CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Tháng Tư Lại Về !!!

E-mail Print

File:Saigon-hubert-van-es.jpg

Hồi Ký Vương  Mộng Long K20
________________________________
Ghi chú: BĐQ Vương Mộng Long, tốt nghiệp  Khóa  20/TVBQGVN.  Trong suốt thời gian binh nghiệp, ông phục vụ tại  Vùng II qua các  Tiểu Đoàn BĐQ sau đây: TĐ 11, 4 Mike Force, TĐ 81, và TĐ 82.  Cấp bậc và chức vụ  sau cùng: Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 82/BĐQ.  Sau 30/4/1975, Cộng Sản VN đã  giam giữ ông từ 1975 tới  1988  qua các trại cải tạo, từ nam ra bắc (13 năm).   Hiện ông và  gia đình, vợ 4 con, đang sinh sống tại Seattle, WA.   Năm 2003, ông  tốt nghiệp University Of Washington với cấp bằng B.A. Social  Science &  Communication
Trích từ Nguoi Viet  Online 01/10/2007:


"Cái đáng nói nhất, đó là nhờ Sư Đoàn  18 BB và các đơn vị tăng phái  cho Mặt Trận Xuân Lộc Tháng Tư 1975 như Lữ  Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 82 BĐQ, SĐ3 và 4 KQ... nên QLVNCH đã cầm chân  được Cộng Sản Bắc Việt gần 2 tuần lễ.  Nhờ vậy đã giúp cho một số lớn người  Việt  Nam hậu phương, có cơ hội ‘di tản’ ra nước ngoài để đổi đời."

Mường Giang


________________________________

Bây giờ là tháng Tư, trong ký ức tôi những kỷ niệm 30 năm trước lại   hiện về, rõ mồn một như thể là nó mới xảy ra ngày hôm qua, hôm kia.


Bây giờ là  tháng Tư, tôi lại nhớ đến trận đánh oai  hùng cuối cùng của QLVNCH, trận  Xuân-Lộc!  Tôi bùi ngùi hồi tưởng  những vinh quang nhận được từ chiến thắng để  đời này, cùng những tủi nhục  nhận lãnh trong những ngày đen tối tiếp theo sau  đó, khi quê hương nát  tan.  Những dòng này viết lên để tưởng niệm những thuộc  cấp của tôi đã ngủ yên giấc tháng Tư, bên con suối Rét (Xuân-Lộc), trên một ngọn  đồi  không tên ở Long-Thành, và trong đường phố Hố-Nai (Biên-Hòa).


Đầu tháng Tư năm 1975, Quân đoàn 2 không còn nữa.  Vì liên đoàn  trưởng  và liên đoàn phó vắng mặt, nên tôi được chỉ định nhận nhiệm vụ chỉ huy và hướng  dẫn Liên đoàn 24/ Biệt Động Quân từ Quảng-Đức tìm đường  ra
biển để bắt tay với  quân bạn.  Khi liên đoàn được trực thăng vận về Phan-Thiết thì Tiểu đoàn 82 BĐQ  được đưa thẳng  về sân bay Long-Khánh đặt thuộc quyền xử dụng của BTL/ SĐ 18 BB.   Tại đây, suốt 10 ngày đêm ròng rã, Tiểu đoàn 82/ BĐQ đã tả xung hữu đột chặn  đứng mọi mũi tiến công dũng mãnh của lực lượng xe tank Cộng-Sản Bắc-Việt  nhắm  vào sân bay Xuân-Lộc và Tòa Hành Chánh Long-Khánh vùng đông nam thành  phố.  Với  tôi, trận Long-Khánh là một trận đánh "để đời" cho những  tay cầm quân chuyên  nghiệp.


Ngày xưa tôi rất mê  Rommel, tôi đã tìm đọc nhiều sách viết về "Con Cáo  Sa Mạc" này, và tôi mơ tưởng có ngày được đánh những trận thần sầu như Rommel đã  làm.  Ngày đầu đặt chân xuống phi trường Long-Khánh (6/4/1975) tôi thật  khó mà  tưởng tượng ra rằng tại nơi này mình lại có dịp tham dự vào một  trận đánh long  trời lở đất vài ngày sau đó.  Trận Xuân-Lộc là lần đầu  trong đời lính, tôi được  thỏa mãn ước vọng đọ sức so tài với một địch thủ nặng cân hơn về vũ khí, đồ sộ  hơn về quân số.  Địch đông gấp ba, bốn  lần quân bạn, được T54 trang bị đại bác  100 ly dẫn đường.  Pháo yểm  của CSBV gồm đủ loại hạng nặng: đại bác 130 ly, 122  ly nòng dài, 105 ly,  75 ly sơn pháo, cối 120 ly, cối 82 ly, và phòng không 37  ly.  Thậm  chí trong ba ngày đầu địch dùng cả phòng không 37 ly bắn  trực xạ vào  trại 181 Pháo Binh/ SĐ18BB, nơi tôi đặt bản doanh BCH Tiểu đoàn 82 BĐQ.  Ấy vậy  mà đoàn quân hung hăng của  "Con Cháu Bác" không làm cách nào vượt nổi khúc xương  khó nuốt là cái trại  181 PB bé tí teo để xông thẳng vào tòa Hành Chánh tỉnh, nơi  ông Đại tá BĐQ  Phạm văn Phúc (K10VB) tỉnh trưởng, đang trợn tròn con mắt theo  dõi tên đàn  em về từ Pleime chơi trò ú tim với xe tank CSBV.


Rạng đông 9/4/1975 chiến trận bắt đầu bùng nổ.  Chiến trường mịt mù  dưới đất, tóe lửa trên trời.  Những cánh F5 thét gào, lên, xuống, thả hết đợt  bom này tới đợt bom khác lên đầu địch.  Đáp lại, địch cũng trả  đòn bằng những  chùm 37 ly phòng không nở hoa trên mây.  Những chiếc  Khủng Long AC 119 bao vùng  cả ngày lẫn đêm, những họng đại bác 20 ly gầm  rú từng hồi.  Súng nổ như bắp rang  khắp nơi trong  thành phố, ngoài vòng đai.  Đủ loại đại bác thét gầm; đạn xé gió  ào  ào tới tấp tưới trên mục tiêu của cả hai phía.  Những đám cháy không  người  chữa, lửa càng lúc càng cao, thần hỏa tự do tung hoành.  Máy  truyền tin ơi ới  gọi nhau.  Những thân hình ngã xuống, những tiếng hô  xung phong nghe rợn tóc  gáy.  Những chiếc T54 hung hãn khạc đạn không ngừng, những cái lô cốt ngả  nghiêng vì trúng đạn đại bác 100 ly của xe tank địch.  Trong những ngày đầu  tháng Tư Long-Khánh, một góc địa cầu đã rung rinh vì bom đạn!
Khi  chiếc PT 76 vướng vào cuộn kẽm gai vòng nơi góc rào tây bắc của  trại 181  Pháo Binh Sư Đoàn 18 thì cũng là lần đầu đoàn quân xâm lăng khựng lại  hoảng hồn bởi những tiếng hô, "Biệt Động! Sát! " ... "Biệt Động! Sát!"  Chiếc xe  tank đầu tiên lãnh một quả M72.  Chiếc PT  76 xấu số cháy bùng.  Những tên bộ đội  Cộng-Sản tùng thiết rút lui  trối chết về hướng rừng lau.  Chúng tôi đã ra mặt  đương đầu với đoàn  chiến xa CSBV ngay từ giờ đầu súng nổ.  Nơi góc đông nam thị  xã,  những người xâm lăng đã biết chúng tôi là Biệt Động Quân.


"Biệt Động! Sát!" , "Biệt Động! Sát!" tiếng hô vang dậy một góc  trời.  Biệt Động Quân đang có mặt nơi đây!
Săn đánh  xe tank là cả một nghệ thuật, nó còn là một cái thú nữa, cái  thú vui chết  người!  Hơ hỏng một chút thôi là mất mạng như chơi.  Trong số 12   BĐQ Pleime tử trận ở Long Khánh tháng 4/1975 đã có 7 người  chết trong khi săn  đuổi xe tank CSBV.  Mỗi chiến cụ, mỗi vũ khí đều  có chỗ yếu của nó.  Cái bộ phận  phun khói của xe tank là cái "gót  chân Achilles" của xe tank CSBV.  Tất cả những  chiếc tank địch bị TĐ82 BĐQ tiêu diệt trong trận Xuân-Lộc đều bị bắn từ phía sau  đuôi, nơi  phun khói.


Đánh tank cũng có qui luật.  Việc đầu  tiên là "tỉa" tên xạ thủ 12,8  ly, nó là tai mắt của chiếc tank, nó có một  chân trái hoặc phải bị khóa vào dây  xích trên ghế phòng không.  Việc  thứ nhì là "bung" một trái lựu đạn khói hoặc  lân tinh làm màn chắn che mắt  cái tank bạn của nó ở cách nó không xa, cây phòng  không trên chiếc tank  thứ nhì là tử thần gọi chết.  Việc thứ ba thật là giản  dị,  cứ đứng xổng lưng bóp cò cây M72 nhắm ngay phần phun khói sau đít cái  tank mục  tiêu, đây là phần mỏng nhất, dễ bắn thủng nhất của chiến  xa.  Một tiếng "bùm! "  rồi tiếp sau đó là xăng và đạn trong xe cháy  nổ "lóc! tóc!... ùm! ùm! " ngọn lửa  dâng cao, khói dâng cao.  Xong!


Mỗi lần một chiếc PT 76 hay T 54 bị bắn cháy, cột khói  chưa lên cao  khỏi ngọn cây thì người Anh Cả của chiến trường đã có mặt  trên vùng.
-Tiên Giao đây Hằng Minh gọi!
- Hằng  Minh, Tiên Giao nghe!
- Come  on!  Gắng lên nghe em!  Đánh cho nó tà đầu hết cục cựa!  Okay?
- Vâng, tôi nghe 5, đánh cho nó tà đầu hết cục  cựa!
- Okay!  You're a man!  Don't let 'em run  away!  Okay?
- Vâng, không cho nó ôm đầu mà chạy!
- Kill 'em!  Kill  'em!  Okay!
- Vâng!  Đây là cái tank thứ (2)  (3)... đó nghe Hằng Minh!  Nó vào cái  nào, tôi hạ cái nấy nhé!
- Okay!  I like the way you fight!
- Vâng, tôi nghe rõ 5!
- You're great! You're  excellent!
Sau khi thị sát trận địa và khích lệ tinh thần  tôi, người Anh Cả bay  sang mặt trận hướng Tây thị xã.  Trên đường  bay, ông liên tục đối thoại với vị  chỉ huy trưởng phòng thủ Xuân-Lộc, Đại  tá Trung đoàn trưởng Tr/Đ 43/ SĐ18 BB Lê  xuân Hiếu (K10) cũng bằng ngôn  ngữ nửa Việt nửa Mỹ.  Người Anh Cả của mặt trận  này là Thiếu tướng Lê  Minh Đảo (K10) Tư lệnh Sư đoàn 18 BB.  Ông lấy danh hiệu  đàm thoại là  Hằng Minh, tên người em ruột của ông.  Trung tá Lê Hằng Minh là  người hùng TQLC Tiểu đoàn trưởng TĐ2/ Trâu Điên năm xưa đã tử trận trên chiến  trường Thừa-Thiên.  Tiên Giao là tên đứa con gái út  của tôi, danh xưng truyền  tin tôi chọn cho mình trong trận đánh này.   Ngày qua ngày, pháo địch như mưa, T  54 có bộ binh tùng thiết, từng đợt,  từng đợt ào ạt xung phong vào vòng đai phòng  thủ thị xã.  Nhưng những tổ chống tank ba người của TĐ 82/ BĐQ ẩn hiện như ma   trơi, sau ô mối, sau gốc xoài, trong bụi chuối, cứ từ từ rang hết con cua T  54  này đến con cua T 54 khác.  Tiểu đoàn tôi đánh vùi với chiến xa địch cả tuần lễ  không biết mệt.  Toán diệt tank này bị loại, toán  khác lên thay.  Có cả một  giang sơn hướng đông nam thị xã cho chúng  tôi mặc sức tung hoành!  Chúng tôi đã  làm cho địch tổn hại nặng nề.  Chúng tôi đã đánh cho chúng nó "tà đầu" như ý  của  Thiếu Tướng Tư Lệnh mặt trận.  Một ngày giữa tháng Tư năm 1975,  ngoài vòng đai  phòng thủ, một chiếc T 54 chạy lạc loài.  Cái ống khói  của nó lãnh trọn một quả  M 72 từ toán diệt tank của Đại Đội 1/ TĐ82  BĐQ.  Anh binh nhì Phan Thọ trong  toán hộ tống  của TĐT82BĐQ cùng với anh phóng viên nhà báo lao vụt về hướng súng   nổ.  Ít phút sau tôi nghe choang choác, tiếng phòng không 12,8 ly nổ dòn  ngoài  xa.  Trong máy PRC 25 tiếng Th/úy Học, ĐĐT1/82 BĐQ báo cáo,  thằng Thọ bị thương  nặng, xin tản thương.  Thì ra anh B2 Thọ gan dạ này thấy chiếc T 54 đã nằm bất  động, anh leo lên gỡ khẩu phòng không đem về cho thầy.  Không ngờ còn một chiếc   chiến xa T 54 khác nằm ẩn trong bụi lau cách đó không xa; thấy anh đứng  nghênh  ngang sau pháo tháp, nó quạt cho anh một tràng 12,8 ly.  Anh  rơi xuống đất như  con chim bị ná.  Ruột anh đổ ra lòng thòng, máu  tuôn như suối.  Anh phóng viên  và một người lính trong toán diệt tank  khiêng Thọ về sân bay.  Sĩ Quan Trợ Y  Tiểu đoàn phải dùng cả một tấm  băng lá to bằng hai bàn tay xòe để che cho ruột  của  Thọ khỏi phòi ra.


Mặt Thọ tái xanh, môi run run,
- Thiếu tá đừng la em nhé!  Em thấy cây súng dễ ăn  quá, không ngờ tụi  nó bắn lén em!
Tôi an ủi Thọ,
- Ừ Thiếu tá không la em đâu, nằm im đó chờ xe.   Hoàng Long sẽ đem em  đi tản thương!
Hoàng Long là  danh xưng của Đại úy Ngũ văn Hoàn, Tiểu đoàn phó TĐ 82/   BĐQ.


Tôi một mặt lo xin pháo binh trong vòng đai trực xạ vào vị trí chiếc  xe tank còn lại, một mặt điều động ĐĐ1 TĐ1 Trung đoàn 43  BB đánh bọc bên phải  tiếp tay cho Thiếu úy Học ĐĐ1/82 có thì giờ dùng kẽm  gai concertina quây quanh  chiếc xe mới bị bắn cháy.  Chỉ có  concertina mới ngăn cản hữu hiệu được bước  tiến của chiến xa địch.   Con đường độc nhất để tiến quân bằng xe tank của địch  nhắm vào sân bay  Long-Khánh đã bị đan chằng đan chịt kẽm gai vòng.  Chiếc tank  mới bị cháy nằm hơi xa ngoài hàng rào và nó là chiếc T54 thứ tư bị sơn lên pháo   tháp dòng chữ "Tiểu đoàn 82/ BĐQ diệt tank".  Năm 1981 tại trại Cải Tạo Z30 C  Hàm-Tân, có một Thiếu úy thuộc LĐ 81/ BCND tên  là Nguyễn văn Vinh tìm gặp tôi.   Anh nói, "Tháng 5/1975 em bị nhốt ở Long-Khánh, em ở trong toán tù binh bị bắt  đi chùi  những chữ 'Tiểu đoàn 82 BĐQ diệt tank' viết trên bốn cái tank T54 và một   cái lội nước PT 76 ở bìa rào phòng thủ Xuân-Lộc.  Công nhận tiểu đoàn anh đánh  tank tuyệt quá!"


Chiếc xe tản thương của Trung đoàn 43 BB đã đưa B2 Phan Thọ về ngã ba  Tân-Phong, tháp tùng có Đại úy  Hoàn, anh phóng viên nhà báo và một anh y tá  BĐQ.  Khi quay trở về vị trí phòng thủ, ông Đại úy Tiểu đoàn phó kể lại chuyện  dưới đây.  Xe  tới BTL/ SĐ18/ HQ thì Thọ rất mệt vì máu ra đã nhiều, anh xuống xe  ngồi  dựa lưng vào một gốc xoài.  Ông Đ/úy Hoàn đi tìm Sĩ quan Quân Y Sư đoàn để  xin tải thương.  Bất ngờ Tướng Tư Lệnh từ trong lều bước ra, thấy Thọ, ông hỏi,
-Em là lính của  ai?  Bệnh gì?  Muốn về Sài-Gòn hả?
Thọ im lặng  mở tấm băng lá cho Tư Lệnh thấy vết thương của mình.  Bất  ngờ, bộ ruột của anh trào ra khỏi miệng vết thương; máu anh tuôn xối xả.
Anh y tá vội thưa,
- Trình Thiếu  tướng, anh này là lính TĐ 82 BĐQ , ảnh bị phòng không  bắn khi đang gỡ khẩu  12,8 ly trên cái chiến xa vừa bị bắn cháy. Thiếu tá em cho  phép ảnh được  tản thương về Sài-Gòn đó Thiếu tướng.
Tư Lệnh la lớn,
- Quân y đâu băng bó cho chú em ngay.
Ông quỳ xuống tự tay ấn từng đoạn ruột của người lính vào bụng của  anh  ta.  Người y tá vội vàng làm
phận sự của  mình tiếp tay với Tư Lệnh.
Đại úy Hoàn vừa kịp quay lại  chưa kịp chào trình diện thì Tư Lệnh đã  lớn tiếng,
- Phi hành đoàn C&C đưa gấp chú em này về Cộng-Hòa cho tôi.
Quay qua Thọ, Tướng nhẹ giọng,
- Em là lính của Thiếu tá Long, em can đảm lắm, qua sẽ cứu em!
Thọ lí nhí,
- Cám ơn Thiếu tướng.
Rồi anh quay qua Đại úy Hoàn,
- Cho em điếu thuốc đi Đại úy.


Đại úy Hoàn chưa kịp móc túi lấy thuốc cho  Thọ, thì Tướng đã có sẵn  điếu thuốc lá đưa vào môi người lính can  trường.  Ông một tay che gió, một tay  bật lửa mồi thuốc cho  Thọ.  Mặt Thọ tái xanh, những thớ thịt trên má bắt đầu co  giật.   Thọ hút một hơi thuốc dài, mắt Thọ long lanh, chợt anh ngoác miệng cười,
- Khẩu phòng không còn mới cáo cạnh,  nước thép xanh biếc thấy mê luôn  Đại úy ơi!
Ông Đại úy Hoàn an ủi,
- Giờ này chắc tụi nó đã mang khẩu  súng ấy về nộp cho Thiếu  tá rồi.  Mày nói đúng đó, nó còn mới cáo  cạnh, hèn nào mày không mê nó đến đổ  ruột luôn!
Thọ cúi đầu cười xẻn lẻn.
Cái bảng nhôm sơn đỏ có sao trắng được lật mặt ra đàng sau đã trở  thành cái bảng nhôm màu trắng thanh khiết  bên hông chiếc C&C.  Không bảng  sao, chiếc trực thăng chỉ huy trở thành giản dị bình thường, như ngàn vạn chiếc  tàu khác.  Trước khi  lên máy bay, Thọ còn ra dấu cho Đại úy Hoàn lại gần để anh  nhắn nhủ một điều gì quan trọng lắm,
- Em đi rồi không có ai pha cà  phê sáng cho Thiếu tá.


Đại úy nhớ nhắc  thằng Bích  khi pha cà phê cho Thiếu tá thì cho ít đường thôi!  Thiếu tá không   thích uống ngọt lắm đâu.  Nhờ Đại úy nhắn với Thiếu tá rằng, khỏi bịnh,  xuất  viện là em lên với Thiếu tá ngay.  Thôi em đi đây!
Không rõ Tư Lệnh có nghe lời nhắn của anh lính BĐQ gởi  cho thầy của  anh ta không, nhưng rõ ràng đôi mắt Tư Lệnh rưng rưng.   Chiếc trực thăng khuất  trong vòm mây từ lâu mà cánh tay Tư Lệnh còn vẫy  theo chưa hạ xuống.  Đây không  phải là lần đầu cái can trường của  thuộc cấp làm tôi cúi đầu kính phục.  Mà đã  nhiều lần trong quá khứ, dưới quyền tôi, không thiếu những ngưới lính dũng cảm  như thế.  Thời  1966 vùng triền sơn Quảng-Nam đầy rẫy những họng súng bắn  tỉa.   Cứ nghe tiếng "tắc cù" là chú Hạ sĩ Phong lại đưa cái thân cao  ngỏng còng queo  của chú che cho tôi, chú nói,


- Em  phải che cho Thiếu úy, em trúng đạn có mình em chết.  Thiếu úy  trúng đạn cả chục người chết theo.
Rồi cũng có lần chú bị bắn  toác nón sắt khi đưa thân che chở cho tôi,  khi Đại đội tôi chạm địch gần  ga Hương- An, Tam-Kỳ.
Năm 1969 trong trận Bình-Tây 49  dưới chân đỉnh Chư-Pa, Đại đội 1/ TĐ11BĐQ của tôi đánh cứu viện cho Đại đội 4/  TĐ11 BĐQ của Tr/ úy Nguyễn Lạn  (K20).  Trận này quân nhân đơn vị của  tôi và Lạn bị thương khá nhiều.  Từ đầu  trận, người lính mang đồ ngủ của tôi, anh B1 Trung đã bị bắn bể hông phải.  Đã  có nhiều chuyến tải  thương đi,
mà Trung vẫn còn ngồi chờ trên bãi đáp.   Tôi hỏi  tại sao anh không lên máy bay về bịnh viện, anh phân bua,
- Em chờ xem có ai bàn giao đồ ngủ của Trung úy xong em  mới yên lòng  đi về.
Tôi ngỡ ngàng kêu lên,
-Trời ơi!  Sao mày khờ thế!  Cứ quăng đại cho  ông thường vụ!  Lên tàu  ngay!  Luẩn quẩn ở đây đến chiều, hết  tàu tản thương.  Qua đêm máu ra hết thì  chết!


Trung giao đồ ngủ của thầy anh ta cho ông thường vụ đại đội, bàn  giao  kỹ lưỡng nhiệm vụ của mình rồi mới chịu lên chuyến tải thương cuối  cùng về Quân  Y Viện Pleiku.  Vết thương của anh nặng lắm, sau ngày  lành bệnh, anh B1 Trung đã  được giải ngũ lãnh tàn phế 100%.  Những  người lính của tôi dễ thương như thế  ấy!  Họ chỉ biết vâng lời người chỉ huy mình, bất kể đúng hay sai.  Cấp chỉ huy   ra lệnh tử thủ, họ tử thủ; cấp chỉ huy ra lệnh rút lui, họ rút lui; không  ý  kiến, không bàn cãi phán xét mà chỉ có tuân lệnh thi hành.  Họ đã  cùng tôi bao  tháng ngày đồng hành qua những chiến trường rực lửa, từ Pleime qua Kiến-Đức tới  Lâm-Đồng rồi về Xuân-Lộc.  Những người lính  của tôi không màng đến vinh quang mà  chỉ phụng sự cho cái vinh quang của người chỉ huy mình.  Vinh quang một đời  của  người cầm quân là một món nợ, nợ với tổ quốc, nợ với đồng bào, và nợ với thuộc  cấp của mình, những người đã hi sinh cho cái vinh quang mà mình đã một thời nhận  được.


Là người cầm quân, vinh quang là cứu cánh, vinh  quang là ý nghĩa của cuộc sống.
Tôi không có dịp tham dự vào cuộc phản công tái chiếm  chợ Xuân-Lộc,  khách sạn Long-Khánh và Cua Heo cũng như những cuộc giao  tranh trong khu trung  tâm thị xã.  Tin tức liên quan đến mặt trận  hướng Tây tôi hoàn toàn mù tịt.   Suốt mười ngày dầu sôi lửa bỏng  tháng Tư Long-Khánh 1975, TĐ 82 BĐQ chỉ biết có  mặt trận đông nam thị xã  mà thôi.  Bên hướng đông suối Rét là Lữ đoàn 1 Dù của  Trung tá (K15)  Nguyễn văn Đỉnh làm búa.  Bên hướng tây suối Rét là cái đe do  Thiếu  tá (K20) Vương mộng Long, TĐT82BĐQ chỉ huy, gồm TĐ 82 BĐQ tăng cường thêm   1 Đại đội của TĐ 1/ 43 BB, 1 Đại đội Địa Phương Quân Tiểu Khu Long-An và 1 Đại  đội Điạ Phương Quân từ Bình-Long di tản về.  Làm đe thì đỡ công di chuyển, đỡ  mệt thân xác, dễ kiểm soát đội hình, quân số.  Nhưng làm đe cho Dù thì quả là  mất mạng như chơi!  Pháo Dù nó tưới như mưa, làm đe bị lãnh tản đạn là  thường.   Trong trận này có ba người lính Thượng của tôi thiệt mạng vì  tản đạn của pháo  Dù.  Tháng Tư 1975 tôi đã chôn họ ngay bên dòng suối  Rét.  Tôi đã cầu nguyện cho  linh hồn họ yên vui trên đường phiêu du  về nguyên quán Pleiku.


Từ ngày đầu chiến dịch, một anh  phóng viên chiến trường của một tờ báo  ở Sài-Gòn, đã có mặt bên tôi không  rời.  Anh có dáng lòng khòng dong dỏng như  một triết nhân.  Anh  mặc đồ trận, đội nón sắt, nhưng không trang bị súng
ống.   Anh chỉ có cái máy ảnh, quyển sổ tay, và cây bút làm  hành trang.  Ngày mà đạn  pháo Dù bao trùm suối Rét cái lều của anh  nhà báo rách toang.  Cũng may anh  thoát chết vì lúc đó anh đang ở với ĐĐ1 TĐ82 BĐQ của Th/úy Học; anh bận chụp  hình cái tank cháy ngày hôm trước  nơi hàng rào bắc của trại 181 PB/ SĐ18.  Giữa  tháng Tư Lữ đoàn 1 Nhảy  Dù tung ra nhiều đợt tấn công mãnh liệt nhắm vào một  Trung đoàn CSBV trong đồn điền chôm chôm hướng đông nam suối Rét.  Chúng tôi ở  bên này bờ, hào hứng quan sát pháo Dù nổ rền trời phía bờ bên kia.   Từ nơi đồn  điền Thống tướng Tỵ, cán binh CSBV từng tốp chạy túa ra bìa  rừng, nhảy ùm xuống  suối Rét.  Những tay súng Pleime nhả đạn từ từ và chính xác.  Những người lính  Bắc-Việt bật lên  khỏi mặt nước như những con cá trắm cỏ, quẫy mạnh một lần rồi  chìm luôn...


Những tiếng hô "Biệt Động! Sát!" hoà lẫn tiếng súng M16,  M60 làm cho  một số cán binh CSBV vừa ló đầu ra trảng trống đã vội chạy  ngược lại bìa rừng.
Rồi cũng có người cầm cờ trắng chạy  từ trong rừng ra bờ suối, súng AK  dơ lên cao khỏi đầu.  Thế là họ đầu  hàng!
-Thôi!  Vứt súng xuống suối rồi lội sang đây!  Vứt súng xuống suối!   Dơ tay lên cao khỏi đầu, lội sang đây!  Nghe rõ chưa?
- Dạ cháu nghe rõ ạ!
Tôi và người phóng viên nhà báo mồi cho ba anh cán  binh CSBV ba điếu  thuốc lá.  Họ còn rất trẻ, chỉ độ mười lăm.   Bơ phờ mất ngủ, mắt quầng thâm.
- Cậu mấy tuổi rồi?
- Dạ thưa Thủ trưởng, cháu lên mười sáu ạ!
- Sao đi bộ đội sớm thế?  Mới mười sáu mà đã đi  lính rồi à?
- Cháu là thanh niên xung phong. Thủ trưởng  của cháu nói rằng Miền Nam  giải phóng rồi.  Chúng cháu chỉ vào để tiếp thu thôi ạ!
- Thế đánh nhau mấy ngày nay cậu thấy  thế nào?
-Thưa Thủ trưởng, nhà cháu sợ lắm ạ!
- Thôi đừng sợ, chốc nữa có người đưa cậu về Sài-Gòn.  Hết chết rồi,  đừng sợ!
- Thủ trưởng  có nói thật không hử Thủ trưởng?  Nhà cháu sợ chết lắm  Thủ trưởng ơi!
Đôi mắt trẻ thơ ngơ ngáo.  Ngón tay cậu bé run  run cầm điếu thuốc thơm  đưa lên môi, chỉ sợ nó rơi...
Thì ra thế!  Những cậu bé này được đưa vào đây là để... tiếp thu Miền  Nam!
Một hôm, Đại tá  Hiếu gọi tôi vào máy để "check fire".  Tôi liếc qua  nơi cần hỏa  tập.  Ồ!  Cái tọa độ ấy chẳng liên hệ gì tới quân bạn, không trở  ngại!  Rồi Đại tá Hiếu lại gọi tôi vào máy để "check fire".  Rồi tôi  lại trả  lời, "không trở ngại!"   Cứ vậy, ba bốn lần hỏi qua, đáp  lại.  Chiều hôm ấy tôi  nghe một tiếng "ùm!" âm vang hướng đông  bắc.  Tôi đã từng nghe B52 đánh cận  phòng nhiều lần trên chiến trường  Cao-Nguyên Vùng 2.  Tôi đã nghe quen tiếng  những trái bom 500 cân  Anh, 300 cân Anh thun thút từ trên mây xanh, những tiếng  "ủn ủn" theo đuôi  nhau chui trong không khí kiếm mục tiêu.  Nghe tiếng bom nổ  chùm, tôi  có thể phân biệt được đó là Box 3km x 1km, Box 2km x 1km,  hoặc Box 1km  x 1km.  Tiếng "ùm!" lần này có vẻ như âm vang của 1 Box  B52 đánh gọn ô vuông mỗi  chiều 1km x 1km ngày  nào?  Tôi thấy một cột bụi dâng cao dần dần tới mây.  Trời  cao  và mây xanh ngắt.  Có một chiếc C130 còn lượn trên vùng.  Tôi nghĩ chắc  chiếc C130 là tác giả cú "ùm!" vừa qua.  Mãi sau này tôi mới  biết tiếng "ùm!" đó  là 1 trong 2 trái CBU 55 (hay CBU 85) được xử dụng  trong trận Xuân-Lộc.  Một  trái được thả xuống vùng núi Tre hướng Tây  Bắc Long-Khánh, tôi không nghe báo.   Trái thứ nhì thì được thả xuống  chận đường kẻ thù đang tiến vào khu vực phòng  thủ của Trung đoàn 43/ SĐ18  BB trong đó có TĐ 82 BĐQ tăng cường.


Mặt trận tạm yên thì phái đoàn Thượng Hạ Viện từ Sài-Gòn đã bay ra tới  tận  cuối sân bay Long-Khánh để ủy lạo những người lính Vùng 2 đang đổ máu bảo  vệ  mảnh đất còn lại của quê hương nơi Vùng 3.  Những gói quà, những  cái bắt tay,  những lời hứa hẹn khen thưởng làm ấm lòng người chiến  sĩ.  Tôi nằm trên võng  dưới tàn cây điều lộn hột, lòng buồn nhớ thương vợ con tôi không rõ giờ này ra  sao.  Những người lính dưới  quyền tôi cũng vậy, mặt người nào cũng không vui,  thân nhân chúng tôi đã  rơi vào tay địch nơi chân trời cũ xa xôi Ban-mê-Thuột,  Pleiku...  Một  sớm mai, từ hướng đông, chiến xa địch dàn hàng tiến về vòng đai  phòng thủ Xuân-Lộc.  Đại tá Hiếu gọi tôi và cho biết lần này bộ binh tùng thiết  của CSBV có vẻ đông hơn những đợt tấn công trước đây nhiều.  Pháo binh bạn đã  bắn tối đa để chận địch.  Tôi thấy vài cột khói bốc lên từ những chiếc tank  bị  cháy.  Có một chiếc T54 bị bắn đứt xích cách vòng rào trại 181 PB  không xa lắm.   Chúng tôi nghe tiếng búa của bộ đội CSBV gõ trên thành  xe, chúng đang sửa cái xe  tank bị đứt xích!  Pháo binh từ trong vòng đai liên tiếp trực xạ hướng vào chiếc  T54 bị thương.  Địch không phản ứng.  Tiếng búa chạm sắt cũng im.  Họ án binh  chờ lệnh?   Rồi bên quân bạn cũng không thấy ai yêu cầu tác xạ thêm, pháo binh  của ta  cũng tạm ngưng.  Từ trưa tới chiều chạng vạng, mặt trận yên tĩnh lạ  lùng.  Khi mặt trời vừa lặn, pháo địch từ nhiều hướng  khác nhau tập trung trên  thành phố Xuân-Lộc, đủ loại súng nặng, bắn thẳng, cầu vồng, có điều khác lạ là  tất cả đều là pháo  tầm xa (?)  Pháo địch kéo dài cỡ một giờ đồng hồ rồi im hơi.    Màn đêm buông xuống, tôi nghe tiếng động cơ chiến xa nổ rộ, rồi nghe tiếng  bánh  sắt chạm đường đất đá, âm vang kéo dài từ gần rồi xa dần.  Toán  tiền thám BĐQ  ngoài vòng đai báo cáo, chiếc T54 bị đứt xích đã được kéo đi  và cả đoàn chiến xa  dàn hàng ngang ngoài vòng đai phòng thủ cũng đang rút đi (?)  Tôi báo cáo sự  việc này cho Đại tá Hiếu, ông cũng ngạc nhiên  không hiểu vì lý do gì, địch đang  chuẩn bị một cuộc sống mái thì đột nhiên đổi hướng.


Những ngày sau đó tình hình im ắng như tờ, những con ve sầu trên ngọn  điều lộn hột cất tiếng hòa ca điệu cuối Xuân  trong khung cảnh thật là tĩnh mịch  êm ả đồng quê.  Những cây chuối  trên đồi rủ lá.  Những sợi khói lam từ mái rạ  bay cao.  Khoảng  ba giờ chiều ngày 20/04/1975 Đại tá Hiếu cho xe ra sân bay đón  tôi vào họp  hành quân.  Ông rầu rầu,
- Ông Toàn ra lệnh cho  chúng ta bỏ Long-Khánh rút về Bà-Rịa.  Ông Đảo  vừa được lệnh và cho  tôi biết.  Tôi đón chú vào cho chú hay để mà chuẩn bị.   Chút nữa  ông Đảo họp với ông Toàn xong trở về sẽ có lệnh chi tiết sau.  Tôi  ngồi  với Đ/Tá Hiếu một lúc thì có điện thoại của Tư Lệnh.  Đại khái  ông cho biết,  lệnh bỏ Long-Khánh là từ Tổng  Thống.  Địch không vây Long-Khánh nữa mà đi bọc về  đánh Biên-Hòa và  thủ đô Sài-Gòn nên quân ta phải bỏ Xuân-Lộc, về bảo vệ Thủ Đô.   Tướng Đảo cực lực phản đối vụ triệt thoái này nhưng Tổng Thống và Tướng Toàn đã   quyết định cắt tiếp ứng, tiếp tế, yểm trợ cho SĐ 18 để ép Sư đoàn này thi  hành  lệnh lui binh.


Tôi được lệnh rút TĐ 82 BĐQ về ngã ba Tân-Phong trước 8 giờ đêm, chờ  lệnh.  Tiểu đoàn 82 BĐQ cuốn  lều, lấp hầm hố phòng thủ khi đêm rơi.  Cuối tháng  ba năm 1975 chúng  tôi đã làm việc này ở Kiến-Đức; chúng tôi đã bỏ lại sau lưng  một trận địa,  một kẻ địch kinh hoàng đến độ hai ba ngày sau mới dám mon men vào  điểm trú  quân đã bỏ trống của đơn vị BĐQ một thời ngang dọc Vùng  2.  Tôi đã rút  đi, theo lệnh, để lại Kiến-Đức hàng chục nấm mồ thuộc  cấp của mình bên QL14.   Quận Kiến-Đức và Đồn Pleime cách nhau không  bao xa, cũng còn là trong lãnh thổ  Vùng 2!  Lần này 12 người lính của  Pleime ngủ lại bên bờ suối Rét, lạ lẫm quê  người, quanh đây chỉ có điều  lộn hột, chuối, xoài và đồng cỏ mênh mông.  Nơi này  thật xa những  ngọn núi hùng vĩ Chư Gô, Chư Don, thật xa con sông mơ màng  Ia Meur  lững lờ quanh năm.  Công lao khó nhọc dặm trường nửa đường đứt gánh.


Đơn vị tôi vừa di chuyển ngang cổng Tòa Hành  Chánh tỉnh Long-Khánh thì  Đại tá BĐQ Phạm văn Phúc, tỉnh trưởng đã chờ ở  đó.   Đại tá yêu cầu tôi cho Tiểu  đoàn 82 BĐQ đi với đoàn quân của Tiểu khu Long-Khánh, và ông xin được tháp tùng   Tiểu đoàn 82 BĐQ trong cuộc rút lui.  Tôi từ chối với lý do,
- Đại tá có cả một Tiểu Khu, Đại tá phải chỉ huy họ, là  cấp chỉ huy  của họ.  Đại tá không thể đi theo tôi mà để họ không  người chỉ huy.


Đại tá Phúc hiểu ra, cám ơn tôi đã có lời  nhắc nhở nhiệm vụ của ông.   Chúng tôi bắt tay từ biệt.  Mãi tới  năm 1979 tôi mới gặp lại Đại tá trong trại  cải tạo Nam-Hà A ngoài  Bắc.  Trong cuộc rút binh, Đại tá Phúc đã bị bắt khi đi  được nửa đường Xuân-Lộc, Bà-Rịa và bị giữ trong trại tù từ ngày đó.  Ra tới  QL1  tôi phải cho quân đi hàng một và cách lề trái đường vài chục  mét.  Khi đến ngã  ba Tân-Phong tôi được lệnh  ngừng lại chờ lệnh.  Trên QL1 những chiếc xe cam  nhông chở đầy ắp  lính ngồi hai hàng, xe chạy như bay, chiếc này bám đuôi chiếc  khác.   Xe mở đèn pha sáng choang.  Có những người lính bộ binh lưng mang  nặng  balô, súng đeo vai đi sát hai bên đường.  Một người lính bộ binh  chạy băng ngang  từ bên phải sang bên trái đường. Anh  trượt chân té, chiếc xe cam nhông chạy qua  đè ngang hai chân anh.   Anh lính la hét đau đớn được một câu thì chiếc xe cam  nhông thứ hai đã đè đủ năm chiếc bánh bên trái qua người anh ta.  Tôi nghe rõ  tiếng  "rốp!" khi bánh xe lăn qua đầu anh.  Cái xác dẹp lép của người lính  cách  chân tôi khoảng hai mét.  Tôi kéo xác anh vào lề đường.   Cái căn cước quân nhân  cho tôi biết tên người xấu số là Nguyễn thành Long, sinh quán Long-An.  Hai bên  đường người cứ đi  như chảy hội, trên đường, xe cứ nối đuôi nhau.
. . . . .  . . .
Vương Mộng Long

 



 

CHỜ MONG TỜ ĐIỆN TÍN

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Namkhông biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biểnđi tìm tự do? để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển.
Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi…
Tôi nhớ mãi một  câu chuyện vượt biên dù đã  mấy chục năm qua rồi.
Khỏang năm 1983 nhà tôi quay trở lại bán cà phê và nước ngọt, lúc này công nhân viên của nhà máy Z751 ( tức “Lục quân công xưởng” trước 1975) không đông đảo như nhân viên và lính tráng  trước kia, nhưng khách hàng vẫn khá đông là bà con lối xóm.
Chú Bích là người hàng xóm hay ra uống cà phê tại quán tôi. Nhà chú ở trong hẻm, bước ra khỏi hẻm đi vài căn là tới qúan cà phê nên rất thuận tiện cho chú.
Lần nào ra quán chú cũng dẫn theo thằng con út tên Báu khỏang 10 tuổi và gọi cho nó một chai nước ngọt, hai bố con ngồi uống như hai người bạn, bố uống xong cà phê trước thì đợi thằng con uống xong phần chai nước ngọt hai bốcon mới ra về, dù nó vừa uống vừa nói huyên thuyên với bố đủ thứ chuyện thật lâu.
Có lần hai bố con đang uống trong quán thì thằng Báu thấy ông bán cá Lia Thia cá Xiêm dắt xe đạp đi ngang qua, nó vùng chạy ra xem và đòi bốmua. Chú Bích bỏ dở ly cà phê đen nóng bước ra ngoài, ông bán cá đã đứng lại đợi khách, thằng Báu ngắm nghía đã đời từng con cá sắc màu đang bơi ngoe nguẩy trong những bịch ny lông treo tòn ten đầy trên khung giây  thép cứng chở sau xe của ông bán cá rồi mới chọn cho mình 1 con cá Xiêm vừa ý, thằng bé khôn thật cá Xiêm đắt tiền hơn cá Lia Thia và đẹp hơn, trẻ con nào cũng thích.
Khi trở vào quán ly cà phê của chú Bích đã nguội tanh mà cảbố và con cùng vui. Chú thương con và chiều con lắm.
Thằng Báu giống bố, đẹp trai giống bố. Hình ảnh hai cha con điđâu cũng có nhau đã quen thuộc với tôi cũng như với mọi người hàng xóm, ngay cảkhi chú Bích mang chiếc xe đạp ra tiệm sửa xe thằng Báu cũng lót tót đi theo, tôi cũng đang chờ vá chiếc xe đạp tại đây và nghe thằng Báu nói với bố:
-  Mai mốt con lớn con làm nghề sửa xe đạp, sửa xe cho bố không lấy tiền,
Lời nói ngây thơ mà chí hiếu, tôi nghe còn cảm kích nói gì chú Bích, chắc chú rất mát lòng.
Hai cha con thật thân tình và gần gũi như bóng với hình.
Chú Bích là đại úy của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ngày 30 tháng Tư năm 1975 chú đang nằm điều trị tại Tổng y viện Cộng Hòa.
Khi quân Việt Cộng chiếm bệnh viện và xua đuổi những thương bệnh binh chế độ cũ  ra ngoài, chú trở vềnhà với vết thương điều trị dở dang..Nhưng nhờ thế mà chú không thể đi trình diện tập trung “học tập cải tạo” được,. ủy ban phường đã cho chú Bích ở nhà dưới sựquản chế của địa phương, chú Bích không thể đi đâu xa hay vắng mặt lâu được.
Mấy năm qua, từ ngày miền Nam bị “giải phóng” chú Bích chỉ ởnhà, làm việc nhà trong khi vợ chú bôn ba làm việc hết tổ hợp này đến tổ hợp khácđể nuôi chồng và 3 con. Không ai hiểu vì sao chú không đi làm khi sức khỏe đã tươngđối khá.
Vậy mà một hôm hàng xóm kháo nhau rằng chú Bích dẫn thằng Báuđi vượt biên. Người đời thính tai và tinh ý thật, nhà nào có ai đi vắng chẳng dấuđược lâu, nếu một hai tháng không trở về thì một là đi vượt biển trót lọt, hai là chết biển hay là vào tù…
Bởi thế có ai đó đã chế ra câu “ Con đi được con nuôi má, con chết biển thì nuôi cá, và con ngồi tù thì má nuôi con”
Xóm tôi thời điểm đó đã có hai gia đình có con đi vượt biển bị mất tích.
Nhà bà Tịnh đứa con gái đi chuyến tàu chưa ra tới khơi xa đã bị đắm, nghe đồn những xác chết trôi tấp vào Mũi Né Phan Thiết, bà Tịnh đã tất tưởi ra Phan Thiết ăn chực nằm chờ thuê người đi tìm xác con gái mấy ngày mà khôngđược..
Nhà bà Trí thì tang thương hơn, cả con và cháu là 5 người, họra đi biền biệt không một tăm hơi gì. Bà Trí chờ mong tin và đau khổ đến héo hon gầy rộc đi như một xác mắm khô. Nhưng bà vẫn can đảm một năm sau lại cho thằng con trai đi vượt biên tiếp, chuyến này trời không phụ lòng bà, chuyến tàu nó điđã cặp bến bình yên.
Bà Trí từng tuyên bố với người bạn thân: “ Tôi cho các con đi vượt biển để tìm tương lai, các con đi được thì dù tôi có ra chợ ăn mày hay ai mang tôi ra chợ bắn chết tôi cũng chịu”
Tôi thông cảm cho hoàn cảnh chú Bích lắm, vì gia đình tôi cũngđang “xây mộng” cho các em đi vượt biển nên cầu mong nếu tin đồn ấy là sự thật thì hai cha con chú được bình yên đến nơi đến chốn.
Chú Bích không dẫn con đến quán tôi uống cà phê suốt hai tuần lễ liền. Có lẽ giờ này hai cha con chú đang lênh đênh ngoài biển khơi rồi?
Bây giờ thì hàng xóm đã hiểu ra, chú Bích không đi làm vì không muốn bị ràng buộc bởi công việc để dễ dàng toan tính chuyện vượt biên.
Nhà cô Bích thì cửa đóng then cài để tránh sự dòm ngó của hàng xóm và công an khu vực.
Cho đến tuần lễ thứ tư thì hàng xóm lại kháo nhau:
-        Chú Bích đến đảo rồi.
-        Hai cha con thật may mắn.
-        Cũng may cho ông đại úy, ở nhà bị công an quản chế, cứmỗi tháng phải ra trụ sở công an trình diện một lần, đi đâu phải xin phép, tù giam lỏng như thế ai mà chịu nổi, mấy năm qua tuy mang tiếng là hết hạn quản chế nhưng công an khu vực vẫn thỉnh thoảng đến nhà thì khác gì bị quản chế đâu.
Có bà không tin hỏi lại cho chắc ăn:
-        Sao bà biết là đại úy Bích đến đảo rồi? mà đảo nào?
-        Chẳng biết đảo nào, miễn là đến xứ tự do. Sáng qua chính mắt tôi thấy cô Bích hớn hở nấu cà ri gà, chắc mấy mẹ con ăn mừng vì được tin chồng vượt biển thành công.
-        Sao bà biết cô Bích nấu cà ri gà?  bà có vào bếp nhà cô Bích không ?
Bà kia quyết liệt:
-        Tôi đi chợ thấy cô Bích mua 1 con gà và bó xả..
Một bà có mấy đứa con đi vượt biển may mắn đến nơi đã tỏ ra hiểu biết:
-        Nay mai cô Bích có điện tín thì biết ngay, không đảo Bidong Mã Lai, thì đảo Galang Indonesia,  không đến Songkla Thái Lan, thì đến Phi Luật Tuân, Hồng Kông…
Thế là tin đồn bố con chú Bích đi vượt biên đến nơi và ở nhà vợ chú đã nấu món cà ri gà ăn mừng bung ra, càng lúc càng lan rộng, mấy người hàng xóm đến quán tôi uống cà phê truyền tai nhau thoải mái thì làm gì mà công an khu vực và uỷ ban phường không biết.
Công an phường đã gọi cô Bích lên để chất vấn và dọa sẽ cắt hộ khẩu chồng con cô, cô Bích một mực chối cãi nói rằng hai vợ chồng bất hòa cãi nhau rồi ông chồng giận dỗi mang thằng út đi đâu cô không hề biết.
Tới giờ phút này thì khó có thể dấu diếm được nữa, với niềm vui mừng cô Bích đã  tâm sự kín đáo với vài người hàng xóm thân là chú Bích và thằng Báu đi vượt biển, hai người  cùng chuyến tàu đã đánh điện tín về nên cô rất mừng, chỉ yên trí đợi điện tín của chồng gởi về thôi.
Thế là tất cả những tin đồn đều là sự thật, kể cả chuyện nhà cô Bích nấu cà ri gà ăn mừng. “Tình báo” hàng xóm thật bén nhạy .
Ngày nào cô Bích cũng mong chờ anh đưa thư đi qua, thậm chí nhà không có thư cô Bích cũng vẫy anh đưa thư để hỏi thăm là có điện tín hay thưtừ gởi đến địa chỉ nhà cô không?
Chắc cô Bích e rằng anh đưa thư để thất lạc tờ điện tín của chồng cô đâu đó, vì mỗi ngày qua mà vẫn bặt vô âm tín.
Vài tháng đã trôi qua, niềm vui mừng của gia đình cô Bích đã xẹp xuống bớt, cô băn khoăn và lo lắng ra mặt, ai hỏi thăm thì cô chỉ trả lời đang chờ đợi điện tín của chồng, cô đặt nghi vấn là có thể chú Bích làm mất chỉ vàng mang theo nên không còn tiền để thư từ hay đánh điện tín nữa? Hoặc chú muốn làm gia đình bất ngờ đợi đến Mỹ mới báo tin chăng?
Cô Bích đã bám víu vào những lý do mong manh ấy để hi vọng, để đợi chờ.
Và rồi không ai dám lên tiếng hỏi thăm cô Bích về tin chồng con của cô nữa, chỉ sợ làm cô hoang mang thêm và lo lắng thêm.
Nhưng cô Bích vẫn không ngừng hi vọng, cô vẫn chờ anh đưa thưmỗi ngày đi qua nhà. .
Anh đưa thư qúa quen thuộc với địa chỉ những người trong xóm, anh hiểu thấu tim gan người ta, biết tâm lý của người ta, nhà nào có thư thường tức thư nội địa trong nước Việt Nam thì anh làm xong nhiệm vụ một cách mau chóng, chẳng trông mong gì, nhà nào có thư từ nước ngoài gởi về anh hớn hở mang tới và bao giờ cũng nhận được tiền thưởng của người nhận thư dù chưa biết trong thư nói gì.. Nhất là nhà có người đi vượt biên gởi điện tín báo tin đã đến trại tị nạn là anh càng lãnh thưởng nhiều, anh biết mình sẽ là người đầu tiên báo tin vui, anh biết cách làm người ta sốt ruột mới chìa tờ điện tín ra.
Có lần anh mang tờ điện tín cho bà Sáu hàng xóm cạnh nhà tôi, 2 đứa con bà đi vượt biên 4-5 tuần lễ mà chưa có tin, gia đình bà như ngồi trên chảo lửa, anh đưa thư thong thả chống chân xe đạp và càng thong thả mở cái túi đeo trên vai đựng đầy thư từ rồi lại thong thả nói khi cả nhà bà Sáu đã đứng trước mặt anh nãy giờ::
-  Điện tín… từ Mã Lai nè…ai ra ký tên nhận giùm.
Cả nhà bà Sáu cùng vỡ òa niềm vui mừng không cần dấu diếm, nhận tờ điện tín và dúi vào tay anh đưa thư một nắm tiền không cần đếm...
Sau này anh đưa thư sắm xe Honda loại xịn đi đưa thư chắc là nhờ anh ky cóp những bổng lộc này.
Anh đưa thư đã mang tin vui đến cho nhiều người, nhưng nhà cô Bích thì không, nhìn vẻ mặt cô Bích hi vọng và thất vọng mỗi ngày khi không có thư từ, anh đưa thư cũng mủi lòng, anh né không dám đi ngang qua nhà cô Bích nữa mà đi lòng vòng lối khác để giao thư cho được yên thân. Tôi hỏi điều này thì anh đưa thư xác nhận:
-  Tôi không nỡ nhìn cô Bích thất vọng chị à, mỗi lần thấy tôi cô Bích không hỏi nữa chắc vì cô ngại đã hỏi nhiều lần mà không có gì, nhưng cô vẫn nhìn tôi với ánh mắt chờ mong..…
Tôi chỉ biết thở dài:
- Cô Bích cũng có lý chứ, biết đâu tin vui đến muộn? Không lẽngười đi cùng tàu đến nơi mà cha con chú Bích không đến nơi.
Đã nhiều lần cô Bích đến hai gia đình họ hàng bên chồng có người thân đi cùng chuyến tàu với chồng con cô để hỏi thăm tin tức nhưng vẫn không biết gì hơn.
Rồi họ đã đi định cư ở nước ngoài do được bảo lãnh từ lâu, mà cô Bích vẫn chưa nhận được điện tín của chồng.
Điều bí ẩn ấy bao trùm lên gia đình cô Bích và hàng xóm suốt nhiều năm trời.
                *******************
Năm 1991 gia đình tôi sang Mỹ định cư diện HO.5, và hơn 10 năm sau tôi tình cờ bắt liên lạc được với người bạn thân cùng xóm tên Hằng sống ở Houston, Texas. Hằng di tản sang Mỹ từ năm 1975, Hằng là cháu ruột của chú Bích.
Sau những lần chuyện trò hỏi thăm nhau từ qúa khứ đến hiện tại kể từ khi biến cố 1975, tôi mới chợt nhớ ra và hỏi Hằng về chú Bích và đã biết sự thật đau lòng.
Chuyến tàu chở hơn 70 người đi vượt biển bị lạc hướng lênh đênh nhiều ngày trên biển, xăng dầu, thực phẩm và nước uống dự trữ hầu như cạn kiệt, thuyền trôi tự do và chờ chết chùm, không chết vì biển thì cũng chết vì đói khát, mọi người lo sợ  khóc lóc và đọc kinh cầu nguyện ngày đêm tùy theo tôn giáo của mình, cả  tàu tuyệt vọng và bi thảm như đại tang..Họ suy xụp cả thể xác lẫn tinh thần, đoàn người như những bóng ma trong con tàu trôi vật vờ vô định cả ngày lẫn đêm
Chiếc tàu trôi dạt vào gần một hòn đảo thì mắc cạn, ai nấy đều mừng rỡ coi như vừa chết đi sống lại, đám đông kéo nhau lên đảo, nước ngập lên tới cổ tới ngực tùy chỗ nông sâu.
Chưa biết trên đảo có gì nhưng biết là không  bị chết chìm ngoài biển khơi là mừng rồi.
Giữa cảnh chen lấn nhau lên bờ thằng Báu xảy chân ngã xuống biển, khi người ta biết và cứu được thì nó đã chết đuối rồi. Chú Bích ôm xác con lên bờ khóc lóc một cách điên dại.
Dù mệt mỏi và đuối sức, những người đồng hành cũng giúp chú Bích để xác thằng Báu vào một khe đá và lấy những tảng đá nhỏ khác che chắn lại coi như một nấm mồ.
Một nhóm  khác đi dạo thử trên đảo để xem xét tình hình, họ nói đây là đảo hoang  chỉ toàn là san hô và đá tảng với vài loại cây mọc thưa thớt chẳng thể tìm đâu ra lương thực hay nước uống cả.
Bây giờ đám thuyền nhân lại lo chết đói chết khát trên hòn đảo hoang vu  rộng lớn này. Họ quyết định rủnhau đi tìm chỗ nào cao ráo nhất để đốt vải, đốt áo làm khói hiệu may ra có tàu nào trông thấy mà đến cứu còn hơn ngồi chờ chết.
Mọi người đi, nhưng chú Bích không chịu đi.Chú Bích bây giờnhư một người điên, chú ngồi khư khư bên xác thằng Báu với đôi mắt vô hồn và miệng thì không ngớt lẩm bẩm một câu duy nhất:
-   Cứu con tôi! cứu con tôi! cứu con tôi!
Mọi người xúm vào khuyên giải và năn nỉ chú:
-  Đằng nào cháu cũng chết rồi, anh hãy đi theo chúng tôi để tìm sự sống…
Hai người cháu họ của chú cũng vừa rơi nước mắt vừa vỗ về chú như vỗ về một đứa trẻ con:
-  Chú ơi, chú để xác thằng Báu ở đây, đi với tụi cháu, chúng ta phải đi khỏi nơi đây may ra sẽ sống sót…
Nhưng chú Bích vẫn khăng khăng từ chối, chú lảm nhảm gọi tên con và khóc tu tu thảm thiết.
Thật không ngờ một người lính tác chiến từng vào sinh ra tử,chỉ sau những ngày lênh đênh trên biển với bao căng thẳng lo âu, bao suy nhược tinh thần và thể xác cộng thêm cái chết bất ngờ của thằng con thâu yêu mà ngườiđàn ông can trường ấy bỗng hóa thành điên dại.
Không thể thuyết phục được chú Bích đoàn người để chú ở lại bên xác con và kéo nhau đi tìm chỗ khác trên đảo. Họ lôi thôi lếch thếch dắt díu nhau, bồng bế nhau, lôi kéo nhau đi trên những tảng đá  nhọn gập ghềnh cả nửa buổi trời đến nỗi nhiều người chân chảy máu hay sưng vù lên …
Tới một chỗ khá cao, tầm nhìn ra biển rộng hơn thoáng hơn thì họ dừng lại. Khi trông thấy bóng con tàu nhỏ xíu ngoài xa họ đốt áo cho khói lên liên tục nhưng chiếc tàu vẫn vô tâm không hề hay biết.
Sáng hôm sau họ tỉnh dậy sớm thì thấy một con tàu đang lù lùđến rất gần, nhiều người mừng vui qúa hét hò lên vang trời vang biển, nhiều người khác thì lo đốt áo làm khói hiệu và cả đám đông kéo nhau đứng trên những tảng đá cao nhất để giơ tay vẫy vẫy cầu cứu.
Tất cả những người trên chuyến tàu đã được cứu thoát như một phép nhiệm màu.trừ hai cha con chú Bích. Cùng đi môt chuyến tàu, cùng trải qua những gian nan nguy khốn vậy mà số phận đã nghiệt ngã với hai cha con chú, khôngđược đến bến bờ mơ ước cùng với họ...
Có người thương tâm nói với thuỷ thủ trên tàu về trường hợp chú Bích, nhưng họ nói nếu không nhớ đích xác ở đâu thì họ không có thì giờ đi tìmđược, và có những nơi trên đảo con tàu không thể đến gần vì san hô và đá ngầm.
Các thủy thủ cũng cho biết đây là đảo hoang không có con người và các phương tiện sinh hoạt khác.
Chuyến tàu của Indonesiađã đưa đoàn người vượt biển đến đảo Galang xong họ tiếp tục cuộc hành trình.
Hai người cháu họ của chú Bích đánh điện tín về cho gia đình, sau đó họ khuyên gia đình dấu kín cái chết thương tâm của cha con chú Bích trong nhiều năm, đợi thời gian như liều thuốc nhiệm màu từ từ chữa lành vết thương của gia đình người bất hạnh, mãi những năm sau này họ mới cho cô Bích biết .
Hằng đã liên lạc với hai người cháu họ ấy ở Mỹ và được biết sự thật chuyến đi vượt biên này từ họ..
Hơn 30 mấy năm qua tờ điện tín mà cô Bích mong đợi không hề đến và không bao giờ đến.
Không ai biết tin gì về cha con chú Bích, nhưng ai cũng có thể suy đoán đoạn kết vở bị kịch là chú Bích đã chết đói chết khát bên cạnh xác con trai mình trong tình trạng tâm thần điên loạn.
Cha con chú Bích đã thoát khỏi Việt Nam, chú Bích đã thoát khỏi cảnh công an quản chế giam lỏng.
Nhưng họ chỉ đi được nửa cuộc hành trình, đã bỏ xác nơi đảo hoang.
Hai cha con chú Bích vẫn bên nhau như ngày nào nơi mái nhà xưa, nơi hàng xóm cũ.
Xung quanh hai cha con chú là biển khơi bao la. Sóng và biển sẽ ru hai linh hồn bơ vơ kia giấc ngủ ngàn đời, ngàn đời…!!.
            Nguyễn Thị Thanh Dương
                   ( Tháng Tư, 2014)

 

Ảnh từ internet
 

GIỌT LỆ CHO TỪ BI

E-mail Print

Bước ra khỏi thang máy của khu shopping, trời còn sớm. Một chút nắng vàng hanh, một chút mây lãng đãng, bãi đậu xe đã vãn, nguời qua lại không vội vã, tạo cho khung cảnh của khu thương mại một sắc thái thanh nhàn.

Last Updated ( Saturday, 05 April 2014 20:18 )
 

GIỌT LỆ CHO TỪ BI

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

 

     Buớc ra khỏi thang máy của khu shopping, trời còn sớm. Một chút nắng vàng hanh, một chút mây lãng đãng, bãi đậu xe đã vãn, nguời qua lại không vội vã, tạo cho khung cảnh của khu thương mại một sắc thái thanh nhàn.

   Chưa bao giờ Hảo thấy mình nhàn hạ như bây giờ.

     Mấy đứa con đi học xa nhà…. Những bữa ăn tối một mình…. Ngôi biệt thự màu xanh, và số tiền hưu dưỡng của người chồng đã khuất … Khung trời vắng vẻ ấy, là nơi chốn bình yên cho một người quả phụ chớm ngả về chiều như Hảo.

     Đang suy nghĩ vẩn vơ, Hảo giật mình nhìn sững người đàn bà vừa buớc vào chiếc xe màu trắng -    

     Quá khứ đã ngủ quên, chợt thức dậy -

Một thoáng xót xa ập đến, hòa nhập vào mạch máu đang nhẩy mạnh trong lồng ngực… Thẫn thờ mất vài giây, Hảo đi tiếp về phía chiếc xe của mình nơi cuối bãi, trong buớc chân rời rã.

       Chiều vẫn xuống, khung cảnh vẫn bình yên.

     Nhưng một cái gì dường như thổn thức, một cái gì dường như tê tái bâng khuâng. Hảo ngất ngây như người lên cơn sốt, một cơn sốt chìm sâu trong tiềm thức rã rượi não nề.

     Bữa cơm tối nay tại nhà hàng Con Voi Đất, của nhóm Thân hữu các bà mẹ, do nhà thờ chiêu đãi, bỗng trở thành nhạt nhẽo, và túi quà vừa mua trong mall trở nên nặng trĩu treo trên mấy ngón tay.

     Phải rồi, chỉ vì người đàn bà đặc biệt, không bao giờ quên đuợc! Khuôn mặt ấy, vóc dáng ấy… với Hảo, là bóng hình của thiên sứ, của xả thân, mang trái tim của hiến thân và cứu khổ.

   Tấm hình hài đẹp đẽ đã dám quên thân mình, để cứu cho nhiều mảnh đời thoát khỏi khổ đau, tan hoang, vò xé và oan trái…. mà khổ nỗi, ở đời này, những thảm kịch oan trái, vò xé ray rứt lẫn nhau, để tạo ra tang thuơng tội nghiệp, chỉ toàn do lòng nhỏ nhen ích kỷ, hẹp hòi đến đê tiện. Và nó cứ tồn tại mãi hoài, do thành kiến vô minh, do khốn nạn của loài người cố chấp.

     Bãi đậu xe vắng dần.

   Gần đến xe của mình, Hảo bấm nút tự động từ xa, mở cửa chui vào, nhìn thoáng mình trong tấm gương trước mặt, Hảo thấy khuôn mặt mình dường như hơi tái đi. Hảo nhắm mắt một giây, hít thở vài hơi, rồi mở máy, gài số, lái chầm chậm đi tới nhà hàng.

     Cảnh sắc hai bên như lùi lại.

   Buổi chiều vẫn đẹp, vẫn bình yên, pha lẫn chút hoang tàn.

   Và hình bóng người đàn bà lúc nãy vẫn vật vờ ám ảnh Hảo trong suốt chặng đuờng. Nó vừa xa, như từ bao nhiêu kiếp Song lại rất gần, như đứng ngay trước mắt. Và nó đang nhởn nhơ luợn lờ tựa như một bóng ma khoác áo thiên thần…

     Tới nhà hàng, đẩy cửa buớc vào, Hảo thấy ngay dẫy bàn đã đặt cho bữa cơm tối nay của nhóm thân hữu các bà mẹ do nhà thờ chiêu đãi.

     Năm bảy nguời đã đến truớc, vẫy tay. Hảo buớc đến, kéo ghế ngồi xuống và lặng im chẳng nói. Một chút gì như lãng quên, và một chút gì như nhung nhớ đến quặn thắt cả nguời.

   Hảo ngồi nghe câu chuyện nói qua, nói lại và cố hình dung ra dung nhan bà hội trưởng, đại diện nhóm nhà thờ của buổi tối hôm nay.

   Xong, chẳng hiểu sao, trong tâm tưỏng, hình ảnh của toàn bộ chặng đuờng vuợt biển năm xưa, nối tiếp với quãng đời tha huơng đơn chiếc của Hảo bỗng hiện ra, cùng với khuôn mặt nguời đàn bà lúc nãy - Tất, tất cả chập chờn sống dậy trong thảng thốt, trong hỗn độn, hãi hùng:

     Chuyến tàu ngày đó, 25 người nhào trong sóng dữ… Xứ Mỹ với những ngày đầu ám ảnh khó quên… giọt nuớc mắt trào ra lúc Hảo biết mình đuợc mang bầu, và cái xúc động của lần đầu tiên làm mẹ… Bầy con thơ chiu chít và người chồng quá cố im lìm…. Căn nhà màu xanh êm ắng của một thành phố nhỏ…. Những buổi chiều hoang vắng trong cảnh hoàng hôn … Tất cả, quay thật chậm và cuối cùng vẫn là khởi đi từ một hình ảnh khốc liệt hoang tàn, với khuôn mặt đàn bà rã rời tan tác …

   Đang miên man như thế, thì cánh cửa nhà hàng mở rộng, sáu bảy nguời đến cùng một lúc.

   Mấy bà ngồi trong bàn, huớng về phía người đàn bà mặc áo màu hoàng yến, thì thầm:

-      Kia, bà Hội truởng đến rồi kia.

Họ nói với thái độ thân thuơng ngưỡng mộ.

Và thoang thoảng bên tai lời xì xầm nho nhỏ:

-   Bà ấy không con, chỉ biết làm việc thiện.

   Hảo nhìn lên. Tim đập mạnh. Ơ kìa, chính là người đàn bà Hảo đã nhìn thấy ở bãi đậu xe khu shopping hồi nãy.  

   Trong bộ đồ màu hoàng yến, nguời đàn bà khá đẹp với cái dáng vừa tầm, thanh nhã. Khuôn mặt bình thản đến lạnh lùng, nhưng dễ gây thiện cảm. Vẻ đẹp mang nét chín mùi, so với ngày xưa.

     Khuôn mặt này, Hảo quên làm sao được… Và nó đang kích động toàn bộ thần kinh của Hảo.

     Hảo nhắm mắt lại, toàn thân rúng động. Và Hảo nhớ như in, hoạt cảnh tàn nhẫn lạ lùng của cái ngày vuợt biển thê luơng :

     Phải, hôm ấy, khi nghe cuớp sắp tràn sang chiếc tàu vuợt biển… Một màn múa tabu gợi cảm đã diễn ra ngay ở sàn tàu… Một trận cuời dã man rú lên của loài cầm thú… Lũ cướp biển thỏa thuê luân phiên cưỡng hiếp … Một tấm thân bê bết máu… Và sự rút lui rất nhanh của bọn hải tặc sau khi thỏa mãn... Tất cả bàng hoàng như trong một giấc mộng hãi hùng.

     Người ta đưa mắt bảo nhau nguời đàn bà bị hiếp đó là một tú bà – Và cũng chính nguời tú bà trẻ đó đã là nguời hành động hiến thân, để cứu cho muời bốn phụ nữ đi cùng chuyến (trong đó có Hảo), không bị lũ cuớp hiếp dâm trên biển….

     Cơn ác mộng đã tàn, đám chị em phụ nữ hoàn hồn, vội quơ tấm mền bọc lấy tấm thân rỉ máu của nguời đàn bà lại và khóc rống lên... Chẳng ai biết chị tên gì, tuổi tác bao nhiêu. Có lẽ chỉ một nguời biết - đó là vị chủ tầu, đã chết vì vừa bị quăng xuống biển.

     Nguời đàn bà bị hiếp đã ngất đi như thế hàng giờ, và khi tỉnh dậy, rất trầm tĩnh nói với tất cả phụ nữ trên tầu bằng một âm thanh thảm thiết:

- Mọi chuyện đã qua rồi… Tôi không chết vì số trời chưa cho chết.

   Mọi người òa lên và cúi lạy tạ ơn, chị khua tay, thều thào nhưng rành rọt rõ ràng:

- “ Không cần làm thế… Tôi chỉ xin các chị em phụ nữ hai điều:

* Điều một, khi đến đất liền, không về cùng một chỗ, hãy chia nhau đi mỗi người một phương để sống.

* Điều hai, sau này, có gặp lại nhau, thì coi như không hề quen biết và không bao giờ nhắc lại chuyện hôm nay… Riêng tôi, với tấm thân không còn trong trắng, xin chịu nạn thay cho mọi người “trong trắng” ... Đây là cái duyên duy nhất chúng ta có thể cho nhau trong cuộc đời này…. Kể từ đây, chúng ta là những người xa lạ. Sau này có gặp nhau, tuyệt đối không chào hỏi và không cần đối mặt… Các chị hãy quì xuống cầu xin ơn Chúa cho chúng ta gặp điều may mắn.”

     Lời nói của mấy muơi năm ấy, bây giờ vang vang ở bên tai.

   Hảo kín đáo nhìn người đàn bà lặng lẽ – Một giọt lệ từ trái tim nóng trào ra, cay xé ở rèm mi.

     Giọt lệ của cảm kích, biết ơn.

     Giọt lệ dâng cho lòng tốt bụng từ bi !

Mắt Nâu

 

Phiếm Luận Xã Hội: Thực Tế, Thực Dụng

E-mail Print

Kể từ khi theo tiếng chim gọi đàn tìm về tổ ấm Houston tham dự đại hội „Cường Để -Nữ Trung Học“ thường tổ chức vào hạ tuần tháng sáu, lần đầu tiên vào năm 2004, tôi nói riêng liên hệ lại được với một số bạn bè cũ mất liên lạc từ 40 năm qua, cũng như hân hạnh quen biết thêm nhiều anh chị em đồng môn đã từng theo học trường Cường Để và vài bông hồng biết nói của Nữ Trung Học Qui Nhơn đang định cư tại Âu Châu. Xa hơn nữa, qua sự ủy nhiệm của anh chị em bên Houston nhờ phụ giúp chuyển đến tay đồng môn nam nữ Đặc San của hai trường hay DVD ghi lại những hình ảnh của Đại Hội mỗi khi „được anh chị em bên Houton chiếu cố đến“ nên thỉnh thoảng tôi có dịp trò chuyện qua điện thoại với thầy cô, anh chị em ở Âu Châu thăm hỏi có nhận sách, DVD do tôi gởi chưa ..v..v…Và trong số anh chị em nói trên, có thể nói bên phái nam thì tôi liên hệ nhiều nhất với K, anh Ph, anh C., còn phái nữ thì có BL, CH.

Last Updated ( Wednesday, 02 April 2014 23:24 )
 

Hãy Nói Lời Yêu Thương

E-mail Print

-Trần Việt Hải-

“Ước gì tôi cưới được nàng
Để ru khúc hát miên man giấc nồng
Ngủ đi em gái má hồng
Bờ mi khép kín mộng lòng say sưa
Bây giờ lạnh lẽo trời mưa
Kéo chăn em đắp cho vừa ấm thân
Tôi ru khúc hát ân cần
Nhẹ hôn bờ trán thì thầm: "sweet !" “
(Giấc Nồng Cho Người Yêu, VHLA)

 

Bravo the United VSA

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Hội Chợ Tết của các em trẻ thuộc Tổng Hội Sinh Viên Nam California (UVSA) đã được tổ chức vô cùng thành công, mặc dù địa điểm tổ chức hoàn toàn mới mẽ và cách xa trung tâm Little Saigon ít nhất 7, 8 miles, xa nơi mà Tết những năm qua do các em sinh viên đã làm, vả lại các em thực hiện sau ngày Tết đã xong xuôi và sau luôn cả 2 hội chợ Tết khác cũng có mặt tại cùng quận Cam.

Last Updated ( Saturday, 15 February 2014 10:04 )
 

Nhìn Lại 60 Năm và Âm Nhạc Di Cư

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

-Trần Vit Hải, Los Angeles-

 

Năm Giáp Ngọ Kể Chuyện Xe Thổ Mộ

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

 

Giáp Ngọ: Nói chuyện NGỰA TRONG KHOA HỌC và ĐỜI SỐNG

E-mail Print

 

Trong thập nhị chi, con giáp thứ 7 là con ngựa hay Ngọ chữ Hán Việt là Mã 馬. Tên khoa học: Equus caballus. Nếu ghép vào can chi thì có các năm: Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ và Nhâm Ngọ. Ngọ thuộc cực dương vì 12 giờ trưa là giờ Ngọ, tháng 6 là tháng Ngọ cây cối phát triển nhanh… Loài ngựa gắn bó với con người từ thời Thượng Cổ, con người bắt đầu thuần dưỡng ngựa vào khoảng 4000-4500 TCN. Khởi đầu ngựa hoang được thuần hóa ở miền nam nước Nga, nam Sibirien, các miền đông tây Á Châu và từ đó ngựa phổ biến trên khắp lục địa Á - Âu. Người ta thường nuôi ngựa làm phương tiện đi xa buôn bán với các bộ lạc khác nhanh chóng, thuận lợi hơn hoặc đi săn bắn xa và sau đó bắt đầu dùng ngựa tiến hành chiến tranh để cướp đất đai trong quy mô lớn.

Ngựa trong danh từ khoa học:

Giới (regnum): Animalia

Ngành (phylum): Chordata

Lớp (class): Mammalia

Bộ (ordo): Perissodactyla

Họ (familia): Equidae

Chi (genus): Equus

Loài (species): E. caballus

Chủng tộc ngựa có bốn nhóm: thoroughbred/Vollblut (giống ngựa nầy ở Á Rãp và Anh Quốc); warmblood/Warmblut; draft horse/ Kaltblut; ponies /Ponys. Mỗi nhóm, chi có đời sống tập tính khác nhau như: Ngựa vằn núi Bergzebras (Epuus Zebra), ngựa Quagga (Epuus quagga), ngựa Onager (Epuus hemionus) thuộc loại nửa ngựa nửa lừa) ngựa Przewalskipferd (Epuus Przewalskii) ngựa Steppentarpan (Epuus przewalskii igmelini) ngựa Waldtarpan (Epuus Przewalskì silvaticus) ngựa Westpferd (Epuus przewalskii robustus); ngựa ở Phi Châu Wildesel (Epuus asinus africanus); ngựa ở bắc Phi Châu Wildesel (Epuus asinus atlanticus

Tùy thuộc vào giống môi trường, thức ăn, nước uống v.v, ngựa có tuổi thọ khoảng 25 đến 30 năm. Ngựa cái mang thai kéo dài khoảng 335-340 ngày. Ngựa con vừa lọt lòng mẹ có thể đứng và đi ngay. Ngựa bốn tuổi được coi là ngựa trưởng thành, mặc dù chúng tiếp tục phát triển bình thường cho đến sáu tuổi, thời gian hoàn thành sự phát triển của ngựa cũng phụ thuộc vào kích cỡ của ngựa, giống, giới tính.Có loại ngựa dài 2.80m cao 1,5m…..Ngựa ăn cỏ, dạ dày ngựa chỉ có một túi và không thuộc bộ nhai lại như trâu bò, răng ngựa tốt, ăn và nghiền nhỏ thức ăn, ngựa đực có 40 cái răng, ngựa cái chỉ có 36 cái. Uống nước mỗi ngày từ 30-60 lít nước. Tai ngựa rất thính, nhãn quan của ngựa rộng nhưng chỉ thấy rỏ về phía trước hơn, khuyết điểm không nhìn rõ hai bên, nên hay hoảng sợ khi nhìn thấy các di động hai bên, bởi vậy người ta dùng hai miếng da che hai bên mắt để ngựa kéo xe chỉ nhìn thấy phía trước. Ngựa có nhiều màu như lông màu trắng gọi là ngựa bạch, đen tuyền gọi là ngựa ô, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha đỏ đậm là ngựa hồng, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là ngựa vằn... Về cách đi đứng của ngựa có nhiều động từ để diễn tả như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc, phi nước đại, phi nước kiệu, phi rạp mình, ngựa lồng: ngựa chạy trung bình mỗi giờ từ 40-50 km, nhưng có thể chạy nhanh đến 90 km/ giờ. Người ta lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn tính sức mạnh của động cơ Kilowatt (1 PS=75 mkp/S; hay 1 PS= 0,735498 KW).

Chân ngựa cũng có nhiều ngón, nhưng chỉ có một ngón giữa phát triển to ra, trên đầu ngón có một cái móng bằng chất sừng bao bọc ở mặt ngoài của móng ngựa, chất sừng rất dày cứng, nó gắn chặt với xương ngón chân, nhưng phần phía trong của móng là chất sừng mềm có tính đàn hồi co giãn được, nó có tác dụng làm giảm xung lực từ mặt đất khi ngựa bước đi. Vì móng ngựa là chất sừng cứng, khi ngựa đi lại trên đất, đá lâu ngày, lớp sừng bảo vệ bên ngoài sẽ bị mòn đến lớp sừng mềm bên trong. Ngựa bị đau chân không thể chạy nhảy kéo xe được Vì thế người ta đóng móng cho ngựa để bảo vệ cho móng không bị mòn. Có thợ chuyên môn rèn sắt đo ni lấy một cái vành bằng sắt có đục lỗ sẵn đóng móng cho ngựa, đã được sáng chế từ thời La Mã cổ đại.

Ngựa trong chiến tranh được gọi là Ngựa chiến hay chiến mã.

Hình ảnh ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, thơ văn... Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều biểu tượng thần thoại. Quan hệ giữa chủ nhân và ngựa không khác gì đôi bạn thân, cùng nhau vào sinh ra tử, xông pha trận mạc. Bên cạnh chiến binh, ngựa được coi là chiến mã, tượng trưng cho sự dũng mãnh, thần tốc và lòng kiêu hãnh, các binh chủng kỵ binh, kỵ mã, kỵ xạ, thám mã trong chiến đấu, săn bắn… Người Ai Cập và Trung Hoa cổ đại sử dụng xe ngựa kéo, sáng chế ra yên cương và bàn đạp giúp tăng hiệu quả chiến đấu của chiến mã và giúp cho người cưỡi giữ thăng bằng, ổn định và không bị ngã ngựa. Các hiệp sĩ trên lưng ngựa mặc áo giáp với một thanh kiếm hoặc giáo thương, đại đao hoặc các vũ khí đánh xa khác… có sức chống lại mạnh mẽ và gây nguy hiểm cho hầu hết các loại lính bộ binh.

Việc sử dụng chiến thuật ổn định từ ngựa chiến được đóng yên cương và bàn đạp chân đã cho phép người Mông Cổ có thể tấn công và bắn tên hiệu quả từ trên lưng ngựa (nhất là các kỵ xạ), đồng thời đem đến cho họ sự linh động để chinh phục phần lớn các vùng đất đã biết đến trên thế giới. Thành Cát Tư Hãn/Genghis Khan phiên âm Hán: 成吉思汗 (trị vì 1206-1227) là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ. Vó ngựa quân Mông Cổ tung hoành khắp nơi, nhờ giống ngựa Mông Cổ với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận nhiệt đới. Quân Mông Cổ đã bành trướng xuống phía Nam, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc được, đến đâu thì bình địa đến đó, máu chảy đầu rơi, xơ xác. Nhưng đến Việt Nam bị Hưng Đạo Vương đánh thua chạy dài về nước.

Theo truyền thuyết Đời Hùng Vương thứ Sáu nổi tiếng và đặc sắc nhất về ngựa là hình ảnh ngựa thần của Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng đã vươn vai thành người lớn cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra trận dẹp tan giặc Ân. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa thần bay lên trời tượng trưng cho sự tự do, bất khuất, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường. Tại ngã sáu ở Sài Gòn còn tượng tưởng nhớ Phù Đổng Thiên Vương.

Ngựa thành Troia Hy Lạp Cổ đại: Người Hy Lạp sử dụng ngựa trong chiến trận. Lịch sử Hy Lạp cách đây hơn 3200 năm có chuyện ngựa gỗ thành Troia. Khi quân Hy Lạp đến bao vây thành Troie (Trojanische Krieg), dân thành này chống cự mãnh liệt, quân Hy Lạp không thể nào vô thành được. Theo mưu mẹo của Odysseus/ Odyssey chế ra một con ngựa gỗ rất cao lớn, bên trong rỗng ruột để quân lính chui vào nấp, sau đó giả vờ bỏ con ngựa lại chiến trường rồi ra lệnh tất cả thuyền bè rút ra khơi. Dân thành Troia thấy quân Hy Lạp rút lui, vui mừng kéo nhau ra khỏi thành hì hục đưa con ngựa gỗ vào bên trong thành như là một chiến lợi phẩm quý giá thu được từ Hy Lạp. Nửa đêm hôm ấy, quân mai phục từ bụng con ngựa chui ra chém giết lung tung, mở cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào. Thành Troia thất thủ, vua Priam bị giết, câu chuyện ngựa gỗ phá thành được chép lại như một thiên anh hùng ca trong các tiểu thuyết của nhà thi hào Homer.

Ngựa trong đời sống bình dân

Ngựa là gia súc đóng góp to lớn trong việc mưu sinh và sự phát triển của con người. ngựa đối với người phương Đông còn là biểu tượng của lòng trung thành, sự kiên trì, nhẫn nại và cần mẫn. Trong thời bình ngựa giúp chúng ta cày bừa, chuyên chở hàng hóa, kéo xe, chở người di chuyển trên đường xa, những nơi hiểm trở. Ngoài ra ngựa là phương tiện di chuyển nhanh nhất thời xưa trong vấn đề liên lạc thư tín, công văn …và tạo những niềm vui cho công chúng như đua ngựa, đi săn, cưỡi ngựa thi bắn tên, làm xiếc thú. Ngựa còn cho ta thịt để ăn và cúng tế, xương nấu cao ngựa làm thuốc, giúp các nhà y học chế ra các loại huyết thanh trị bệnh, huyết thanh chống nọc rắn. Viện Pasteur Nha Trang thành lập từ năm 1895, đến năm 1896 bác sĩ Yersin đã lên vùng Suối Dầu, thành lập một trang trại chăn nuôi ngựa lấy huyết thanh bào chế vacxin phòng chống bệnh dịch hạch. Và cũng từ trại ngựa này, Yersin đã sáng chế ra những loại huyết thanh cổ điển khác như kháng huyết thanh bạch hầu, uốn ván. Cho đến nay, với hơn 100 năm tồn tại và phát triển, trại chăn nuôi vùng Suối Dầu đã trở thành một trung tâm sản xuất vacxin lớn trong khu vực, với số lượng thú nuôi phục vụ nghiên cứu khoa học đứng đầu trong cả nước gồm ngựa, thỏ, chuột lang, chuột bạch.

Tiếp bước theo công trình của bác sĩ Yersin, tập thể các cán bộ ở trại chăn nuôi Suối Dầu đã bào chế ra những kháng huyết thanh mới từ ngựa như kháng huyết thanh trị rạ, trị nọc độc rắn cắn, mới đây nhất là nghiên cứu phát triển loại kháng huyết thanh chữa ngộ độc cá nóc cho ngư dân, theo tinh thần mà ngày xưa bác sĩ Yersin đã đề xướng: nghiên cứu và phục vụ đời sống.

Nhiều giống ngựa đã tuyệt chủng, nhưng nhiều giống ngựa khác được lai giống to lớn có lông mai và đuôi dài rất đẹp, hàng năm lễ hội Beer Tháng Mười ở Munich nhiều ngựa to lớn kéo xe rất đẹp

Ngựa trong văn chương

Thời xa xưa đời sống hàng ngày chỉ sử dụng phương tiện di chuyển, kiệu, cán, xe kéo và ngựa. Ảnh hưởng đời sống nên truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du nhắc đến ngựa rất nhiều lần, hơn 24 câu nói đến ngựa. (1)

Trong đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân đi lễ hội Thanh minh:

Dập diều tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là Chinh Phụ Ngâm. vài đoạn thơ liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:

Chí làm trai đặm nghìn da ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Giả nhà đeo bức chiến bào

Thét roi cầu vị ào ào gió thu.

Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật buồn :

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc

Đường bên cầu cỏ mọc còn non

Đưa chàng lòng vợi vợi buồn

Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Ngựa liên quan trực tiếp đến người chinh phu ở nơi xa xăm, chịu dãi dầu sương gió, cùng những hiểm nguy của chiến trận, bên mình ngựa:

Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn

Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.

Ôm yên, gối trống đã chồn

Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh

Hoặc:

Xông pha gió bãi trăng ngàn

Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.

Hay là:

Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ

Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.

Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng có câu nói về ngựa:

Vân Tiên đầu đội kim khôi

Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.

Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:

Mùi phú quí nhữ làng xa mã

Bã vinh hoa lừa gã công khanh.

Ngựa vốn là loài vật gắn bó với con người. Nó nằm trong Lục Súc Tranh Công, 6 loại gia súc nuôi trong nhà như: ngựa, trâu, bò, dê, chó và heo. Người Á Đông đã thuần hóa thành công 6 loại gia súc này trước tiên. Bởi vậy có truyện Lục Súc Tranh Công, ngựa cũng tự khen mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng tài, phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử:

Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi

Liền chạy ra hầm hí vang tai

Ớ này này tao bảo chúng bây

Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa...

Tao đã từng đi quán về quê

Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc...

Ngày ngày chầu chực sân rồng

Bữa bữa dựa kề loan giá.

Ông Cao Tổ năm năm thượng mã

Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.

Ông Quan Công sáu ải vượt qua

Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố...

Các chú được ăn no nằm ngủ

Bởi vì ta cầm cán giữ gìn...

Các chú những nằm trong xó bếp

Tài các người ở chốn quê mùa

Đừng đừng buông lời nói khật khù

Bớt bớt thói chê bai giớn giác …

Trong tục ngữ ca dao

Được đầu voi đòi đầu ngựa: nói về người có lòng tham không đáy

Ngựa chạy có bầy chim bay có bạn: nói lên tinh thần đoàn kết.

Ngựa Hồ gió bấc hay chim Việt ngựa Hồ: Ngựa xứ Hồ mỗi khi gió bấc thì hí, chim nước Việt chọn cành phiá nam mà đậu.

Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết

Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công

Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn

Cưỡi ngựa xem hoa, chỉ thời gian ngắn đi qua chưa nhìn hết mọi vấn đề

Ngựa chứng là ngựa hay: nói những người có tài thường có những tật xấu

Ngựa quen đường cũ: Chứng nào tật ấy

Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người giống nhau thường tập hợp lại với nhay, tìm đến nhau

Đầu trâu mặt ngựa: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô loại, kẻ đại bất lương.

Thẳng như ruột ngựa: Nói về việc không úp mở, thẳng thắn vào đề luôn

Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về một người lính đã ngã xuống trên chiến trường

Đơn thương, độc mã (một ngựa với một cây thương): Chỉ người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai, giống câu một mình một ngựa

Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy): Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.

Tế ông mất ngựa: Chỉ trong cái rủi có cái may.

Có mặt nào dài hơn ngựa, trước pháp đình, tội nhân đứng trước vành móng ngựa. …

Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai

Trong truyện thần thoại Tây Phương con ngựa cổ nhất là con độc giác là con bạch mã đuôi dài tha thướt như tóc một thiếu nữ, giữa trán mọc một cái sừng (Einhorn) và xoắn như mũi khoan phát ra ánh sáng, thêm con ngựa có cánh bay, các loại truyện thần thọai đã dựng thành phim hoạt hình. Những lăng mộ ở Ai Cập trên những bức phù điêu đều có chạm trổ hình những con ngựa, Tại Viện bảo tàng ở Cairo chưng bày những chiếc xe ngựa của các đời Vua được khai quật hơn 3000 năm. Trước sân các Đình Miếu ở Việt Nam cũng như Trung Hoa thường có tượng đá bằng ngựa…Về Âm nhạc có các nhạc phẩm được nhiều người thích là: Vết thù trên lưng ngựa hoang, Lý Ngựa Ô

Ở Trung Hoa, có dòng họ Mã lấy theo tên ngựa, trong đó có nhiều người nổi danh như Mã Viện, Mã Đằng, Mã Siêu, Mã Anh Cửu, Mã Giám Sinh, Mã Bé… Ngoài ra thêm nhiều chuyện như „trảm mã trà„ cho ngựa ăn trà chém đầu mổ bụng lấy trà sao chế để uống, hay chuyện cho ngựa bạch lên núi cao tìm cỏ Phương Chi mọc trên đá cho ngựa ăn lúc mặt trời vừa mọc, ăn xong cũng chém đầu mổ bụng lấy bao tử mang về chế thuốc phơi khô trị bệnh, bà Từ Hy Thái Hậu khoản đãi khách quý dùng loại thuốc đó nấu với Long Tu.

Dược thảo mang tên ngựa

Trong các dược liệu cổ truyền, hai khái niệm ngựa và mã thường được sử dụng để chỉ tên nhiều vị thuốc có giá trị, thậm chí là tên của nhiều họ cây thuốc. Xin giới thiệu một số thảo dược chính có liên quan đến hai khái niệm này.

Mã tiên thảo hay còn gọi là cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.), họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), trông hình dáng giống như cái roi ngựa. Vị thuốc là bộ phận trên mặt đất, thu hái lúc cây sắp ra hoa, phơi khô hoặc sấy khô, với liều 6 - 12g dùng trị các bệnh sốt rét, lỵ, ngứa lở hạ bộ, sưng đau tuyến vú, mụn nhọt, bế kinh, khí hư bạch đới.

Mã kế còn gọi là đại kế (Circus japonicus (DC.) Maxim), họ Cúc (Asteraceae), dùng toàn cây. Vị thuốc có vị ngọt, đắng, tính mát. Trị thổ huyết, máu cam, trĩ ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết, chấn thương chảy máu. Khi dùng để cầm máu thường được sao đen. Trị băng huyết và kinh nguyệt quá nhiều

Mã xỉ hiện còn gọi là rau sam (Portulaca oleracea L.), họ Rau sam (Portulacaceae), mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc hoặc làm rau ăn. Có thể dùng tươi hoặc khô để trị lỵ trực khuẩn, giun kim, dưới dạng nước sắc 15 - 20g ngày. Dùng ngoài, trị ngứa lở, nước ăn chân, lấy cây tươi rửa sạch, giã nát, chấm vào chỗ bị bệnh, ngày 1 - 2 lần sau khi đã rửa sạch chỗ bị bệnh và lau khô

Mã đề còn gọi là Xa tiền thảo (Plantago major L.), họ Mã đề (Plantaginaceae). Hai chữ mã đề là ám chỉ “móng chân của con ngựa”. Mã đề cho nhiều vị thuốc hay, toàn cây có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, chống viêm loét, trừ đờm, chống ho, chống lỵ...Dùng trị bí tiểu, tiểu vàng, đỏ, tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, viêm gan, mật...Từ mã đề có thể thu được các vị thuốc: bông mã đề, cụm hoa, hạt mã đề (xa tiền tử) có cùng tác dụng: lợi tiểu, lợi mật...

Mặt khác, xa tiền tử còn chứa nhiều chất nhầy, có khả năng bao phủ các vết loét, nhất là ở dạ dày, tá tràng. Do vậy, vị thuốc này cũng như tịch chiết lá tươi của nó được dùng để trị viêm loét dạ dày, tá tràng rất tốt

Mã đề nước còn gọi là Trạch tả (Plantago plantago- aquatica L. tên đồng danh Alisma orientalis Sam. Juzep.), họ Trạch tả (Alismataceae). Gọi là mã đề nước vì lá của cây trạch tả trông rất giống với lá của cây mã đề, song cây này lại mọc ở dưới ruộng nước. Y học cổ truyền dùng thân rễ của Trạch tả hàng năm thu hái vào khoảng tháng 4 - 5 để làm thuốc chữa bệnh phù thũng, viêm thận, viêm bể thận, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu .

Cá ngựa hay hải mã là tên gọi chung của một chi động vật sống ở đại dương tại các vùng biển nhiệt đới. Cá ngựa có chiều dài 15 cm có loài dài đến 30 cm. Cá ngựa là cá biển thuộc chi Hippocampus và họ Syngnathidae vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới. Đông y thường dùng hải mã khô trong những than thuốc nấu uống hay để ngâm rượu uống bổ dương. Khoa học chưa có tài liệu nào cho biết thành phần hóa học tác dụng dược lý?.. Cá ngựa và cá chìa vôi là 2 chi cá đặc biệt ở chỗ con đực "mang thai" và sinh con. Thời gian mang thai từ 2-3 tuần. Nó có vây ngực ở phía trên gần mang và vây lưng nằm phía dưới cơ thể. Một số loài cá ngựa có một phần thân thể trong suốt nên rất khó nhìn thấy.

Năm Quý Tỵ đã qua nhiều biến đổi, hy vọng năm Giáp Ngọ đến “mã đáo thành công“ sẽ đem lại Tự Do, Dân Chủ cho Việt Nam. Không còn bọn „đầu trâu mặt ngựa“ đàn áp đánh đập người dân biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm biển đảo tịch thu ghe tàu, đánh đập ngư dân Việt Nam. Kính chúc thân hữu và quý độc giả năm mới bình an, thân tâm an lạc, may mắn và hạnh phúc .

Nguyễn Quý Đại

Tài liệu tham khảo

Tiere und Lebensräume (Das grosse Volks- Lexikom ) Bertelsmann.

Das neue Universal Lexikon

Thơ văn hình trên Internet và trang Wikipedia

Last Updated ( Thursday, 16 January 2014 09:17 )
 
Page 10 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account