tương tự.? Có thể không phải trường hợp cá biệt như Kiên Giang, mà là cảnh ngộ chung của cả mọi con người khi vương vấn vào đường tình ái?
Bề ngoài, chúng ta cũng biết Nguyên Sa là con chiên ngoan đạo có rửa tội, bia mộ ông mang tên thánh Guise (dù không có thánh gía). Khi ông mất, tang lễ được tổ chức theo nghi lễ Thiên chúa giáo. Nói chung lại, ông đã được thoả nguyện “Chết lành như một tín hữu Công giáo.”
Như vậy, trong con người Nguyên Sa có hai bản ngã: Một bản ngã chấp nhận tình yêu và khổ đau của kiêp người trầm luân trong luân hồi của Phật giáo, và bản ngã thứ hai tin vào sự cứu rỗi của Chúa Trời vì Chúa lòng lành lúc nào cũng mở rộng bàn tay cứu chuộc những ai tin yêu Chúa. Nói cách khác Chúa luôn chấp nhận sự chọn lựa tự do của con người trên đường tìm vể cứu rỗi.
Trong thực tế ta thấy thái độ của thi sĩ như vẫn còn dè dặt khi chọn con đường gỉai thoát:

Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên

Hai chữ “biết đâu” phản ánh một tâm trạng hy vọng trong nghi hoặc. “ Biết đâu thảo mộc bớt đau” là một gỉai pháp bất hoàn thiện –tình yêu và sự đau khổ không thể tách rời dù có được chúa quan phòng cứu rỗi. Và “ biết đâu có bản kinh cầu dâng lên”. Bản kinh cầu là một danh từ chuyên dùng trong Công giáo, Phật giáo thường dùng dạng nghịch đảo của từ này như một động từ: cầu kinh hay cầu nguyện. Vậy bản kinh cầu ở đây không giành cho sự giải thoát toàn diện nghiệp qủa như Phật giáo mà là ước vọng cứu rỗi nhất thời về những xung đột tình cảm trông đợi nơí Công giáo: “ thảo mộc bớt đau”? Chúng ta hiểu thảo mộc đây chính là tác gỉa hay con người nói chung như nhiều lần ông đã vận dụng trong thơ ông.
Xem vậy, căn cứ vào những ước nguyện cuối đời qua sáu câu thơ lục bát, chúng ta có quyền hoài nghi sự ngoan đạo của Nguyên Sa ở cả hai tôn giáo khi ông đi tìm con đường giải thoát cho bản thân. Nguời ta không ghi nhận ông minh thị phản bác một tín lý nào nhưng rõ ràng ông đã lựa chọn tự do như ông đã từng gián tiếp bênh vực cho ND và Truyện Kiếu.
Với Nguyên Sa con đường tình yêu chính là con đường trung hòa giữa hai tôn giáo: Phật và Thiên chúa giáo. Là một nhà giáo dạy và nghiên cứu về triêt học hiện sinh, ông không thể chấp nhận thuyết Thập nhị nhân duyên xét như một định mệnh do chính những hành động tự thân chi phối tự do của đời mình. Do vậy ông đã không chọn con đường diệt khổ của Phật giáo để ra khỏi cảnh luân hồi. Trái lại ông chỉ chọn một ngã rẽ của sự tái sinh luân hồi của Phật giáo để đồng hành trường cửu với tình yêu. Tình yêu với muôn vàn mê kiếp ở đây đã giao hòa với tình yêu và tự do trong cứu rỗi của Thiên chúa (charity). Ít ra trong thơ ông một thoả nguyện vẹn toàn đã bay bổng trong cõi làm người...
Tóm lại với ý chí tự do và một hoài vọng về tình yêu bất diệt đời đời, ai có thể ngăn cấm một tâm hồn lãng mạn với óc sáng tạo xuyên tôn giáo của một nhà thơ? Phải chăng đó chính là những khẳng định nghịch chiều trước khi thi sĩ được thỏa nguyện chết lành như một tín hữu Công giáo?

Phạm Đức Khôi         
(Hạ Ái Khanh sưu tầm)

 

Thư Em Viết

E-mail Print

Em yêu ơi những lá thư em viết,
Vẫn còn đây mầu mực tím mong manh,
Vẫn theo anh trong những bước quân hành,
Anh vẫn để trong ba lô ấp ủ.

 

THỨ SÁU NÀO NGỜ

E-mail Print

Còn đâu những lối đi về
Đường quen lối cũ lá me phủ đầy
Những chiều thứ Sáu mưa bay
Giọt rơi ướt áo vai gầy tuổi thơ

 

Giọt Lệ Cuba

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Dạo:
Havana rượu chảy tràn,
Florida lắm kẻ tan nát lòng

 

Tình Cha

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Con biết ba rất nghiêm khắc

Tới lớn tụi con còn sợ

Sợ nhưng tụi con rất thương ba

Kính yêu chứa chan trong nỗi sợ

Thương ba từ tấm gương ba cư xử

Hiếu thảo, nghĩa tình, vị tha vẹn đủ

Thương các con cố giữ trong lòng

Lo các con, bửa cơm thiếu đứa chưa về, chưa chịu ăn

Vui mới ra mặt ngày cả mấy đứa đều đậu hết

Cuối năm phần thưởng chất đầy nhà làm tiệc

Mà không cho mừng vui quá sức, đờn ca xướng hát

Đứa nào học dở bị phạt

Chỉ cơm nguội, không có đồ ăn

Cả tháng trời phải ráng học hành

Được điểm tốt mới được yên phận

Cha nghiêm,khuôn khổ cho các con được nên người hữu dụng

Un đúc tốt trong luân thường , đạo lý Khổng Mạnh

Tạo nên người đáng mặt làm người

Các con khôn lớn , cha đã qua đời

Hiểu được thắm thía ơn cha như núi Thái Sơn

Muốn tạ được nghĩa ơn, thì đã muộn

Chương Hà

 

Biển, Cá Và Người

E-mail Print
alt

Đứng sững nhìn rừng cá chết nằm phơi,

Lửa uất hận nung mắt người rát bỏng.

Dãy thuyền gỗ kẹt trên bờ lóng ngóng,

Đoàn ngư dân tuyệt vọng ngước nhìn trời.

 
Page 4 of 57
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account