CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Hãy Nói Lời Yêu Thương

E-mail Print

-Trần Việt Hải-

“Ước gì tôi cưới được nàng
Để ru khúc hát miên man giấc nồng
Ngủ đi em gái má hồng
Bờ mi khép kín mộng lòng say sưa
Bây giờ lạnh lẽo trời mưa
Kéo chăn em đắp cho vừa ấm thân
Tôi ru khúc hát ân cần
Nhẹ hôn bờ trán thì thầm: "sweet !" “
(Giấc Nồng Cho Người Yêu, VHLA)

 

Bravo the United VSA

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Hội Chợ Tết của các em trẻ thuộc Tổng Hội Sinh Viên Nam California (UVSA) đã được tổ chức vô cùng thành công, mặc dù địa điểm tổ chức hoàn toàn mới mẽ và cách xa trung tâm Little Saigon ít nhất 7, 8 miles, xa nơi mà Tết những năm qua do các em sinh viên đã làm, vả lại các em thực hiện sau ngày Tết đã xong xuôi và sau luôn cả 2 hội chợ Tết khác cũng có mặt tại cùng quận Cam.

Last Updated ( Saturday, 15 February 2014 10:04 )
 

Nhìn Lại 60 Năm và Âm Nhạc Di Cư

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

-Trần Vit Hải, Los Angeles-

 

Năm Giáp Ngọ Kể Chuyện Xe Thổ Mộ

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

 

Giáp Ngọ: Nói chuyện NGỰA TRONG KHOA HỌC và ĐỜI SỐNG

E-mail Print

 

Trong thập nhị chi, con giáp thứ 7 là con ngựa hay Ngọ chữ Hán Việt là Mã 馬. Tên khoa học: Equus caballus. Nếu ghép vào can chi thì có các năm: Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ và Nhâm Ngọ. Ngọ thuộc cực dương vì 12 giờ trưa là giờ Ngọ, tháng 6 là tháng Ngọ cây cối phát triển nhanh… Loài ngựa gắn bó với con người từ thời Thượng Cổ, con người bắt đầu thuần dưỡng ngựa vào khoảng 4000-4500 TCN. Khởi đầu ngựa hoang được thuần hóa ở miền nam nước Nga, nam Sibirien, các miền đông tây Á Châu và từ đó ngựa phổ biến trên khắp lục địa Á - Âu. Người ta thường nuôi ngựa làm phương tiện đi xa buôn bán với các bộ lạc khác nhanh chóng, thuận lợi hơn hoặc đi săn bắn xa và sau đó bắt đầu dùng ngựa tiến hành chiến tranh để cướp đất đai trong quy mô lớn.

Ngựa trong danh từ khoa học:

Giới (regnum): Animalia

Ngành (phylum): Chordata

Lớp (class): Mammalia

Bộ (ordo): Perissodactyla

Họ (familia): Equidae

Chi (genus): Equus

Loài (species): E. caballus

Chủng tộc ngựa có bốn nhóm: thoroughbred/Vollblut (giống ngựa nầy ở Á Rãp và Anh Quốc); warmblood/Warmblut; draft horse/ Kaltblut; ponies /Ponys. Mỗi nhóm, chi có đời sống tập tính khác nhau như: Ngựa vằn núi Bergzebras (Epuus Zebra), ngựa Quagga (Epuus quagga), ngựa Onager (Epuus hemionus) thuộc loại nửa ngựa nửa lừa) ngựa Przewalskipferd (Epuus Przewalskii) ngựa Steppentarpan (Epuus przewalskii igmelini) ngựa Waldtarpan (Epuus Przewalskì silvaticus) ngựa Westpferd (Epuus przewalskii robustus); ngựa ở Phi Châu Wildesel (Epuus asinus africanus); ngựa ở bắc Phi Châu Wildesel (Epuus asinus atlanticus

Tùy thuộc vào giống môi trường, thức ăn, nước uống v.v, ngựa có tuổi thọ khoảng 25 đến 30 năm. Ngựa cái mang thai kéo dài khoảng 335-340 ngày. Ngựa con vừa lọt lòng mẹ có thể đứng và đi ngay. Ngựa bốn tuổi được coi là ngựa trưởng thành, mặc dù chúng tiếp tục phát triển bình thường cho đến sáu tuổi, thời gian hoàn thành sự phát triển của ngựa cũng phụ thuộc vào kích cỡ của ngựa, giống, giới tính.Có loại ngựa dài 2.80m cao 1,5m…..Ngựa ăn cỏ, dạ dày ngựa chỉ có một túi và không thuộc bộ nhai lại như trâu bò, răng ngựa tốt, ăn và nghiền nhỏ thức ăn, ngựa đực có 40 cái răng, ngựa cái chỉ có 36 cái. Uống nước mỗi ngày từ 30-60 lít nước. Tai ngựa rất thính, nhãn quan của ngựa rộng nhưng chỉ thấy rỏ về phía trước hơn, khuyết điểm không nhìn rõ hai bên, nên hay hoảng sợ khi nhìn thấy các di động hai bên, bởi vậy người ta dùng hai miếng da che hai bên mắt để ngựa kéo xe chỉ nhìn thấy phía trước. Ngựa có nhiều màu như lông màu trắng gọi là ngựa bạch, đen tuyền gọi là ngựa ô, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha đỏ đậm là ngựa hồng, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là ngựa vằn... Về cách đi đứng của ngựa có nhiều động từ để diễn tả như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc, phi nước đại, phi nước kiệu, phi rạp mình, ngựa lồng: ngựa chạy trung bình mỗi giờ từ 40-50 km, nhưng có thể chạy nhanh đến 90 km/ giờ. Người ta lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn tính sức mạnh của động cơ Kilowatt (1 PS=75 mkp/S; hay 1 PS= 0,735498 KW).

Chân ngựa cũng có nhiều ngón, nhưng chỉ có một ngón giữa phát triển to ra, trên đầu ngón có một cái móng bằng chất sừng bao bọc ở mặt ngoài của móng ngựa, chất sừng rất dày cứng, nó gắn chặt với xương ngón chân, nhưng phần phía trong của móng là chất sừng mềm có tính đàn hồi co giãn được, nó có tác dụng làm giảm xung lực từ mặt đất khi ngựa bước đi. Vì móng ngựa là chất sừng cứng, khi ngựa đi lại trên đất, đá lâu ngày, lớp sừng bảo vệ bên ngoài sẽ bị mòn đến lớp sừng mềm bên trong. Ngựa bị đau chân không thể chạy nhảy kéo xe được Vì thế người ta đóng móng cho ngựa để bảo vệ cho móng không bị mòn. Có thợ chuyên môn rèn sắt đo ni lấy một cái vành bằng sắt có đục lỗ sẵn đóng móng cho ngựa, đã được sáng chế từ thời La Mã cổ đại.

Ngựa trong chiến tranh được gọi là Ngựa chiến hay chiến mã.

Hình ảnh ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, thơ văn... Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều biểu tượng thần thoại. Quan hệ giữa chủ nhân và ngựa không khác gì đôi bạn thân, cùng nhau vào sinh ra tử, xông pha trận mạc. Bên cạnh chiến binh, ngựa được coi là chiến mã, tượng trưng cho sự dũng mãnh, thần tốc và lòng kiêu hãnh, các binh chủng kỵ binh, kỵ mã, kỵ xạ, thám mã trong chiến đấu, săn bắn… Người Ai Cập và Trung Hoa cổ đại sử dụng xe ngựa kéo, sáng chế ra yên cương và bàn đạp giúp tăng hiệu quả chiến đấu của chiến mã và giúp cho người cưỡi giữ thăng bằng, ổn định và không bị ngã ngựa. Các hiệp sĩ trên lưng ngựa mặc áo giáp với một thanh kiếm hoặc giáo thương, đại đao hoặc các vũ khí đánh xa khác… có sức chống lại mạnh mẽ và gây nguy hiểm cho hầu hết các loại lính bộ binh.

Việc sử dụng chiến thuật ổn định từ ngựa chiến được đóng yên cương và bàn đạp chân đã cho phép người Mông Cổ có thể tấn công và bắn tên hiệu quả từ trên lưng ngựa (nhất là các kỵ xạ), đồng thời đem đến cho họ sự linh động để chinh phục phần lớn các vùng đất đã biết đến trên thế giới. Thành Cát Tư Hãn/Genghis Khan phiên âm Hán: 成吉思汗 (trị vì 1206-1227) là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ. Vó ngựa quân Mông Cổ tung hoành khắp nơi, nhờ giống ngựa Mông Cổ với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận nhiệt đới. Quân Mông Cổ đã bành trướng xuống phía Nam, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc được, đến đâu thì bình địa đến đó, máu chảy đầu rơi, xơ xác. Nhưng đến Việt Nam bị Hưng Đạo Vương đánh thua chạy dài về nước.

Theo truyền thuyết Đời Hùng Vương thứ Sáu nổi tiếng và đặc sắc nhất về ngựa là hình ảnh ngựa thần của Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng đã vươn vai thành người lớn cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra trận dẹp tan giặc Ân. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa thần bay lên trời tượng trưng cho sự tự do, bất khuất, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường. Tại ngã sáu ở Sài Gòn còn tượng tưởng nhớ Phù Đổng Thiên Vương.

Ngựa thành Troia Hy Lạp Cổ đại: Người Hy Lạp sử dụng ngựa trong chiến trận. Lịch sử Hy Lạp cách đây hơn 3200 năm có chuyện ngựa gỗ thành Troia. Khi quân Hy Lạp đến bao vây thành Troie (Trojanische Krieg), dân thành này chống cự mãnh liệt, quân Hy Lạp không thể nào vô thành được. Theo mưu mẹo của Odysseus/ Odyssey chế ra một con ngựa gỗ rất cao lớn, bên trong rỗng ruột để quân lính chui vào nấp, sau đó giả vờ bỏ con ngựa lại chiến trường rồi ra lệnh tất cả thuyền bè rút ra khơi. Dân thành Troia thấy quân Hy Lạp rút lui, vui mừng kéo nhau ra khỏi thành hì hục đưa con ngựa gỗ vào bên trong thành như là một chiến lợi phẩm quý giá thu được từ Hy Lạp. Nửa đêm hôm ấy, quân mai phục từ bụng con ngựa chui ra chém giết lung tung, mở cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào. Thành Troia thất thủ, vua Priam bị giết, câu chuyện ngựa gỗ phá thành được chép lại như một thiên anh hùng ca trong các tiểu thuyết của nhà thi hào Homer.

Ngựa trong đời sống bình dân

Ngựa là gia súc đóng góp to lớn trong việc mưu sinh và sự phát triển của con người. ngựa đối với người phương Đông còn là biểu tượng của lòng trung thành, sự kiên trì, nhẫn nại và cần mẫn. Trong thời bình ngựa giúp chúng ta cày bừa, chuyên chở hàng hóa, kéo xe, chở người di chuyển trên đường xa, những nơi hiểm trở. Ngoài ra ngựa là phương tiện di chuyển nhanh nhất thời xưa trong vấn đề liên lạc thư tín, công văn …và tạo những niềm vui cho công chúng như đua ngựa, đi săn, cưỡi ngựa thi bắn tên, làm xiếc thú. Ngựa còn cho ta thịt để ăn và cúng tế, xương nấu cao ngựa làm thuốc, giúp các nhà y học chế ra các loại huyết thanh trị bệnh, huyết thanh chống nọc rắn. Viện Pasteur Nha Trang thành lập từ năm 1895, đến năm 1896 bác sĩ Yersin đã lên vùng Suối Dầu, thành lập một trang trại chăn nuôi ngựa lấy huyết thanh bào chế vacxin phòng chống bệnh dịch hạch. Và cũng từ trại ngựa này, Yersin đã sáng chế ra những loại huyết thanh cổ điển khác như kháng huyết thanh bạch hầu, uốn ván. Cho đến nay, với hơn 100 năm tồn tại và phát triển, trại chăn nuôi vùng Suối Dầu đã trở thành một trung tâm sản xuất vacxin lớn trong khu vực, với số lượng thú nuôi phục vụ nghiên cứu khoa học đứng đầu trong cả nước gồm ngựa, thỏ, chuột lang, chuột bạch.

Tiếp bước theo công trình của bác sĩ Yersin, tập thể các cán bộ ở trại chăn nuôi Suối Dầu đã bào chế ra những kháng huyết thanh mới từ ngựa như kháng huyết thanh trị rạ, trị nọc độc rắn cắn, mới đây nhất là nghiên cứu phát triển loại kháng huyết thanh chữa ngộ độc cá nóc cho ngư dân, theo tinh thần mà ngày xưa bác sĩ Yersin đã đề xướng: nghiên cứu và phục vụ đời sống.

Nhiều giống ngựa đã tuyệt chủng, nhưng nhiều giống ngựa khác được lai giống to lớn có lông mai và đuôi dài rất đẹp, hàng năm lễ hội Beer Tháng Mười ở Munich nhiều ngựa to lớn kéo xe rất đẹp

Ngựa trong văn chương

Thời xa xưa đời sống hàng ngày chỉ sử dụng phương tiện di chuyển, kiệu, cán, xe kéo và ngựa. Ảnh hưởng đời sống nên truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du nhắc đến ngựa rất nhiều lần, hơn 24 câu nói đến ngựa. (1)

Trong đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân đi lễ hội Thanh minh:

Dập diều tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là Chinh Phụ Ngâm. vài đoạn thơ liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:

Chí làm trai đặm nghìn da ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Giả nhà đeo bức chiến bào

Thét roi cầu vị ào ào gió thu.

Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật buồn :

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc

Đường bên cầu cỏ mọc còn non

Đưa chàng lòng vợi vợi buồn

Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Ngựa liên quan trực tiếp đến người chinh phu ở nơi xa xăm, chịu dãi dầu sương gió, cùng những hiểm nguy của chiến trận, bên mình ngựa:

Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn

Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.

Ôm yên, gối trống đã chồn

Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh

Hoặc:

Xông pha gió bãi trăng ngàn

Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.

Hay là:

Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ

Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.

Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng có câu nói về ngựa:

Vân Tiên đầu đội kim khôi

Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.

Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:

Mùi phú quí nhữ làng xa mã

Bã vinh hoa lừa gã công khanh.

Ngựa vốn là loài vật gắn bó với con người. Nó nằm trong Lục Súc Tranh Công, 6 loại gia súc nuôi trong nhà như: ngựa, trâu, bò, dê, chó và heo. Người Á Đông đã thuần hóa thành công 6 loại gia súc này trước tiên. Bởi vậy có truyện Lục Súc Tranh Công, ngựa cũng tự khen mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng tài, phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử:

Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi

Liền chạy ra hầm hí vang tai

Ớ này này tao bảo chúng bây

Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa...

Tao đã từng đi quán về quê

Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc...

Ngày ngày chầu chực sân rồng

Bữa bữa dựa kề loan giá.

Ông Cao Tổ năm năm thượng mã

Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.

Ông Quan Công sáu ải vượt qua

Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố...

Các chú được ăn no nằm ngủ

Bởi vì ta cầm cán giữ gìn...

Các chú những nằm trong xó bếp

Tài các người ở chốn quê mùa

Đừng đừng buông lời nói khật khù

Bớt bớt thói chê bai giớn giác …

Trong tục ngữ ca dao

Được đầu voi đòi đầu ngựa: nói về người có lòng tham không đáy

Ngựa chạy có bầy chim bay có bạn: nói lên tinh thần đoàn kết.

Ngựa Hồ gió bấc hay chim Việt ngựa Hồ: Ngựa xứ Hồ mỗi khi gió bấc thì hí, chim nước Việt chọn cành phiá nam mà đậu.

Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết

Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công

Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn

Cưỡi ngựa xem hoa, chỉ thời gian ngắn đi qua chưa nhìn hết mọi vấn đề

Ngựa chứng là ngựa hay: nói những người có tài thường có những tật xấu

Ngựa quen đường cũ: Chứng nào tật ấy

Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người giống nhau thường tập hợp lại với nhay, tìm đến nhau

Đầu trâu mặt ngựa: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô loại, kẻ đại bất lương.

Thẳng như ruột ngựa: Nói về việc không úp mở, thẳng thắn vào đề luôn

Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về một người lính đã ngã xuống trên chiến trường

Đơn thương, độc mã (một ngựa với một cây thương): Chỉ người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai, giống câu một mình một ngựa

Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy): Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.

Tế ông mất ngựa: Chỉ trong cái rủi có cái may.

Có mặt nào dài hơn ngựa, trước pháp đình, tội nhân đứng trước vành móng ngựa. …

Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai

Trong truyện thần thoại Tây Phương con ngựa cổ nhất là con độc giác là con bạch mã đuôi dài tha thướt như tóc một thiếu nữ, giữa trán mọc một cái sừng (Einhorn) và xoắn như mũi khoan phát ra ánh sáng, thêm con ngựa có cánh bay, các loại truyện thần thọai đã dựng thành phim hoạt hình. Những lăng mộ ở Ai Cập trên những bức phù điêu đều có chạm trổ hình những con ngựa, Tại Viện bảo tàng ở Cairo chưng bày những chiếc xe ngựa của các đời Vua được khai quật hơn 3000 năm. Trước sân các Đình Miếu ở Việt Nam cũng như Trung Hoa thường có tượng đá bằng ngựa…Về Âm nhạc có các nhạc phẩm được nhiều người thích là: Vết thù trên lưng ngựa hoang, Lý Ngựa Ô

Ở Trung Hoa, có dòng họ Mã lấy theo tên ngựa, trong đó có nhiều người nổi danh như Mã Viện, Mã Đằng, Mã Siêu, Mã Anh Cửu, Mã Giám Sinh, Mã Bé… Ngoài ra thêm nhiều chuyện như „trảm mã trà„ cho ngựa ăn trà chém đầu mổ bụng lấy trà sao chế để uống, hay chuyện cho ngựa bạch lên núi cao tìm cỏ Phương Chi mọc trên đá cho ngựa ăn lúc mặt trời vừa mọc, ăn xong cũng chém đầu mổ bụng lấy bao tử mang về chế thuốc phơi khô trị bệnh, bà Từ Hy Thái Hậu khoản đãi khách quý dùng loại thuốc đó nấu với Long Tu.

Dược thảo mang tên ngựa

Trong các dược liệu cổ truyền, hai khái niệm ngựa và mã thường được sử dụng để chỉ tên nhiều vị thuốc có giá trị, thậm chí là tên của nhiều họ cây thuốc. Xin giới thiệu một số thảo dược chính có liên quan đến hai khái niệm này.

Mã tiên thảo hay còn gọi là cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.), họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), trông hình dáng giống như cái roi ngựa. Vị thuốc là bộ phận trên mặt đất, thu hái lúc cây sắp ra hoa, phơi khô hoặc sấy khô, với liều 6 - 12g dùng trị các bệnh sốt rét, lỵ, ngứa lở hạ bộ, sưng đau tuyến vú, mụn nhọt, bế kinh, khí hư bạch đới.

Mã kế còn gọi là đại kế (Circus japonicus (DC.) Maxim), họ Cúc (Asteraceae), dùng toàn cây. Vị thuốc có vị ngọt, đắng, tính mát. Trị thổ huyết, máu cam, trĩ ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết, chấn thương chảy máu. Khi dùng để cầm máu thường được sao đen. Trị băng huyết và kinh nguyệt quá nhiều

Mã xỉ hiện còn gọi là rau sam (Portulaca oleracea L.), họ Rau sam (Portulacaceae), mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc hoặc làm rau ăn. Có thể dùng tươi hoặc khô để trị lỵ trực khuẩn, giun kim, dưới dạng nước sắc 15 - 20g ngày. Dùng ngoài, trị ngứa lở, nước ăn chân, lấy cây tươi rửa sạch, giã nát, chấm vào chỗ bị bệnh, ngày 1 - 2 lần sau khi đã rửa sạch chỗ bị bệnh và lau khô

Mã đề còn gọi là Xa tiền thảo (Plantago major L.), họ Mã đề (Plantaginaceae). Hai chữ mã đề là ám chỉ “móng chân của con ngựa”. Mã đề cho nhiều vị thuốc hay, toàn cây có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, chống viêm loét, trừ đờm, chống ho, chống lỵ...Dùng trị bí tiểu, tiểu vàng, đỏ, tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, viêm gan, mật...Từ mã đề có thể thu được các vị thuốc: bông mã đề, cụm hoa, hạt mã đề (xa tiền tử) có cùng tác dụng: lợi tiểu, lợi mật...

Mặt khác, xa tiền tử còn chứa nhiều chất nhầy, có khả năng bao phủ các vết loét, nhất là ở dạ dày, tá tràng. Do vậy, vị thuốc này cũng như tịch chiết lá tươi của nó được dùng để trị viêm loét dạ dày, tá tràng rất tốt

Mã đề nước còn gọi là Trạch tả (Plantago plantago- aquatica L. tên đồng danh Alisma orientalis Sam. Juzep.), họ Trạch tả (Alismataceae). Gọi là mã đề nước vì lá của cây trạch tả trông rất giống với lá của cây mã đề, song cây này lại mọc ở dưới ruộng nước. Y học cổ truyền dùng thân rễ của Trạch tả hàng năm thu hái vào khoảng tháng 4 - 5 để làm thuốc chữa bệnh phù thũng, viêm thận, viêm bể thận, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu .

Cá ngựa hay hải mã là tên gọi chung của một chi động vật sống ở đại dương tại các vùng biển nhiệt đới. Cá ngựa có chiều dài 15 cm có loài dài đến 30 cm. Cá ngựa là cá biển thuộc chi Hippocampus và họ Syngnathidae vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới. Đông y thường dùng hải mã khô trong những than thuốc nấu uống hay để ngâm rượu uống bổ dương. Khoa học chưa có tài liệu nào cho biết thành phần hóa học tác dụng dược lý?.. Cá ngựa và cá chìa vôi là 2 chi cá đặc biệt ở chỗ con đực "mang thai" và sinh con. Thời gian mang thai từ 2-3 tuần. Nó có vây ngực ở phía trên gần mang và vây lưng nằm phía dưới cơ thể. Một số loài cá ngựa có một phần thân thể trong suốt nên rất khó nhìn thấy.

Năm Quý Tỵ đã qua nhiều biến đổi, hy vọng năm Giáp Ngọ đến “mã đáo thành công“ sẽ đem lại Tự Do, Dân Chủ cho Việt Nam. Không còn bọn „đầu trâu mặt ngựa“ đàn áp đánh đập người dân biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm biển đảo tịch thu ghe tàu, đánh đập ngư dân Việt Nam. Kính chúc thân hữu và quý độc giả năm mới bình an, thân tâm an lạc, may mắn và hạnh phúc .

Nguyễn Quý Đại

Tài liệu tham khảo

Tiere und Lebensräume (Das grosse Volks- Lexikom ) Bertelsmann.

Das neue Universal Lexikon

Thơ văn hình trên Internet và trang Wikipedia

Last Updated ( Thursday, 16 January 2014 09:17 )
 

Ý Nghĩa Tết Nguyên Đán

E-mail Print

Lại một lần nữa, năm hết, Tết đến, Xuân về. Tùy theo địa vị, tuổi tác và hoàn cảnh riêng, mỗi người có cái nhìn về Tết khác nhau. Người lạc quan thì "co cẳng đạp thằng bần ra cửa, giơ tay bồng ông phúc vào nhà." Người bi quan thì lo rằng "mỗi năm một tuổi như đuổi Xuân đi" bối rối về những ngân khoản phải chi phí "Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo" và e ngại "Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo, thế tình bạc lắm vẫn bôi vôi". Cụ Nguyễn Khuyến, trong một bài thơ thất ngôn bát cú vần trắc đã tả cảnh Tết nơi quê cũ bằng những lời chân chất :

Năm ngoái, năm kia đói miệng chết Năm nay phong lưu đã ra phết Trong nhà nhộn nhịp gói bánh chưng Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt Thóc mùa thóc chim hãy còn nhiều Tiền nợ tiền công trả chưa hết Ta ước gì được mãi như thế Hễ Tết rồi thì lại Tết.

Cụ Yên Đỗ nhìn cảnh tượng vui của cảnh dân làng sửa soạn đón Đông quân mà ao ước thế thôi. Dù có ước mong hay không chờ đón, Tết vẫn đến theo một chu kỳ nhất định, không nhanh, không chậm, thản nhiên, đến nỗi một thư sinh phải ngạc nhiên kêu lên :

Không dưng Xuân đến chi nhà tớ, Có lẽ Trời nào đóng của ai

Trong phạm vi bài này, người viết sẽ trình bày ý nghĩa Tết Nguyên Đán về hai mặt triết lý và nhân văn hầu như từ đó có thể rút ra được những bài học áp dụng trong đời sống hàng ngày.

Ý Nghĩa Triết Lý Xuân đến rồi Xuân lại đi. Mỗi độ Xuân về Tết đến, Xuân lại mang cho mình một cái tên mới.
Không biết trước khi hai họ Hy, Hòa làm lịch, mỗi năm đã có một tên chưa, nhưng từ khi có lịch phân chia ra tứ thời, bát tiết thì mỗi năm mới có một tên riêng. Xuân có 60 tên khác nhau, theo đúng một chu kỳ của vòng hoa-giáp. Lấy chữ đầu của thiên-can và địa-chi làm điểm khởi hành, ta có thứ tự các năm sau :
Thiên-can (10) -  Giáp - Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm - Quý Địa-chi (12) - Tý - Sửu - Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi Có 10 thiên-can và 12 địa-chi. Thí dụ năm 1990 là năm Canh-Ngọ thì năm 1991 sẽ là Tân-Mùi, năm 1994 là Giáp Tuất, năm 1995 là Ất Hợi, năm 1996 là Bính-Tý, 1997 là Đinh-Sửu, năm 2000 là Canh-Thìn ... và cứ như thế tiếp tục cho đủ 60 năm (60 năm là bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12). Mỗi năm người ta lại gán cho một con vật tượng trưng như năm Tý là con chuột, năm Sửu là năm con trâu, năm Dần là năm con cọp, năm Mão là năm con mèo (người Tàu dùng con thỏ để tượng trưng cho năm Mão), năm Thìn là năm con rồng... Người ta lại thường căn cứ vào cá tính của mỗi con vật mà suy đoán tình hình quốc tế và quốc nội cũng như cuộc đời, sự nghiệp và tính tình của mỗi người sinh nhằm vào năm đó. Tuy nhiên thuyết thập nhị cầm tượng này không đáng tin, nói chơi cho vui thì được, nhưng nếu căn cứ vào đó mà tin tưởng thì thật là một sự mê tín. Năm Ất Dậu là con gà  hiền lành đến như loài gà là nhất vậy mà sao vào năm đó (1885) kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải xuất bôn để cho thực dân Pháp cướp nước ta. Cũng trong năm Ất Dậu (1945) hai triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta bị chết đói bởi thực dân Pháp và phát-xít Nhật đã tịch thu hết gạo để cung ứng cho nhu cầu chiến tranh. Và cũng năm 1945 (năm con gà) Việt-Minh cướp chính quyền mở đầu cho 30 năm chiến tranh điêu linh, khói lửa, tang tóc để rồi kết thúc bằng sự xô đẩy gần 60 triệu đồng bào sống xuống cái khuôn xã-hội-chủ-nghĩa nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu, lật lọng và ngoan cố. Hai mươi tám năm trước (1968) là năm Mậu Thân (năm con khỉ). Loài khỉ có tinh thần tập thể khá cao, vậy mà sao năm đó lại xảy ra biến cố Mậu Thân để cho toàn thể miền Nam Việt Nam chìm trong khói lửa và riêng ở Huế hàng chục ngàn người bị thủ tiêu và vùi dập trong những tấm mồ tập thể. Năm 1987 vừa qua là năm Đinh Mão tức là năm con mèo. Mèo vốn dĩ hiền lành chỉ lo bắt chuột giúp người và khi chết đi, theo lời của Phan Văn Trị, mèo còn để lại bộ lông giúp ích cho những thư sinh nghèo túng :

Trăm tuổi hồn đầu về chín suối Nhúm lông để lại giúp trò nghèo

Bút lông xưa làm bằng lông thỏ hay lông mèo. Bút lông thỏ thường đắt tiền nên học trò nghèo thường mua bút lông mèo. Một con vật hữu ích và hiền lành như vậy mà tượng trưng cho một năm thì tốt quá rồi còn gì nữa ! Ấy thế mà biến cố Ất Mão hai mươi mốt năm trước (30/04/1975) đã làm cho miền Nam Việt Nam sụp đổ, cả triệu người phải bỏ nước ra đi sống kiếp lưu vong nơi đất khách quê người. Thành ra thuyết thập nhị cầm tượng này chỉ để nói chơi cho vui thôi ! Dù tin hay không tin, dù ước mong hay không ước mong, dù chờ đón hay không chờ đón, cứ đủ ngày giờ, sau 12 tháng là Tết đến, Xuân về. Một đời người lấy 100 năm làm hẹn (nhân sinh bách tuế vi kỳ) thưởng thức nhiều lắm là một trăm cái Tết. Cụ Nguyễn Khuyến đã có một câu đối dán Tết sau đây diễn tả cái ý tưởng đó :

Có là bao ba vạn sáu ngàn ngày được trăm bận Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng cả bốn mùa Xuân.

Sự sắp đổi của thời gian, sự vận hành của vũ trụ, là do luật tuần hoàn chi phối. Trên đời này, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Sông có khúc, người có lúc : Khổ tận rồi thì phải cam lai. Cùng khổ hanh thông, thịnh suy bĩ thái, thành trụ ngoại không, danh hư tiêu trưởng, không phải chỉ là những thành ngữ quen thuộc mà là cái triết lý sống đã ăn sâu vào tâm hồn của người Việt Nam. Thấm nhuần triết lý sống đó, cụ phó bảng Bùi Kỷ đã vịnh Xuân Kỷ Mão (1939) bằng bài thơ chữ Hán sau :

Doanh hư điệu lý thủy nhi cung Bất nhị thời cùng, thời bất thông Địa chuyển thiên hoàn nguyên hữu lý Dương tranh âm đấu khởi vô công Mạc hiềm phong cũ thôi tàn tuế Chính vị sơn hà hoán tiếu dung Lão tự hóa quân hoàn bất lão Niên niên xuân sắc điểm trang hồng

Nhưng mà vượt lên trên mà xét lại thì sự thịnh suy bĩ thái, doanh hư tiêu trưởng, thành trụ hoại không chẳng qua chỉ là những bề mặt khác nhau của một nguyên lý bất biến : sự tồn tại thường trụ của vũ trụ vô cùng. Vật hữu bản mặt, sự hữu chung thủy. Vật nào cũng có gốc ngọn, việc gì cũng có đầu cuối. Nếu ta ở nơi biến đổi mà xét, thì vạn vật cũng biến đổi. Nếu ta ở nơi bất biến mà xét, thì vạn vật cũng bất biến :

Có thì tự mảy may Không thì cả thế gian này cũng không Xem như bóng nguyệt dòng sông Ai hay không có, có không thế nào

Mò trăng đáy nước, bẻ hoa trong gương, người đời lấy cái có làm không, lấy cái không làm có, không biết chân đấy mà cũng là giả đấy, không biết làm sao cho thâm tâm thanh sạch để có thể biết được tận cùng của cái biết. Thế nên Tô Đông-Pha trong bài phú "Tiền Xích Bích" mới viết rằng : "Chỉ có luồn gió mát trên sông, cùng là vùng trăng sáng bên trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của tạo hóa là cái thú chung của bác với của tôi". Nói cho cùng thì con người với vũ trụ đều có cùng một bản thể. Từ thái cực mới sinh ra lưỡng nghi, từ lưỡng nghi mới sinh ra tứ tượng, từ tứ tượng mới sinh ra bát quái, rồi từ đó mới có 64 hào mà biến hóa vô cùng. Tam tài có thiên địa nhân (trời, đất, người). Con người là một trong tam tài đã do từ cùng một thể mà ra thì tất có thể tương ứng tương cảm với nhau được. Vì thiên nhân tương dữ cho nên những biến đôỉ của trời đất cũng ảnh hưởng tới con người. Những năm có nhiều thiên tai (bão lụt, hạn hán, băng tuyết, động đất...) thường có nhiều biến động về chính trị. Khi thay đổi về thời tiết, cơ thể con người cũng bị ảnh hưởng theo. Thi sĩ Hàn Mặc Tử mỗi độ trăng tròn lại bị khốn khổ vì nỗi đau đớn của cơ thể do một trong chứng nan y gây ra. Các cụ già mỗi khi trái nắng giở giời thì lại thấy thân thể đau nhức (nhất là những người bị bịnh phong thấp) làm như các cụ là một thứ phong vũ kế vậy. Cho nên người xưa mới chủ trương rằng con người phải sống thuận với thiên nhiên. Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. Thuận với trời thì còn, nghịch với trời thì mất . Thâm tâm do vậy không thể trái ngược với thiên lý. Người xưa nói rằng : Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào, cũng là do cái lẽ đó vậy. Con người ở các xứ Tây phương quá tin tưởng vào khoa học thực nghiệm đã phân tích, tìm hiểu, thử nghiệm sáng chế ra biết bao nhiêu điều mới lạ mà làm sao cái bệnh AIDS cho đến giờ này vẫn chưa có thuốc chữa. Mà nguyên nhân chứng bệnh này bởi đâu mà ra, nếu không phải là do những người hành động trái với tự nhiên mà có. Già yếu, bệnh tật, mệnh một là điều người Tây phương lấy làm lo lắng sợ hãi trong khi người Việt Nam chúng ta thản nhiên chấp nhận và coi đó như một sự tự nhiên. Các vị tôn trưởng gần đất xa trời thường được con cháu mua một cỗ áo tốt để sẵn trong nhà phòng khi hữu sự thì có sẵn sàng trong việc tống táng. Chẳng có ai coi quan tài là xui xẻo hay ghê sợ cả. Cho nên trong cái ý nghĩa triết lý về Tết ở Việt Nam, ta có thể rút ra được hai bài học : Thuận theo thiên nhiên mà sinh hoạt theo tự nhiên vì thiên lý như thế nào thì nhân tâm như thế ấy. Tin tưởng vào luật tuần hoàn của tạo hóa. Sự khó khăn nghèo khó hiện tại chỉ có tính cách nhất thời. Mùa Đông lạnh lẽo khắc nghiệt, u ám rồi sẽ qua đi để nhường chỗ cho một mùa Xuân tươi sáng.

Ý Nghĩa Nhân Văn Cũng bởi mùa Xuân là mùa của hi vọng của sự đổi mới, cho nên ý nghĩa về nhân văn của Tết cũng đáng để chúng ta suy ngẫm : 1 - Sự giao cảm giữa trời đất và con người cùng thần linh. Mỗi năm vào dịp Tết đến, các vua chúa xưa mới làm lễ tế giao. Tế giao là lễ tế trời đất (Thiên-hoàng, Địa-kỳ). Trước Tết, khâm thiên giám chọn ngày tốt trong những ngày có số đơn (mồng) để trình vua. Vua định ngày và đích thân làm chủ tế. Theo tài liệu viết tay của thầy giảng Bénito Thiện còn tàng trữ trong thư viện Toa  Thánh Vatican thì trong lễ tế giao, vua chúa cầu xin trời đất cho thiên hạ được mùa và bá tánh được an lành. Vua chúa thì tế trời đất, các quan tỉnh, phủ, huyện thì tế thần linh địa phương, chức dịch trong làng thì Thành Hoàng, gia tướng thì lễ tổ tiên. Sau này đến đời nhà Nguyễn mới không tế giao những ngày đầu năm như các triều đại cũ. Ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn trong lần tế giao cuối cùng lại tổ chức ở Cao nguyên chứ không phải ở kinh đô và dùng một đàn voi sống bao quanh tế đàn. Mặt khác, nếu để ý nhận xét về cấp bậc của người chủ tế, ta thấy có sự phân chia về thẩm quyền. Vua chúa thì cúng tế trời đất, các quan thì cúng tế thần linh trong địa phương địa hạt, lý trưởng hay tiên chỉ thì cúng tế Thành hoàng bản tổ và gia trưởng thì cúng tổ tiên ông bà. Trong làng đêm 30 Tết, các chức sắc trong Hội đồng Kỳ-mục cùng dân làng tụ tập tại đình làng cầu xin Thành hoàng bản thổ phù hộ cho dân làng được bình an, mùa màng được tốt, hoa lợi thâu hoạch được nhiều, súc vật được khỏe mạnh và sinh sản được nhiều. Gia trưởng thì cầu tổ tiên, ông bà, thổ thần, thổ địa phù hộ cho con cháu được khỏe mạnh, gia đạo đ  ;ược bình yên, mùa màng được tốt đẹp. 2 - Không có biên giới ngăn cách giữa người sống và người chết. Theo giáo sĩ Marini, một giáo sĩ người Ý sống ở Đàng Ngoài vào giữa thế kỷ 17 thì vào lúc giao thừa mọi người phải mở rộng nhà cửa để đón tổ tiên ông bà về ăn Tết với con cháu. Giường chiếu phải dọn dẹp sạch sẽ để tổ tiên, ông bà nghỉ ngơi. Ngoài hiên nhà phải đặt một chậu nước sạch, một đôi guốc, hai cây mía. Oâng bà tổ tiên về ăn Tết với con cháu có nước sẵn để rửa chân, có guốc mới để đi và có mía sẵn làm gậy chống. Chiều 30 hay tối 30 làm lễ rước ông bà về ăn Tết với con cháu, sang mồng 1 cho đến hết ngày mồng 3, mọi người trong nhà thắp hương trên bàn thờ tổ làm lễ cúng gia tiên, mời tổ tiên về hướng cỗ bàn cùng với con cháu đồng thời cầu xin tổ tiên phù hộ cho con cháu được mạnh khỏe và làm ăn được tấn tới. Sau đó, con cháu chúc tuổi ông bà cha mẹ, đầy tớ chúc chủ nhà và ông bà cha mẹ mừng tuổi cho con cháu và gia nhân. Có lẽ vì vậy mà ở Việt Nam chỉ có mừng tuổi ngày Tết, làm lễ mừng thọ vào những năm 50, 55, 60, 70, 80 ... tuổi mà thôi. Năm nào vào dịp Tết đến cũng chúc tuổi người lớn, người già, mừng tuổi trẻ con thì còn cần gì đến sinh nhật như kiểu Tây phương. Tổ chức sinh nhật kiểu Tây phương có tính cách cá nhân còn chúc tuổi mừng tuổi kiểu Việt Nam có tính cách gia đình và toàn thể hơn. Xã hội Tây phương là một xã hội đấu tranh cật lực, cúc cung lao động, cần dùng đến sức mạnh của bắp thịt nhiều, cho nên những người ngoài 50 tuổi đến ngày sinh nhật thường không lấy gì làm vui vì cho rằng mình đã leo đến đỉnh đồi và bây giờ chỉ còn là thời kỳ tuột dốc. Trái lại, phong tục Việt Nam không như thế. Trong làng xã, ngoài chức vị tiên chỉ do những vị khoa bảng hay vị quan to hoặc chức cao cấp nhất đảm trách, còn có vị tiên chỉ lão tức là lão-ông có tuổi thọ cao nhất làng. Nhân tước đáng trọng nhưng thiên tước tức là tuổi thọ do trời ban cho con người còn đáng trọng hơn nhiều. Xã hội Việt Nam không coi con người là một bộ phận sản xuất, không nhìn con người như một phương tiện đầu tư mà luôn luôn tôn trọng con người một cách toàn diện. Tinh thần nhân bản của văn hóa Việt Nam chính là chỗ đó. Cũng trong ý niệm "thờ người lúc chết cũng như khi còn sống, lúc đã mất cũng như khi còn tại thế," ta còn tục tảo mộ chiều 30 Tết. Con cháu thường phát cỏ, đắp nấm, quét vôi mộ phần ông bà tổ tiên, cắm một vài nén hương, bày một vài đồ cúng trước phần một. Nếu người sống lau chùi dọn dẹp nhà cửa để ăn Tết thì tại sao không săn sóc phần mộ tức là nhà cửa của người quá vãng trong dịp Tết đến Xuân về ? 3 - Tinh thần tống cựu nghinh tấn. Tống cựu là tiễn đưa cái cũ, nghinh tân là tiếp đón cái mới. Tiễn đưa cái cũ không phải là khinh thường, coi khinh cái cũ. Cái cũ có giá trị của nó. Không có cái cũ thì làm sao có cái mới. Tuy nhiên muốn tiếp nhận cái mới phải có sự chuẩn bị. Ngày 30 Tết Tây Định Vương Định Tạc cùng các quan quân theo hầu ra ngoài vương phủ để đi tắm sông hoặc một căn nhà gần đấy hầu thanh tẩy cuộc sống dĩ vãng, đón nhận đời sống mới trong năm tới. Không kể tới cuộc thanh tẩy cơ thể, nhà cửa cũng phải được quét dọn sạch sẽ và trang hoàng cho đẹp. Với cây nêu, với những hình cung tên, cày bừa bằng vôi bột vẽ trước sân, với những câu đối mừng Xuân, với những bức tranh Tết, với những mâm quả tử, với những đồ tam sự, ngũ sự bóng loáng với hương đèn nghi ngút, với nghi phục mới tinh, mọi người còn chuẩn bị tinh thần cho mình để tiếp nhận một năm mới, với những luồng sinh khí và những nguồn hi vọng mới. Nguyễn Công Trứ lúc còn là một bạch diện thư sinh cùng khổ đến nỗi "ngày ba bữa vỗ bụng đau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no, đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình của thường bỏ ngỏ" mỗi độ Xuân về Tết đến, vẫn không quên thắp sáng ngọn lửa hi vọng nơi tâm tưởng :

Tết nhất anh ni ai nói nghèo Nghèo mà lịch sự đố ai theo Bánh chưng chất chặt chừng ba chiếc Rượu thuốc ngâm dầy độ nửa siêu Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu Ai vui Xuân anh cũng vui Xuân với Chung đỉnh ơn vua ngày tháng nhiều.

Cái tinh thần lạc quan, tin tưởng và hi vọng đó rất phù hợp với tôn chỉ quân tử ưu đạo bất ưu bần, bất oan thiên, bất ưu nhân (quân tử lo đạo chứ không lo nghèo, chẳng oán trời mà cũng chẳng trách người) sau này đã được tưởng thưởng xứng đáng.


Cũng trong tinh thần tống cựu nghinh tân đó phải kể tới tục phong ấn. Cuối năm, khoảng 25, 26 tháng Chạp, ấn dấu của vua chúa, quan quyền đều được lau chùi sạch sẽ cất vào hộp vì sẽ không dùng tới trong những ngày cuối năm và đầu năm. Khí giới của quân lính cũng được lau bóng và gác lên giá. Dùng binh khí trong những ngày này là sự bất tường. Qua năm mới, chọn được ngày tốt mới lấy ấn, dấu hiệu ra làm lễ khai bút, và khai ấn.


Tục đòi nợ cuối năm cũng nằm trong tinh thần trên. Ai có vay mượn công nợ gì phải lo thanh toán ngay trong năm cũ. Từ những đồ dùng nhỏ nhất mượn của nhau cho đến tư trang, tiền bạc, nếu đủ điều kiện phải lo trang trải cho thanh thỏa. Nếu không được sự đồng ý của chủ nợ cho khất lại. Nhược bằng không như thế, con nợ mà bị chủ nợ thúc dục, đòi hỏi vào những ngày đầu năm là sẽ bị không may, sẽ bị "dông" suốt năm.
Tục xông đất cũng vậy. Sáng mồng 1, chủ nhà thường hẹn trước một người khách hiền lành đứng đắn, lanh lợi vui vẻ đến sớm để xông đất. Người xông đất là người khách thứ nhất trong năm. Phải có người xông đất rồi, thì trong nhà mới mở cổng ngõ để đón tiếp mọi người và để cho người trong nhà ra đường. Người ta tin rằng, đức hạnh của người xông đất sẽ xua đuổi những cái xấu cũ ra khỏi nhà và đồng thời mang sự may mắn, hạnh phúc và thịnh vượng mới cho gia chủ.


4 - Biểu lộ tình hữu nghị, thân ái và bình đẳng. Trong 3 ngày Tết, người ta đi chúc tuổi nhau. Thường thì người dưới đi chúc tuổi người trên trước. Quan quyền đi chúc tuổi vua chúa trong buổi chầu sáng mồng 1. Quân lính đi chúc Tết Cai Đội và người chỉ huy. Quan nhỏ chúc quan lớn. Con cháu chúc cha mẹ ông bà chú bác. Học trò chúc Tết thầy. Quan nhỏ thường tự mình hoặc cử người thay mình đi chúc Tết cấp trên. Đồ lễ thường là thực phẩm : rượu, trà, gạo, cau, đường, trái cây, bánh, mức, heo, gà. Quân lính khi họp nhau để đến chúc Tết viên quan chỉ huy thường theo một nghi thức trang trọng : đi đầu là Cai Đội chỉ huy từ 2 đến 6 đội (mỗi đội khoảng 30 đến 60 người lính) rồi đến lính bưng một hộp gạo và khiêng một con heo mới giết đặt trên bàn để trước mặt quan. Viên quan ngồi giữa bàn thật oai nghiêm. Quân lính lạy quan sát đất 3 lần. Quan nhận đồ Tết rồi sai quân hầu cất đi, đoạn ban quà mừng tuổi cho lính. Số quà mừng tuổi cho lính thường tương đương với giá trị của quà chúc Tết quan. Các quan không phải gửi đồ đến chúc vua chúa nhưng quan nhỏ phải gửi quà tới Tết quan lớn. Do đó nhà quan lớn tràn ngập đồ Tết. Các quan này thường đem đồ biếu này chia xẻ với cấp dưới, họ hàng, bạn bè. Quà mừng tuổi của vua chúa cho các quan thường là một bộ phẩm-phục đặt trong một cái quả (hộp). Vua chúa sai người bưng quà tới ban đồ lễ cho các quan. Đi theo có lính hầu che lọng cho hộp phẩm-phục để tỏ sự cung kính món quà vua chúa ban cho.
Trong dân gian thì con cháu chúc tuổi ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị, con rể chúc Tết gia đình bên vợ (thường vào ngày mồng 2), học trò chúc Tết thầy (thường vào ngày mồng 3), bởi thế có câu ca :

Mồng một chúc Tết mẹ cha Mồng hai tết vợ, mồng ba tết thầy.

Người ta mừng nhau gia đạo bình an, thăng quan tiến chức, nhất bản vạn lợi, đầu năm sinh trai cuối năm sinh gái, tăng phúc, tăng thọ, vân vân... Vào nhà ai cũng làm lễ gia tiên, chúc mừng nhộn nhịp và được mời ăn. Không ai được phép từ chối, vì từ chối như vậy là coi thường gia chủ, là bất lịch sự. Dù có no cách mấy đi nữa cũng phải nhấm nháp chút rượu hoặc trà hoặc ăn một vài miếng bánh lấy may. Trẻ con được tiền mừng tuổi nên vui lắm. Ai ai cũng nói, cũng chúc những điều tốt lành nhất. Những điều hiềm khích, đố kỵ được dẹp qua một bên. Tất cả đều được chuẩn bị tiếp nhận một năm mới đầy thân ái và hữu nghị.
Như vậy ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán đã mang lại cho chúng ta 3 bài học sau đây :

- Không có biên giới ngăn cách giữa người sống và người chết, giữa thần linh với con người, trong những ngày mà Trời Đất và Người hòa hợp với nhau. - Tết đến là dịp của mọi người nhận biết vị trí đích thực của mình trong xã hội hầu có thể sống hòa bình thân ái với mọi người trong trật tự và kỷ cương. - Tết đến là dịp của mọi người dẹp bỏ những cái xấu, cái dở trong năm cũ hầu mưu cầu hoạch định một chương trình mới, với niềm lạc quan, tin tưởng và hi vọng trong năm mới.

Kết Luận Vào tiền bán thế kỷ này, một số nhà văn báo chịu ảnh hưởng của Tây học đã kịch liệt đả kích những cổ tục của chúng ta. Đành rằng có những cổ tục là hủ tục cần phải bỏ, nhưng trong những cổ tộc đó không thiếu gì những mỹ tục. Nhìn qua lăng kính khoa học của Tây phương, họ chỉ thấy những cái dở, cái rởm, cái lạc hậu mà không chịu suy nghĩ học hỏi sâu xa để tìm hiểu những khía cạnh của những thuần phong mỹ tục của một dân tộc đã có hàng ngàn năm văn hiến. Họ đã đi tiên phong trong việc phá vỡ những giềng mối kỷ cương, căn bản kiến trúc của một gia đình xã hội ta, mở đầu cho sự thành công của những người đi theo chủ nghĩa duy vật hiện nay ở quê nhà. Những người Việt ở hải ngoại, vì quốc nạn phải bỏ nước ra đi vẫn mang theo trong mớ hành trang một trời quê hương. Cái mà người ta gọi là văn hóa dân tộc ở quê nhà đã bị biến tính và không còn là văn hóa dân tộc nữa. Ở hải ngoại, chúng ta bằng mọi cách phải bảo tồn sự phát triển và nền văn hóa dân tộc đích thực, bất chấp những sự tấn công và lấn át dưới mọi hình thức xuất phát từ quê nhà hay quê người.


Gs Lưu Trung Khảo

Trích từ Sách " Giáo Sư Lưu Trung Khảo - Dưới Mắt Nhìn Của Bạn Bè, Xuất bản 12/2013) 

Last Updated ( Sunday, 12 January 2014 20:36 )
 

Thằng Ăn Cắp!

E-mail Print


    Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơiđất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.

   Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ quađêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.   

  Sau nhiều ngày lặn lộiđường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường vềcòn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.

   Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”

   Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:

  - Ðây là vật người ta bỏquên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta

.    Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:

  - Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!

   Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.

   Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.

   Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:

  - Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!

   Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.   Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:

  - Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?

   Cụ già ngạc nhiên:

  - Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?

  - Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!

   Cụ già vẫn bình thản:

  - Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏlương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao?

  Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.   Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gióđưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặtđược một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”

  Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:

   - Bác là chủ túi đồ bỏquên trong chùa?

   - Vâng, chính tôi. Tôiđã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.

   - Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?

   Người thương gia trảlời:

  - Ðó là túi vải, trongđựng một ít lương khô đi đường.

   Người nông phu nói:

  - Thế thì không phải túiđồ của bác.

  - Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.

   Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:

  - Quả thật đó là túi đồcủa bác. Xin mời vào nhận.   Người thương gia nhận đủsố vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:

  - Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.

  Người nông dân ngạc nhiên:

  - Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?

  - Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.

  - Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.

   Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:

  - Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.

   Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏi:

  - Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?

  - Hắnđịnh ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật!

  Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện chỉ do tư lợi, làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị... thảy đều không hiểu chuyện nầy!!

Nguồn Internet
(Không  biết tên người kể chuyện.)

Ghi chú:

(Năm 12 tuổi, tôi đọc ở đâu đó một truyện cổ tích Ấn Ðộ. Truyện rất ngắn, ít tình tiết, kể về một thằng ăn cắp. Hồi đó tôi không hiểu ý nghĩa. Ðem hỏi cha tôi thì người chỉ nói: “Lớn lên con sẽ hiểu. Người nào không có lòng công chính, không là người chân thật thì cũng không hiểu.”

Thường bọn móc túi nơi đám đông, quân đào tường, khoét vách nhà người ta để trộm tiền bạc, đồ đạc... là những vật cụ thể, hữu hình, thì chúng bị gọi là kẻ cắp. Ðiều đó dễ hiểu. Còn lòng danh dự, sự công chính, lương tâm là những thứ trừu tượng, những ý niệm, thảy đều có thể bị ăn trộm hay sao?

Truyện cổ tích thường vô lý. Cốt lấy ý bỏ lời. Truyện đã đọc gần nửa thế kỷ rồi, nay kể lại ắt không thể đúng theo nguyên văn. Chi tiết thì có thêm thắt, lời văn có thể rườm rà nhưng tuyệt nhiên ý nghĩa vẫn được giữ nguyên.)

 

To Face Or Not To Face?

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Ngày xưa khi Hoàng tử Hamlet trong vở bi trường kịch của Shakespeare phải đương đầu với câu hỏi mà sau này trở thành bất hủ "To Be or Not To Be?", chắc Hoàng tử Hamlet cũng phân vân cỡ như tôi trong lúc này là cùng, với câu hỏi "To Face or Not To Face?" Mark Zuckerberg, chàng thanh niên trẻ sáng lập ra trang mạng Facebook chắc cũng không ngờ có ngày từ một trang trao đổi học hành cho nhóm bạn trong trường đại học của anh, lại trở nên quá nổi tiếng và dẫn đến bao nhiêu là niềm vui và nỗi phiền hà như hiện nay.

 

CHUNG QUANH BẾP NÚC

E-mail Print

Biên khảo
 
Anh đàn ông nào có người vợ hoặc người tình được nhiều người biết đến với tài nấu ăn thì coi bộ chàng đó vui mừng chẳng có bút mực nào kể cho hết những niềm vui đó.

Các cụ ông cụ bà ngày xưa đã nói: Người đàn bà, đàn gà cái bếp, nghĩa là người phụ nữ cần biết quán xuyến việc gia đình, như chăm sóc nguồn thu nhập, làm sinh sôi đàn gà đàn lợn, để vừa có thực phẩm dùng trong gia đình vừa có thể  bán cho người ngoài, nhờ thế đỡ túng thiếu. Những ngày giỗ chạp hoặc năm hết tết đến, nhà nào cũng phải cúng giỗ Tổ Tiên, có được đàn gà, vài con lợn béo để lo việc tư việc tết, ai nấy đều hởi lòng hởi dạ.

Người phụ nữ thời xưa có những đức tính dễ thương như tần tảo, giỏi việc nhà, biết lo toan. Nhiều phụ nữ thời xưa còn hiểu được một điều rất ý nghĩa: Chồng giận thì vợ bớt lời. Cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê.

Trong vài chục năm qua, bếp núc của nhiều gia đình đã có nhiều thay đổi. Những gia đình sống ở đô thị hoặc gần nơi dễ dàng mua bán than củi đã đỡ phiền phức khi cần đun nấu. Nấu ăn bằng củi tiện hơn bằng rơm rạ, tuy vậy người làm bữa vẫn phải trông chừng đến bếp. Người dùng bếp củi thỉnh thoảng cần ngó trông đến bếp, đẩy củi vào bếp để ngọn lửa không cháy ra ngoài, đỡ tốn củi. Còn đun nấu bằng than, rõ ràng tiện hơn bằng củi. Một bếp than, một ngày chỉ cần nhóm lửa một lần. Khi thấy than trong lò gần tàn, cần tiếp thêm một đợt than mới, ít phải trông coi. Dùng bếp điện tiện hơn, vì trong bếp và trong nhà không có khói và bụi. Hiện nay vài nước trên thế giới sản xuất các loại bếp điện và được nhiều người ưa dùng.

Ngoài ra còn phải kể đến vài loại bếp khác nữa. Đó là loại bếp gaz, loại bếp cồn và bếp dùng dầu hỏa. Ba loại bếp này có những tiện lợi hơn bếp than và bếp củi. Khi nấu ăn, người dùng bếp có thể điều chỉnh ngọn lửa cần thiết cho món nấu. Dùng vài loại bếp này, ta có thể chuyển bếp từ nơi này đến nơi khác, không bị phụ thuộc vào nguồn điện năng và trong khi chuyển bếp, việc cần làm không mất nhiều sức lực.

Nấu bếp là một việc tuy không đến nỗi nặng nhọc nhưng người làm bếp cần phải biết tháo vát, nhanh nhẹn trong nhiều việc. Có những món ăn, nếu ta nấu kỹ quá sẽ làm giảm giá trị món ăn đó. Câu nói "rau cần nấu tái, rau cải nấu thêm", đã bao hàm ý nghĩa đó. Người giỏi bếp núc là người biết điều chỉnh ngọn lửa hoặc điều chỉnh nhiệt của bếp sao cho đúng mức. Những món ăn thuộc món ninh, lúc nồi dùng để ninh đã sôi, ta cần giảm lửa hoặc giảm nhiệt của bếp xuống ( để nhiệt bếp số thấp ), khi đó nồi ninh chỉ còn sôi chút ít. Cho đến lúc ta nếm thử, thấy món ninh đã kỹ, lúc đó ta giảm lửa hoặc nhiệt của bếp xuống mức thấp nhất. Chờ khi người nhà ngồi bên bàn ăn, nồi ninh vẩn nóng, các thứ được ninh đã nhừ, nồi ninh được tăng giảm đúng nhiệt nên hương vị không tỏa bay nhiều, bữa ăn thêm ngon.

Kỹ thuật để lửa to lửa nhỏ hoặc tăng giảm nhiệt của bếp không chỉ cần đến khi làm các món ăn. Ngày trước có những cô gái, khi nấu một nồi cơm không biết hạ ngọn lửa của bếp xuống lúc nồi cơm cạn nước. Nấu xong nồi cơm, thường bị cả nhà chê nồi cơm là trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét. May sao gần đây, nhiều nhà đã có một loại nồi chuyên dùng để nấu cơm. Chỉ cần vo gạo xong, đổ nước và gạo vào nồi, nhìn mức nước vừa phải, và các bà các cô cứ việc nhẩn nha thong thả ngồi đọc thơ hoặc tiểu thuyết cho đến khi ngửi thấy mùi thơm cơm vừa chín tới. Mặc dầu từ lúc bắt đầu nấu cơm đến khi cơm chín, mải đọc cuốn truyện hoặc xem vài trang thơ, chẳng một lần động đũa vào nồi cơm bên bếp cũng chẳng sao. Vì loại nồi chuyên dùng đó, có bộ phận tự ngắt nguồn điện vào, giúp người nấu cơm khỏi lo về kỹ thuật, chẳng còn lo chuyện cả nhà chê cơm sống cơm khê.

Những mẩu chuyện chung quanh bếp núc có vài chuyện kể ra nghe tươi vui thêm đời thường. Bên bàn ăn khang trang sạch sẽ, trong mùi thơm của các món ăn xào nấu tỏa bay, người có mặt trong nhà thường tề tựu và ra vào trong bếp. Có ông chồng hay có tính trêu đùa vợ, lúc vợ nấu nướng gần xong, ông thường vào bếp nhìn qua vài món và nói giỡn vui vài lời, coi đó là niềm vui được gần bên người vợ yêu quý. Ở những vùng quê xưa, có vài đôi trai gái thương mến nhau và ở cạnh nhà nhau, thường tìm dịp bếp nhà bữa nào thêm một hai món ngon lành, liền nhân đó đem qua biếu tặng nhà bên để hai nhà thêm tinh thần trước tình yêu đôi lứa.

Ngày xưa cũng như ngày nay, những cô gái khéo việc nhà giỏi tay làm bếp vẫn thường là những cô gái đắt chồng. Có cô gái được người mẹ trong nhà truyền cho bí quyết nấu được các món ăn ngon. Và cũng có vài cô gái khéo tay tinh mắt học nấu được thêm các món ăn nhiều người ưa chuộng. 

Đã có người nói không ngoa rằng: Người phụ nữ giỏi việc bếp núc là đã có một nửa hạnh phúc gia đình. Và có nơi, người ta coi việc bếp núc là một nghệ thuật.



  Ăn là một trong hai việc rất cần thiết với xã hội loài người, vì như người ta thường nói việc ăn việc ở. Người làm trong sở, người ở nhà thường ngày cần ăn để làm tốt việc và giữ gìn sức khỏe. Một người khỏe mạnh, tính tình hòa nhã, nhưng vì hoàn cảnh, lý do gì đó mà ăn không đủ hoặc ăn không ngon, cơ thể bị  mất cân bằng và có thể sinh ra quạu quọ̣, khó tính. Ngày thường, ăn là việc bình thường nhưng những ngày trong gia đình mở vài tiệc vui, việc bếp núc cần có những người giỏi giang mới đảm đương nổi. 

Những nhà có nền nếp và khá về giao thiệp, thường một tháng mời người quen, thân hữu đến dự một, hai bữa tiệc nhỏ trong gia đình. Ở vài quốc gia, nhiều người còn coi việc mở một tiệc khoản đãi tân khách, bạn xưa là một bước tiến trong quan hệ ngoại giao. Nấu được một bữa tiệc ngon, không chỉ cần đến khéo tay mà còn cần am hiểu nghệ thuật của việc bếp núc. Người nấu bếp trong gia đình, người làm bếp trong các tiệm ăn và trong những vương triều, chính phủ thường được nhiều người quí trọng là vì lẽ đó.

Một cô gái mới bước chân về nhà chồng sẽ xoay xở ra sao khi cùng chồng sống trong một gia đình có bố mẹ chồng khái tính, thường ưa thưởng thức vài món ăn mới lạ. Chẳng lẽ chỉ nghĩ đến mỗi người chồng yêu thương? Lúc son rỗi có thể chưa bận bịu lắm, nhưng vài năm nữa khi con bế con bồng, chẳng lẽ không bao giờ cần đến ông nội, bà nội? Với một cô gái giỏi việc bếp núc thì lúc này là một dịp may lý tưởng. Cô sẽ ra tay và trổ tài để bố mẹ chồng tròn xoe mắt nhìn và thán phục cô con dâu quí hóa. Ôi, cậu con trai nhà tôi tài thật, tìm đâu được cô vợ có đôi tay vàng. Thôi, hai con yêu quý ạ. Từ nay ở gần bên cha mẹ cho vui. Gặp khó khăn về khoản mua nhà mua xe... cha mẹ không hẹp hòi. Hai cụ sẽ xoa tay hoan hỉ và cười tươi nói với đôi vợ chồng trẻ.

Cũng cần nói thêm rằng với nhiều vị cao niên, dẫu có địa vị nào trong xã hội, có được cô con dâu hoặc chàng rể có tài nấu ăn, đều mừng hơn được vàng bạc châu báu. Còn gì vui thích hơn, khi mỗi tuần thưởng thức một món ăn ngon và bạn bè khen ngợi về món ăn này, bởi món ăn đó lại được làm ra ở chính trong nhà của ta. Niềm vui này sẽ làm ta vui mãi. Hiển nhiên ai cũng muốn thỉnh thoảng thưởng thức vài món ăn ngon, để như người ta thường nói: hưởng chút ân huệ nơi trần thế. Còn ngày thường, có lẽ chẳng ai không mong trong nhà có được hai bữa ăn ngon miệng.

Có một chuyện vui kể lại như sau.
Một đôi vợ chồng trẻ vừa cưới xong và sống với nhau trong tháng đầu tiên. Tuần lễ thứ nhất, chồng được vợ cho ăn món trứng luộc, rồi đến món trứng tráng. Tuần lễ thứ hai cũng chỉ ăn quanh hai món trứng tráng và trứng luộc. Sang tuần lễ thứ ba, khi mâm cơm được bày ra, cũng chỉ nhìn thấy món trứng. Nhưng lần này là món trứng mặn và trứng hấp, lúc đó chồng chỉ còn biết mỉm cười.

Mẩu chuyện vừa kể chỉ là một chuyện vui nhưng nghĩ ra bổ ích cho những đôi trai gái có ý định sống chung với nhau, đừng quên nói với nhau trước về việc ăn uống. Và có lẽ, các cô gái trước khi lấy chồng cũng cần học hỏi và làm quen dần với việc bếp núc để nấu được những bữa ăn ngon.


  Một người biết nấu ăn ngon thường được họ hàng và người thân kính nể. Biết pha chế, gia giảm đồ ăn để có một bữa ngon lành là một việc đã khó, biết chọn lựa mua các thứ thực phẩm để dùng, lại là việc chẳng dễ chút nào. Bởi thế nên một người nấu ăn giỏi thường giỏi luôn việc mua thực phẩm. Có thể việc tìm mua đồ nấu ăn, phái nữ thường hơn hẳn phái nam.

Nói một cách khách quan, nữ giới khá hơn nam giới về tính toán chi tiêu trong gia đình. Thỉnh thoảng có vị nam giới nào được vợ trao phó việc đi chợ hôm nào, thì y rằng hôm đó bị vợ la rầy thứ này mắc, chê thứ kia là trông đồ quá tệ thế này mà ông cũng mua. Người ta vẫn quen nghĩ, đàn ông đi chợ là để cho qua việc, đôi lúc lỡ mua vài thứ giá cao hơn mức phụ nữ vẫn mua, và thường nhiều khi nam giới chú ý nhiều đến hình thức. Những phụ nữ giỏi việc nội trợ, biết quản lý và tiêu dùng hợp lý thường lựa chọn mua các thực phẩm hợp khẩu vị người trong gia đình; biết đôi lúc nới tay để mỗi tuần đôi, ba bữa cả nhà được vài chầu xuýt xoa mãn nguyện.

Phái nữ bận rộn với việc bếp núc và trong lúc bận rộn họ lại có niềm vui hãnh diện hơn cánh đàn ông. Đó là việc tính toán chi tiêu, giữ chức phó gia đình để mua bán, sắm sửa. Nhìn các bà các cô tươi tỉnh đi chợ, vui vẻ kháo nhau thứ này đắt, thứ kia rẻ. Món này ông lão nhà tôi thích lắm đấy, hoặc hôm nay ngày nghỉ, được món này nhậu, chắc hẳn ông xã nhà tôi phải nhớ tôi đến vài năm. Đấy, hạnh phúc gia đình bền vững thêm bởi có người biết lựa chọn các thực phẩm đúng khẩu vị.

Khi mua xong thực phẩm vừa ý để dùng vào bữa ăn gia đình, người nội trợ cần xếp đặt việc bếp núc một cách kỹ thuật. Việc cần nhất không nên để khu vực trong bếp bừa bãi. Các thứ mua về nên tạm xếp một nơi hoặc để riêng cho có thứ tự, dễ thấy, dễ tìm. Làm như vậy sẽ đem đến một khung cảnh sạch sẽ gọn gàng. Sau đó cần nghỉ vài phút để thêm thanh thản, ngồi nhẩm tính việc nào nên làm trước, việc nào làm sau; món nào cần nấu trước và món nào để lúc cơm sắp chín mới bắt tay vào việc. Giai đoạn dự tính này giúp ta thoáng thấy một thời biểu trong lúc nấu nướng, lo liệu thứ tự vài việc cần làm. Có thể dự tính được thời giờ gần đúng từ khi khởi đầu đến lúc kết thúc.



  Nghệ thuật nấu ăn coi trọng những cách pha chế và gia giảm gia vị. Một nồi canh ngọt gọi là vừa ăn phải hợp khẩu vị của số đông người trong gia đình. Thức ăn mặn nếu là thịt, cá ; khi mua về được coi là tươi, lúc đun nấu không nên nấu kỹ quá. Rau xanh hoặc các loại củ, quả để nấu canh; khi đun nấu để ngỏ vung nhiều, các chất sinh tố sẽ tiêu hao và món nấu giảm chất lượng. Có vài thực phẩm cẩn chặt to, kho kỹ. Và cũng có thứ thực phẩm cần thái thật mỏng, được nấu nhanh chóng. Bếp gia nào từng trải nhiều trong nghề luôn hiểu, có thứ thực phẩm vẫn ưa nấu với thứ thường được nấu chung - nhưng cũng thứ thực phẩm đó, nếu nấu với một thứ lạ hoắc có khi lại kém ngon và rất ít kẻ sành ăn để mất tới.
Cho nên từ xưa có câu "con gà cục tác lá chanh...", một am hiểu và hữu ích trong việc bếp núc. 

Thịt gà luộc xong, chặt miếng vừa phải, rắc một ít lá chanh thái mỏng lên trên được người ăn chấm muối nhỏ có vắt chanh và thêm chút hạt tiêu xay nhỏ, ngon hết sảy. Những nhà sống xa thôn xóm khó tìm lá chanh, có thể để vài nhánh mùi lên đĩa thịt gà, màu xanh này sẽ làm đĩa thịt gà thêm bắt mắt. Thịt lợn nấu lẫn với hành sẽ thơm ngon hơn. Khi nấu thịt lợn, lúc gần chín, ta thái một ít hành lá rắc vào và dùng đũa đảo qua đảo lại vài lần, món nấu sẽ tỏa ra hương thơm nức mũi. Ngoài ra, các thứ vẫn thường dùng đến như chanh, ớt, hành, tỏi... vào lúc món ăn nấu xong, nếu ta biết dùng vài thứ này thêm vào sẽ làm bữa ăn thêm giá trị.

Trong những bữa tiệc to hay nhỏ, khi các món ăn đã được đặt trên bàn tiệc, cần một chút khéo tay để xếp đặt và trang trí các món ăn thêm trang trọng. Về khoản này- dân Âu, Mỹ rất coi trọng- và qua việc chăm chút kỹ lưỡng trên bàn tiệc, đã thể hiện lòng quí mến, ân cần với khách dự tiệc. Ai đến dự những bữa tiệc được tổ chức chu đáo đó, tinh mắt một chút sẽ nhận ra vài nét đẹp trong truyền thống của dân Âu, Mỹ. Nơi dự tiệc sạch sẽ và trang hoàng vui mắt. Các món ăn sau khi được các bếp gia tài giỏi thực hiện đặt gọn gàng tươi mắt trên bàn tiệc. Một bữa tiệc tại xứ Bắc Âu thường trong vẻ hoan hỉ của gia chủ và của khách đến dự. Trong tiệc người ta nói những chuyện tâm đắc với nhau nhiều hơn, cử chỉ nhã nhặn hơn ngày thường. Khách đến dự tiệc rất hài lòng và mãn nguyện lúc thưởng thức các món ăn, bởi giá trị dinh dưỡng và bởi vẻ đẹp chung quanh bàn tiệc. Vẻ đẹp mới nhìn qua tưởng chừng khiêm nhường. Một vẻ đẹp khiêm nhường lịch lãm.


  Với vài nét phác qua của việc bếp núc chưa thể thỏa mãn nhiều bạn đọc muốn am tường và hiểu rõ thêm về nghề nấu ăn. Người nào muốn nghiên cứu để học bí quyết về nấu ăn, chắc hẳn cần nhiều thời gian và nhiều cố gắng. Người nào muốn nấu bếp giỏi đều phải học. Phương pháp hữu hiệu là nên học qua sách, báo để từ am hiểu đến tinh tường, thông thạo các cách thức trong việc bếp núc. Vì vậy nên tìm đọc vài loại sách hướng dẫn nấu ăn của các nhà xuất bản có uy tín. Qua những cuốn sách của các tác giả từng trải và đã có dịp qua nhiều nơi, từng thưởng thức nhiều món ăn, chắc hẳn người đọc biết đến nhiều cách nấu nướng rất đặc biệt. Và trong các cuốn sách thuộc thể loại nấu ăn, đôi khi độc giả có thêm nhiều am hiểu về một vùng đất, có thêm sự lịch lãm của tác giả, như chung niềm vui của những du khách biết vui hưởng điều hay, nét đẹp, những thể hiện nhiều ý nghĩa tốt lành trong cuộc đời.

Vài tạp chí, nguyệt san thỉnh thoảng cũng đăng tải vài cách nấu các món ăn cổ truyền hoặc hiện đại. Đọc sách, xem báo, theo dõi về hướng dẫn nấu ăn nơi ti-vi để biết thêm cách thức nấu các món ăn cũng cần thiết. Người nào khá về ngoại ngữ càng có dịp mở rộng hiểu biết để nấu ngon vài món ăn nổi tiếng trên thế giới. Nấu giỏi vài món ăn bình dân, bạn bè nếm thử và khen ngon là một việc khó. Người nấu các món này phải am hiểu những giản đơn mộc mạc của một món ăn giản dị nhưng có hương vị dân tộc.

Việc học hỏi tại nơi bếp núc cũng cần thiết. Có những mùi thơm tỏa bay trong bếp, phải đứng trong bếp và theo dõi các bếp gia thực hiện, mới biết được cách thức làm ra hương vị đó. Và hiển nhiên, niềm vui sẽ nhiều hơn đến với ai từng tham gia vào việc này. Ai chẳng hãnh diện với bạn hữu lúc một món ăn trên bàn tiệc nhiều người để mắt đến lại là món có ta góp đôi chút trong đó. Niềm vui này làm cuộc đời phong phú và vui thêm.

Vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ rảnh rỗi, vài người thường vui với bạn bè và lãng đãng bước vào một tiệm ăn nào đó. Khung cảnh vui vẻ trong các tiệm ăn thường đem lại cho họ vài giờ thoải mái. Trải qua một thời lênh đênh, chìm nổi, phiêu diêu... nay ngồi lại bên bạn xưa một, hai chục phút để ăn uống đôi ba thứ ngon lành nhiều người biết tới, đâu phải là không biết hưởng những tặng phẩm của đời.

Cái vui trong tiệm ăn và niềm vui bên bàn ăn trong gia đình có chung một đặc điểm: người ta ăn mừng sau một quãng đời hoặc ăn uống vui vẻ bên người thân sau giờ học, giờ làm. Đây cũng là những giờ phút nhẩn nha, thanh thản để hưởng chút hạnh phúc trong cuộc đời.


   Một người bạn kể thêm cho người viết một mẩu chuyện vui. Có những người đếm hai mươi chẵn tròn hai chục ( Người đếm hai mươi chẵn tròn hai chục là người chi tiêu biết tính toán, không lơi lỏng trong việc tiền nong ), nhưng vẫn thường dẫn chồng, hoặc vợ, hay người tình đến các tiệm ăn, thưởng thức các món ăn được nhiều người ưa thích, để sau đó vào một hôm rảnh rỗi ở nhà, trổ tài và ra tay làm bếp, khiến cho cả nhà tròn xoe mắt mũi. Tuy rằng chẳng thể ngon tuyệt vời như món nấu trong các tiệm ăn, nhưng người trong nhà được một phen biết đến một món ăn lạ miệng; âu đó có thể là chủ đề một câu chuyện vui - một gợi mở ưa thích tới những ai sẵn tài bếp gia thiên phú - và làm người trong nhà và khách dự tiệc cười vui từ khi thưởng thức các món ăn ngon cho đến lúc mãn tiệc.

Vân Võ Hoài Phương

**********************

Last Updated ( Wednesday, 08 January 2014 18:48 )
 

Giữa Hai Mùa Mưa Lạnh

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

- Anh có biết tại sao người ta thường tìm đến sống bên nhau trong những tháng mùa đông này không?
- Tại sao ư? Câu trả lời là...

 
Page 10 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account