CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Tháng Tư Còn Đó Nỗi Buồn

E-mail Print


Đang giữa Tháng Bảy mà nói chuyện Tháng Tư là không thuận với cảnh. 
Bầu trời Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn chiều cuối tuần thật đẹp. Nắng dịu và gió nhẹ, đủ sức an tâm cho những người khách cao niên trên đường đến dự buổi giới thiệu tác phẩm Black April của tác giả George J. Veith, được tổ chức tại trụ sở Hội Người Việt. 

Black April (*). Lại Tháng Tư Đen giữa lòng Tháng Bảy! Vậy mà cũng thuận lòng người hoan hỉ đón nhận. Có phải mảng quá khứ đau thương của vận nước cưu mang giữa lòng người dân Việt chẳng thể nào dứt khỏi cuộc đời chính họ đã trải qua từ ngưỡng cửa tử thần, đến cửa những trại giam và nông trường lao động khổ sai? 
Không! Không thể nào hằng triệu người dân Việt còn trong nước hay đang lưu vong quên được Tháng Tư Đen tàn khốc đó! Tháng Tư của máu và nước mắt, khi sinh mệnh của đất nước và con người bị bứt tử. Bốn mươi năm đã qua, nhưng tiếng gào thét của sự bức tử còn âm vọng mãi mãi trong tâm trí mọi người. Vết thương tâm linh luôn rướm máu, máu của chính mình, của đồng đội, của đồng bào ruột thịt miền nam Việt Nam. 
Black April của Veith là tập hợp những nguồn máu đó chảy râm ran qua suốt tháng năm dưới hóa thân những giòng lệ đỏ! 

Nếu những trang sử của Việt Nam Cộng Hòa được ghép bởi những di ngôn uất hận. Đời con cháu sau này sẽ hiểu được tinh thần của những chiến binh chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ cho một dân tộc đáng được trân quí như thế nào. Và cũng đáng được truy nguyên những chiến công của họ. 
Mỗi đánh giá về từng đoạn đường của lịch sử một dân tộc, cũng giống như sự đánh giá từng tác phẩm viết về dòng lịch sử đó, cần được phát biểu bằng ngôn ngữ của con tim chân chính được nuôi lớn bởi nguồn sống nhân bản . Mọi chất liệu đấu tranh chống cái ác được phơi bày dưới ánh sáng mặt trời luôn là hiện thực . 

Black April là một sân phơi những chất liệu đó . Qua sóng gió cuộc đời, qua trầm thăng thế cuộc, những chất liệu trung thực này sẽ được đặt trong bảo tàng lương tâm của nhân loại. Mọi tham vọng và ý đồ khuynh đảo quốc gia sẽ phải trả giá bởi chính lương tâm của họ. 

Trở lại với buổi giới thiệu tác phẩm Black April, tại hội trường của Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn, chiều Chúa Nhật 12 tháng 7 năm 2014. Cảm nhận của tôi đầy những bồi hồi . Bồi hồi qua các giải trình từ tác giả và các diễn giả về nội dung những chương quân sử của quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào những năm cuối của cuộc chiến đầy những ấn tượng bi thương! Bồi hồi vì sự cảm Kích tinh thần chiến đấu của một tập thể quân đội chỉ biết tiến chứ không lùi bước trước kẻ thù cọng sản xâm lăng. Bồi hồi vì được gặp lại vài vị chỉ huy từ tham mưu đến chiến trường, mà qua những năm quân vụ tôi đã có dịp diện kiến và phục lệnh. Bây giờ tôi được gọi những cấp chỉ huy này là niên trưởng. 

Đặc biệt, với Trung Tướng Lữ Lan, một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, nơi tôi đã phục vụ lâu nhất và có nhiều kỷ niệm nhất trong suốt thời gian binh nghiệp. Hôm nay được nhìn ông còn sức khỏe khang trang, tôi rất vui. Vui cả những đoạn phim thời sự của thập niên 60 nơi vùng cao nguyên đầy lửa đang khởi hiện trong tiềm thức tôi. Những đoạn phim hùng tráng với những trận thư hùng oanh liệt của những đơn vị dưới quyền ông đối lực với quân đội cọng sản Bắc Việt trên khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật. 
Những thước phim tài liệu về quân sử Quân Đoàn II/QL. VNCH mãi còn đó . Những quyển sách như Tháng Tư Đen của George J. Veith mãi còn đó. Như những dấu tích đau thương mãi còn đó trong tâm khảm mỗi người dân miền nam Việt Nam suốt thời kỳ chiến tranh bảo vệ quốc gia, chống lại sự xâm lăng của tập đoàn quân cộng sản Việt Nam và các thế lực đồng lõa. 

Người viết sử đừng bao giờ nói dối
Trước trăm nghìn câu hỏi của hồn oan!
 
Tôi đã viết những lời thơ như vậy, để cảnh tỉnh những người mon men vào con đường viết sử với những xảo ngôn, vong bản và xu thời. Khỏi phải ân hận trối trăn khi cuộc đời đi vào cõi đất! 

Sau khi chấm dứt phần giải trình về tác phẩm Black April. Tôi đến mở lời chào niên trưởng Lữ Lan với vài gợi nhớ, ông niên trưởng Lữ Lan và tôi bắt tay với nụ cười thân mến trao nhau cùng những câu tâm tình huynh đệ chi binh. Do yêu cầu, tôi có một tấm hình lưu niệm với ông niên trưởng được thực hiện bởi chính ái nữ của ông – Lữ Anh Thư. Đúng là Lữ Anh Thư, một cái tên mà nhiều người biết đến qua các chương trình Lịch Sử và Xã Hội Học tại các trường học Miền Đông Hoa Kỳ (**) 

Tiếp sau sự diện kiến thân tình với niên trưởng Lữ Lan, tôi đến làm quen với một người Mỹ, ông Merle L. Pribbenow – người bạn đồng hành với Veith - tác giả Black April. Merle nói thông thạo tiếng Việt, nên lời mở đầu của tôi được đón nhận với lòng cởi mở. Tôi cảm ơn Merle về sự thấu hiểu tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam Việt Nam suốt hai mươi năm chiến đấu chống giặc bắc phương . Lời cảm ơn đơn giản với sự cảm thông lẫn nhau, được ghi nhận qua tấm hình chụp chung với nụ cười chưa thỏa của tôi và cái mím môi của Merle. 

Trong dịp này, tôi gởi tặng Lữ Anh Thư, Veith và Merle tập thơ Thao Thức của tôi, với ý muốn được gởi chút tâm tư của một trong hằng triệu chiến binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt trong Tháng Tư Đen. Và hơn thế, là sự mong cầu tâm tư thao thức được thẩm thấu vào tấm lòng tuổi trẻ Việt Mỹ có lưu tình tri thức Việt Nam. 

Nhân đây, xin được cảm ơn giáo sư Nguyễn Ngọc Bich, chị Trương Anh Thụy của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông. Cảm ơn quí vị trong ban tổ chức đã thực hiện cuộc hội ngộ khó quên với cả chữ nghĩa và nhân vật trên những trang sử liệu và trong buổi giới thiệu Black April – The Fall Of South VietNam! 

Cao Nguyên 
Washington.DC – July 12, 2014 



Tham Khảo: 

(*) Tác Phẩm Black April: 

 

 

Bơi Trong Cõi Văn Chương Cung Trầm Tưởng

E-mail Print

-Việt Hải LA-

Last Updated ( Wednesday, 11 June 2014 19:53 )
 

Hãy Cùng Đứng Lên Xông Pha Nhập Trận

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Ngày 1 tháng 5 năm 2014 Trung quốc xâm lược ỷ thế nước lớn đã trắng trợn hạ đặt giàn khoan dầu khổng lồ HD-981 trong lãnh hải Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) 120 dặm về hướng Đông và cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa) 17 dặm về hướng Nam. Đây là việc làm mới nhất trong số rất nhiều hành động ngang ngược của bọn bá quyền phương Bắc công khai thực hiện việc ăn cướp đất đai, biển đảo, tài nguyên và thực thi mộng bành trướng, muốn tham lam chiếm lĩnh toàn thể khu vực biển Đông.

Trong lúc tất cả người dân nước Việt căm phẫn thề quyết tâm phản kháng chống lại tới cùng kẻ thù truyền kiếp thì bạo quyền CSVN lại cố tình làm ngơ, phản ứng một cách yếu ớt, ngoại giao chiếu lệ. Chúng thậm chí còn ngăn cản, đàn áp, bắt giam những người yêu nước biểu tình chống quân xâm lược dù họ chỉ lên tiếng một cách ôn hòa, bất bạo động. Thái độ hèn với giặc ác với dân của bạo quyền CS một lần nữa chứng tỏ bọn chúng là những tên tay sai của Bắc Kinh. Một mặt chúng thực hiện những âm mưu làm suy yếu sức đề kháng của dân tộc như duy trì độc tài độc đảng, đàn áp phong trào đòi tự do dân chủ, bần cùng hóa người dân để bá quyền phương Bắc dễ bề thôn tính đất nước, mặt khác chúng ra tay vơ vét, bóc lột, ăn cướp của dân, bán đất, dâng biển cho ngoại bang lấy tiền bỏ túi riêng, bất kể vận nước ngả nghiêng, mặc kệ dân đen đói nghèo rên xiết.

Toàn dân Việt chúng ta, những nông dân chân lấm tay bùn, những công nhân đầu tắt mặt tối, những nhà trí thức còn ưu tư khắc khoải và những bạn trẻ với bầu nhiệt huyết dâng đầy đang sục sôi căm phẫn. Chúng ta còn chờ gì nữa không cùng nhau đứng lên giành lại quyền tự quyết cho chính chúng ta và cho toàn thể dân tộc. Chỉ có vùng lên tranh đấu, một lần cương quyết và dứt khoát chấp nhận một mất một còn với bạo quyền, với quân thù xâm lược chúng ta mới mong thoát khỏi ách cai trị tàn hại của ĐCS và hiểm họa Bắc thuộc đang sờ sờ trước mắt.    

Chẳng ai tin cái đảng hèn có thể

Lèo lái con thuyền giữa cuộc phong ba

Giữ vững quê hương biển đảo sơn hà

Trước nanh vuốt bọn Tàu phù xâm lược

Đã lâu rồi cái đảng quỳ khiếp nhược

Gọi dạ bảo vâng nhục kiếp tay sai

Nhắm mắt làm ngơ cho giặc thị oai

Lấn biên giới, đoạt đất đai sông núi

Đã lâu rồi đảng tham ô luồn cúi

Nịnh bợ quan thầy che chở bảo kê

Bức hại dân đen, tàn độc cùng nghề

Giặc đến sát sườn u mê lúng túng

Để giờ đây cái giàn khoan to khủng

Đang ngang nhiên án ngữ trước sân nhà

Mẹ Việt Nam buồn rỏ lệ xót xa

Oằn mình chịu từng nhát đâm thắt ruột

Mẹ ấp ủ nghìn năm dòng sữa ngọt

Mẹ chắt chiu gom góp những mảng dầu

Dành cho các con cần đến mai sau

Vào những lúc cơ cầu hay khốn khó

Cũng để giúp con vốn nguồn từ đó

Kiến thiết quê hương tỏ mặt với người

Xây dựng nước nhà cường thịnh yên vui

Cho rạng rỡ giống nòi dân Lạc Việt

Mà giờ đây nhìn bọn Tàu quỷ quyệt

Lòng Mẹ đớn đau uất nghẹn vô vàn

Hận đám truyền thù muôn kiếp sài lang

Giận những đứa con ươn hèn bất lực

Những đứa con hư tội đồ nghiệt súc

Bán rẻ non sông bán cả linh hồn

Rước quỷ vào nhà cướp phá giang sơn

Quên nòi giống quên cội nguồn bất khuất

Có nhớ chăng bao anh hùng dân tộc

Phá Tống bình Chiêm, đoạt sáo Chương Dương

Tiếng trống Mê Linh, sóng cuộn Bạch Đằng

Hịch Tướng Sĩ toàn quân thề Sát Thát

Voi trận Đống Đa giặc Thanh chết khiếp

Áo Tây Sơn uy lộng gió Long thành

Những chiến công còn in dấu sử xanh

Câu “Nam Quốc Sơn Hà” chưa phai mực

Phải làm sao hỡi anh em cả nước!

Giặc quậy trong nhà, giặc phá bên ngoài

Tốt nhập cung rồi cờ tính sao đây?

Vua, tướng, sĩ một bầy còn ngơ ngẩn

Hãy cùng đứng lên xông pha nhập trận

Lật đổ bạo quyền giành lại non sông

Quét sạch xâm lăng tỏ mặt anh hùng

Giờ đã điểm dậy bừng bừng khí thế

Quang Dương

 

Hãy Đòi Lại Những Gì Bị Đánh Cắp

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Nguyên Anh (Danlambao) - Được biết sau cuộc biểu tình ngày chủ nhật 11/5 thành công với lực lượng tham gia chủ đạo là giới công nhân thợ thuyền trong nước, cá nhân tôi xin gửi đến các bạn một lời cám ơn chân thành và ngưỡng mộ.

 

Quốc Hận Tháng Tư, Hận Thù Còn Đó

E-mail Print

Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư đang trở về với chúng ta trong niềm ngậm ngùi xót xa hơn bao giờ hết. Thật ra, không phải chỉ đến dịp Tháng Tư Đen hàng năm chúng ta mới nhớ về tổ quốc và tưởng niệm ngày Quốc Hận. Nỗi đau mất nước, mất quê hương, mất người thân, mất tài sản cơ ngơi sự nghiệp phải chăng tuy có lúc khắc khoải âm thầm, có lúc trào dâng mãnh liệt nhưng luôn canh cánh bên mình, nung nấu trong lòng tất cả người dân nước Việt, những người không chấp nhận chế độ Cộng Sản ở trong lẫn ngoài nước.

Kẻ thù của chúng ta, bạo quyền CS miền Bắc VN, với tham vọng điên cuồng, với bản chất hung hăng của quân cướp nước, cộng với sự trợ giúp đồ tể của ngoại bang, đã trắng trợn vi phạm hiệp định Paris 1973, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, tức VNCH. Ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày đen tối nhất của toàn dân miền Nam, ngày tất cả người dân cùng phải chịu cái nhục bại trận và cái tang chung mất nước. Kể từ ngày bi thương máu lệ đó, niềm uất hận, nỗi đau quặn xé trong lòng mỗi người chúng ta vì ngậm ngùi xót xa cho quê hương, vì thương nhớ những người thân đã chết dưới tay CS chưa bao giờ nguôi ngoai.

Quân xâm lược sau khi chiếm được toàn thể miền Nam, đã áp dụng những chủ trương và chính sách vừa thâm hiểm vừa dã man tàn khốc, để đưa người dân trong Nam xuống cuộc sống bần cùng, đói rách, hạ tiện, mất nhân phẩm hầu dễ bề cai trị. Với bản tính hiếu thắng, kiêu căng của kẻ cướp nước, chúng ảo tưởng rằng có thể dùng mọi mánh khóe thủ đoạn, kể cả dụ dỗ ngon ngọt, mua chuộc móc nối, che dấu ngụy biện, thậm chí sử dụng bạo lực quân đội, công an, côn đồ, du đãng để cưỡng chế đàn áp, bắt ép chúng ta phải quên đi mối nhục hận vong quốc. Chúng đã lầm. Những điều bọn CS làm chỉ khiến lòng căm hận của chúng ta càng sôi sục hơn, càng nhận thấy rõ hơn dã tâm của chúng muốn tiêu diệt sức đối kháng của tất cả khối người Việt chống Cộng trong lẫn ngoài nước. Như hai chữ “Sát Thát” đã được xâm bằng máu, thích bằng dao lên da thịt quân dân Đại Việt thời nhà Trần, nhắc nhớ mối căm thù không đội trời chung với giặc Nguyên Mông, hai chữ “Quốc Hận” cũng đã hằn in bằng máu và nước mắt trong trí nhớ, trong tâm tưởng mỗi người dân miền Nam. Nỗi thống hận này sẽ còn mãi trong tim óc, trong xương thịt, trong từng bước đi, từng hơi thở của chúng ta, nhất là của những người từng là nạn nhân của CS.

Mỗi người chúng ta cũng không chỉ mang mối hận CS với tính cách riêng lẻ đơn thuần. Chúng ta còn có trách nhiệm cưu mang và nuôi dưỡng mối hận của những người đã chết vì CS nữa. Đây vừa là bổn phận vừa là nghĩa vụ thiêng liêng bắt buộc. Hàng triệu nạn nhân oan mạng của CS, trong đó những đồng bào vô tội, những thân nhân ruột thịt của chúng ta là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Lý do vì Họ không còn có thể chất chứa mối hận sinh tử với CS và mong có ngày đòi CS phải trả món nợ máu xương. Tuy vậy, u linh oán khí của Họ đã dằng dặc đất trời, trùm phủ núi sông. Oan hồn của Họ chưa thể siêu thoát ngày nào chế độ bạo quyền CSVN còn chưa xụp đổ, và những tên tội đồ đảng viên và tay chân của họ Hồ có nợ máu với dân tộc còn chưa bị đưa ra xét xử. Trong âm thầm vô ảnh, Họ vẫn hiện diện một cách tế vi và thường hằng bên chúng ta dưới nhiều hình thức. Thật ra, Họ vẫn đang “sống” trong chúng ta, phù trợ chúng ta, đồng hành với chúng ta trên mỗi bước đường tranh đấu chống kẻ thù chung. Hãy nhớ rằng trong mỗi con người chúng ta hiện nay đều đang mang một phần anh linh và thể phách của những nạn nhân đã chết vì chính nghĩa tự do, vì không chấp nhận chế độ CS. Chúng ta chống chế độ và con người CS không chỉ cho riêng chúng ta mà còn vì món nợ tinh thần đối với những đồng bào, người thân đã bỏ mình trong suốt thời gian đảng CS hoành hành trên quê hương khói lửa điêu linh nữa.   

Nói vậy phải chăng chúng ta thù dai? Hay chúng ta quá khích, chống Cộng cực đoan? Bạo quyền CSVN thường viện lý do rằng chúng ta lòng dạ hẹp hòi, nuôi dưỡng thù hận, chống Cộng điên cuồng quá khích, không chịu mở rộng vòng tay đón nhận lời đề nghị hòa hợp hòa giải của chúng. Rằng đã qua nhiều năm rồi, giờ hãy khép lại quá khứ, xóa bỏ hận thù để xây dựng tương lai.

Nhưng hãy tự hỏi ai mới thật thù dai, ai mới là kẻ ngoan cố, hẹp hòi, cực kỳ tham ác hiểm độc, là nguồn gốc của mọi oán thù, chia rẽ?

Không kể thời gian trước 1975, thời CS Bắc Việt tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam (vốn đã khét tiếng với những tội ác dã man kinh hoàng của chúng đối với quân dân miền Nam mà sửa sách còn ghi chép đầy đủ), hãy chỉ thử nhìn lại trong 39 năm sau ngày mất nước, bạo quyền CSVN đã và đang đối xử với những người dân của một nửa quốc gia bị chúng cưỡng chiếm ra sao? Chúng đã làm được gì cho dân tộc, cho quê hương? Hay chỉ toàn những tội ác và tệ nạn để gây thêm căm thù, oán hận, khinh ghét và ghê tởm.

Xin tạm chia ra làm hai giai đoạn:

Những tội ác của CS gây hận thù từ 30/4/75 đến 1989

Những năm tháng sau ngày cưỡng chiếm miền Nam VN, với chủ trương và chính sách vô cùng nham hiểm thâm độc, CS đã làm những điều sau đây mà chúng bảo là “vô cùng nhân đạo”, “mở rộng vòng tay”,  “xóa bỏ hận thù”:

  1. Tập trung cải tạo quân dân cán chính VNCH, thực ra là tù khổ sai vô hạn định nơi rừng sâu núi cao, ma thiêng nước độc mà hậu quả là mấy trăm ngàn người miền Nam bị chết vì bị tra tấn, xử tử, đói khát, bệnh tật, kiệt sức.
  1. Đẩy dân đi kinh tế mới để chiếm nhà chiếm đất, cướp tài sản cá nhân đồng thời một công hai việc, giết bớt dân miền Nam cho dân miền Bắc tràn vào thay thế.
  1. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, thực chất là thu gom cướp trắng toàn bộ tài sản, nguyên vật liệu, khí cụ sản xuất, tài nguyên, nguồn vốn lớn của đồng bào miền Nam đem về Bắc chia chác lẫn nhau.
  1. Hợp tác xã kinh doanh/sản xuất, tổ hợp tiểu thủ công, nông nghiệp chỉ là cái cớ để bần cùng hóa người dân lao động, bóp chết tài năng sáng tạo, triệt tiêu năng lực sản xuất và tạo điều kiện cho đám cán bộ địa phương công khai ăn cướp của cải, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn của dân.
  1. Đổi tiền, cấm đường, cấm chợ, cấm tư bản tư doanh, cấm báo chí tư nhân, cấm hội họp với đi đôi chính sách hộ khẩu, tem phiếu sổ gạo, công an khu vực, tổ dân phố, đi khai về trình đã bóp nghẹt bao tử người dân vốn càng ngày càng teo tóp sau ngày mất nước đồng thời kiểm soát gắt gao, hạn chế tự do đi lại, tự do lập hội, tự do ngôn luận… Nói chung người dân miền Nam bị tước đoạt tất cả mọi quyền tự do mà họ từng được hưởng thoải mái đầy đủ trong chế độ VNCH.
  1. Về tôn giáo, các nhà thờ, chùa chiền, miếu đền, nơi thờ phượng đều bị kiểm soát chặt chẽ, thậm chí bị tịch thu, giải tỏa. Tu sĩ bị cấm giảng đạo, bắt hoàn tục, giáo dân bị theo dõi, cấm theo đạo.
  1. Đến nghĩa trang mộ phần là nơi an nghỉ của người quá cố cũng không được yên. Hầu hết nghĩa trang đều bị đập phá, san bằng để cán bộ CS cướp đất kinh doanh lấy tiền bỏ túi. Những nghĩa trang lớn như nghĩa trang quân đội Biên Hòa vì bạo quyền còn e ngại phản ứng bất lợi từ tất cả người dân nếu thẳng tay xóa bỏ nên chúng đã ngấm ngầm phá hoại bằng cách: Một mặt  trồng rất nhiều các loại cây muồng, cây sao, cây có rễ ăn xiên phá đất để hủy hoại các ngôi mộ ở chung quanh. Một mặt đập phá, bỏ cho hoang phế đồng thời ngăn cản, cấm đoán thân nhân của tử sĩ đến thăm viếng, trùng tu, đôn đắp mộ phần. Hành động táng tận lương tâm này đã gây nên sự phẫn nộ trong lòng tất cả người dân Việt vì nó chứng tỏ rõ ràng nhất rằng CSVN vẫn còn nuôi hận thù đối với những người lính VNCH đã tử trận dù chiến tranh chấm dứt từ lâu. Về điểm này, bọn chúng đâu khác chi những vua chúa ngày xưa, lòng dạ nhỏ nhen, cựu thù chết rồi mà vẫn sai đào mộ lấy xác đốt thành tro, trộn vào thuốc súng thần công bắn cho tan xác thêm một lần nữa!
  1. Về mặt văn hóa, CS ra lệnh tịch thu, đập phá, thiêu hủy toàn bộ văn hóa phẩm như các loại sách báo, tài liệu tham khảo, họa phẩm, hình tượng, phim ảnh, băng dĩa nhạc…của VNCH với mục đích xóa sạch những tinh hoa nhân bản, văn minh của miền Nam. Thay vào đó, chúng đưa vào những sách báo XHCN rồi ra sức tuyên truyền, bắt ép người dân miền Nam phải học tập những giáo điều khô khan cứng ngắc của một chủ thuyết phi nhân, sắt máu, lạc hậu, lỗi thời. Chúng muốn biến toàn thể dân miền Nam thành những cái máy không còn biết suy nghĩ phải trái, thành nô lệ sẵn sàng làm bất cứ điều gì chúng muốn.
  1. Phân biệt đối xử giữa người thuộc chế độ VNCH và người của bọn chúng. Quân dân cán chính VNCH đương nhiên bị gạt ra ngoài xã hội, chỉ một số rất ít được lưu dụng vì nhu cầu nhưng chỉ có tính cách tạm thời và không có quyền quyết định một điều gì. Tất cả quân dân VNCH bị coi như những công dân hạng hai. Thân nhân, con cháu những người có dính líu đến chế độ cũ không được vào đại học, bị chèn ép nơi học đường. Người đi làm bị nghi kỵ, theo dõi nơi sở làm. Người ở nhà bị dòm ngó xoi mói bởi công an khu vực và cán bộ phường khóm xã ấp
  1. Dưới chế độ hà khắc, chủ trương trả thù đê hèn của bạo quyền CS, người dân miền Nam đã phải tìm cách bỏ nước ra đi, bất chấp hiểm nguy, vượt biên vượt biển bằng đường bộ, đường biển. Số người mất tích, bỏ xác nơi rừng sâu, khe núi hay đại dương biển cả nhiều không đếm xuể. Thống kê không chính thức lên tới 400.000 người. CS không thể chối cãi là chúng không có trách nhiệm về số lượng khổng lồ những người chết oan này. Chính cuộc xâm lược miền Nam và chính sách tàn bạo của chúng đã xô đẩy dân miền Nam vào thảm cảnh đoạn trường có một không hai trên toàn thế giới. Nỗi kinh hãi lẫn oán hận và ghê tởm CS của người miền Nam nếu có cũng là điều hiển nhiên.

Trên đây chỉ là vài trong số vô vàn việc làm gây phẫn uất căm hờn trong dân chúng sau ngày CS miền Bắc xâm chiếm miền Nam tự do. Thiết nghĩ chỉ những điều đó cũng đã quá đủ để chứng minh CSVN chính là kẻ tạo ra hận thù. Nhưng không phải tội ác của chúng chấm dứt ở đó.

Những việc làm của CS gây oán hận từ 1990 về sau

Sau thời gian thi hành những chủ trương và chính sách sai lầm đưa miền Nam nói riêng và cả nước đi vào con đường bế tắc, kiệt quệ, oán thù chồng chất, bạo quyền CS suốt trong những năm tháng kể từ đầu thập niên 90 cho đến bây giờ vẫn tiếp tục gây thêm đau thương oán hận bằng vô số những hành động thất nhân tâm. Bọn chúng không chỉ gây tội ác với người dân miền Nam mà còn với đồng bào cả nước.

Vin vào chủ trương đường lối kinh tế mới, bung ra thị trường, gọi nôm na theo kiểu đầu gà đuôi vịt là “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” (do chính chúng vẽ vời ra), thay cho Kinh tế tập trung, bao cấp đã bị phá sản, bọn đảng viên cán bộ đua nhau vơ vét làm giàu, tham nhũng hối lộ, lập phe nhóm ăn cắp của công, ăn cướp của dân một cách công khai trơ trẽn. Bọn chúng chia nhau nắm giữ tất cả những công ty, xí nghiệp, ngân hàng, cơ sở kinh doanh quan trọng. Cha mẹ, anh chị em, con cháu, họ hàng và tay chân bọn chúng được giao cho nắm giữ những chức vụ béo bở đầy quyền hành, hái ra tiền dù chẳng có tài cán đạo đức gì. Những tên cùng phe với nhau hợp thành những nhóm lợi ích để bao che thủ lợi. Chúng còn mạnh tay thu gom tài nguyên, đất đai, khoáng sản, lâm sản, thủy sản, nguồn vốn công béo bở, nhờ lợi dụng chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước (thì cũng do chúng tự đặt ra). Khi kinh doanh bị thua lỗ, sản xuất sa sút đình trệ do khả năng yếu kém, tham nhũng, ăn cắp lan tràn, chúng xoay sở chạy tội, lôi kéo ra cả bầy đàn cán bộ đảng viên chóp bu cùng dính máu ăn phần. Sau những màn trình diễn xử án làm cảnh, tất cả lại huề cả làng hoặc chỉ đem vài “con dê” ra “tế thần” cho có lệ vì ngành Tư pháp, tòa án cũng là tay chân bọn chúng và cũng vì rút dây thì động rừng, phe nào cũng ăn bẩn như nhau cả.

Viện lý do thực hiện dự án này, quy hoạch nọ, chúng giải tỏa/cướp trắng nhà đất của dân nghèo, đền bù với giá rẻ mạt do chính bọn chúng ấn định. Khu đất cướp được chúng đem bán cho tư bản nước ngoài với giá trên trời, gấp hàng ngàn lần hơn giá chúng trả cho khổ chủ. Công nhân thì bị bóc lột sức lao động, chèn ép, hạ nhân phẩm, làm tăng giờ, trả lương thấp do chủ nhà máy (đa số là ngoại kiều) toa rập với cán bộ địa phương để ngoảnh mặt làm ngơ. Dân oan hoặc công nhân biểu tình khiếu kiện đòi sự công bằng thì bị đe dọa, trấn áp, đánh đập tàn tệ, thậm chí bỏ tù. Những người dân khác thấy cảnh bất công, tìm đến giúp đỡ đồng bào cô thế thì bị bạo quyền sai công an và côn đồ bao vây, dọa nạt, gây khó dễ trong việc di chuyển và cũng bị hành hung, quấy nhiễu, vu cho tội âm mưu chống phá, lật đổ chính quyền.

Nhiều người dân nghèo không sống nổi ở quê nhà phải tha phương cầu thực, đi làm “lao động xuất khẩu” ở những lục địa rất xa. Các cô gái VN nghèo không đường sinh kế phải xếp hàng khỏa thân cho đàn ông ngoại quốc sờ nắn chọn lựa mua về làm vợ như mua một món đồ vật (thực tế nhiều phần là phải làm đầy tớ, vật thỏa mãn sinh lý cho cả nhà chồng). Trong dịch vụ xuất cảng công nhân lao động, mua bán cô dâu VN, bọn cán bộ CS cũng được những công ty môi giới đút lót để chúng đồng lõa ăn chặn tiền công, ăn cướp tiền bán xác thân của những con người bất hạnh.

Kinh tế, xã hội đã vậy còn các mặt khác thì sao?

Về tài chính thì “tiền vào nhà Cộng như nước tuồn miệng cống”, bao nhiêu tiền bạc của cải đổ vào đám mồm gàu tai quạt, hôn quan ôn vật VC và cái bộ máy tài chính cũ rích rệu rạo ngốn tiền như hạm của chúng cũng không bao giờ đủ. Tiền đồng của CSVN lạm phát theo lối phi mã, người dân không còn tin tưởng vào giá trị đồng tiền và khả năng chi trả của ngân hàng nên không muốn gửi tiền trong đó. Dĩ nhiên, vì ngân hàng nhà nước và các ngân hàng kỹ, nông, công, thương khác chỉ là phương tiện cho bọn cán bộ và đại gia chiêu dụ, phù phép, lừa đảo ăn cướp tiền của dân và của những nhà đầu tư ngoại quốc còn ngây thơ tin tưởng vào lời lẽ ngon ngọt đầu môi chót lưỡi của CS. Do khả năng quản lý yếu kém, hệ thống tài chính và ngân hàng của CSVN đang kiệt quệ, đứng bên bờ vực thẳm khánh tận vì nợ công nợ tư ngập đầu mà không tìm đâu ra nguồn vốn để xoay sở.

Sang đến giáo dục và y tế thì băng hoại, thối nát và chây lì. Bọn cán bộ chóp bu đầu ngành là những cái gương cực xấu, ảnh hưởng vô cùng tiêu cực cho cho toàn hệ thống. Chúng chỉ biết chạy theo đồng tiền và cái ghế ngồi, coi rẻ đạo đức xã hội, liêm sỉ và luân lý chức nghiệp. Thầy cô giáo tìm cách bắt học sinh phải đóng tiền học thêm những lớp luyện thi. Tình trạng mua bán đề thi là phổ biến. Cán bộ có chức quyền ăn hối lộ hoặc gài ép giáo viên trong việc bổ dụng, thuyên chuyển để thỏa mãn dục vọng  Thầy giáo mua/ép dâm học trò hay học trò bán dâm để lấy điểm lên lớp. Nhà thương, bác sĩ, nhân viên y tế ưu tiên chữa bệnh cho cán bộ đảng viên. Những kẻ có quyền chức, đại gia đỏ được hưởng sự săn sóc tối đa, nằm bệnh viện tân tiến, bác sĩ giỏi, thuốc men thừa mứa, ăn uống thỏa thuê. Dân thường thì chỉ được chữa trị nếu có tiền. Ai có đủ tiền trả trước cho dịch vụ y tế thì mới được chẩn bệnh, nhập viện. Ai nghèo túng, khố rách áo ôm thì cứ việc nằm đường chờ chết. Những kẻ cầm đầu bất tài vô hạnh trong hai ngành này đã gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng mà vẫn bình chân như vại dù tội lỗi đã rành rành. Tiếng kêu than, phiền trách, tố cáo của người dân về những tệ nạn trong hai ngành này đã thấu trời xanh nhưng tình trạng đâu vẫn hoàn đó vì bọn chóp bu CS còn đang lo củng cố quyền lực và vơ vét làm giàu, làm gì còn thì giờ lo cho dân cho nước. Hơn nữa dẫu thay người cỡ “Vũ Như Cẩn” bằng “Nguyễn Y Vân” thì cũng là sâu dân mọt nước như nhau! Bọn chúng cùng một ruộc, lấy đâu ra những bậc thiện lương tài đức để cầm cân nẩy mực?

Đến giao thông thì đường xá, cầu cống chật hẹp xuống cấp, lưu thông ứ đọng. Tai nạn xe cộ xảy ra hàng ngày do thiếu kế hoạch tu sửa hợp lý và mở rộng kịp thời. Người dân thù ghét coi thường cảnh sát và luật lệ giao thông cũng vì tai tiếng của ngành này. Sự kiện cảnh sát giao thông vừa hống hách, hành xử vũ phu, coi thường mạng sống của người dân vừa lợi dụng quyền bắt người phạm luật để lấy tiền đút túi đã được phản ánh rất nhiều. Về xây dựng thì các công trình xây cất, nhà cửa, cầu, hầm đều dưới tiêu chuẩn an toàn, có khi đổ xập bất ngờ gây tai nạn chết người thảm khốc vì tệ nạn móc ngoặc tham nhũng, ăn hối lộ, tráo vật liệu trong khi gia công và nghiệm thu. Tại nhiều tỉnh miền cao nguyên, phương tiện giao thông và đề xuất xây dựng còn thiếu thốn đến độ các em học sinh phải đánh đu trên những cây cầu treo đã mục gẫy nghiêng đổ để đi học hoặc phải chui vào bao nhựa để người lớn đưa qua sông qua suối.

Về nội an thì tội ác trộm cắp, xì ke ma túy, cướp của giết người nhiều như rươi. Không ngày nào không có tin tức về giựt rọc, trộm cướp, đâm chém, cờ bạc, hiếp dâm, giết người, nhiều trường hợp rất dã man rùng rợn, bất kể đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục lâu đời. Chính quyền, công an thì bất lực trước những tệ nạn xã hội này nhưng lại rất sành sỏi và nhanh nhạy trong việc quây bắt, trấn áp, tra tấn những người biểu tình yêu nước đòi tự do dân chủ hoặc chống quân Trung Cộng xâm lăng lấn chiếm biên giới, biển đảo của quê hương. Người dân sống trong cảnh hồi hộp lo âu thường trực, không biết lúc nào tai nạn sẽ xảy đến cho mình. Tất cả chỉ vì thượng bất chính thì hạ tắc loạn.      

Với bản chất tham lam độc ác lại thêm thói quen chuyên dùng thủ đoạn lường gạt cố hữu từ thời bám váy dân nghèo nhúm nhen lập đảng của đầu thập niên 30, tập đoàn thống trị độc tài độc đảng CSVN hiện nay chỉ biết một điều duy nhất là trong thì cướp bóc, vơ vét và làm giàu cho chính bản thân chúng bất kể cuộc sống của người dân có ra sao. Ngoài thì kể từ sau Hội nghị Thành Đô hồi tháng 9 năm1990, bọn chúng rõ ràng đã quy phục Trung Cộng. Nội dung cuộc họp bị giấu nhẹm nhưng những diễn tiến xảy ra trong thời gian sau đó đã chứng minh những “đỉnh cao trí tuệ” sang triều cống thiên triều chỉ là để xin tha tội và khi về đã đồng lòng răm rắp tuân theo chỉ thị, thực thi tất cả những gì bề trên của chúng đòi hỏi. Chúng nịnh bợ ve vuốt Tàu Cộng đến hèn hạ. Chúng chấp nhận ký những hiệp định về biên giới và biển đảo có lợi cho Tàu, mở cửa ngõ biên giới cho quân Tàu tự do qua lại, đóng chốt, xây dựng căn cứ, mai phục lâu dài tại những địa điểm chiến lược hiểm yếu nhằm mục đích thôn tính đất nước ta trong tương lai. Bọn lính Tàu giả dạng công nhân có vi phạm luật pháp VN thì công an VN cũng không dám bắt giữ, tòa án không dám xét xử. Bạo quyền CSVN còn ngậm tăm không dám phản đối TC khi Bắc Kinh công bố “đường lưỡi bò”, tự tiện phách lối chiếm trọn 80% diện tích biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong đó. Hèn hơn nữa là bọn chúng chỉ dám phản đối suông lấy lệ khi tàu hải giám, tàu tuần của TC cấm cản, chận đánh, phá hoại, gây thương tích cho ngư dân, bắt giữ trái phép, đòi tiền chuộc nhiều lần các tàu thăm dò dầu khí và tàu thuyền đánh cá của dân ta trong hải phận và chủ quyền VN. Bọn chúng còn thậm chí cắt dâng biển đảo đất liền cho chủ với mục đích mong được Tàu Cộng bảo bọc, chống lưng để yên tâm đè đầu cưỡi cổ dân lành, vinh thân phì gia và muôn năm trường trị.

Đất nước, giang sơn của tổ tiên mà cũng chỉ còn là món đồ để mua bán đổi chác trong tay bạo quyền CSVN thì bọn chúng xá gì sự sống còn của gần 90 triệu đồng bào (dĩ nhiên đã trừ ra cỡ một triệu đảng viên CS cốt cán). 39 năm trôi qua quá đủ để chúng ta không còn nghi ngờ bản chất xấu xa hèn với giặc, ác với dân, gặp ai cũng lường gạt, thấy gì cũng vơ vét của con người CS. Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư năm nay là dịp để chúng ta nhắc nhớ nhau thêm những tội ác của CS với đất nước, với dân tộc để mà càng cảnh giác, càng nuôi thêm mối căm hận bọn chúng. Ngày nào bạo quyền CSVN còn thống trị trên quê hương, chúng ta còn cương quyết tranh đấu chống lại. Hãy không tin, không nghe, không làm, không nhận bất cứ điều gì CS dụ dỗ mời mọc. Kinh nghiệm cho thấy CSVN chỉ có thể bị xóa bỏ, tiêu diệt chứ không bao giờ có thể hòa hợp hòa giải, cùng nắm tay chung sống.

Quang Dương (Quốc Hận 4/2014)

 

ÔNG HẢI QUÂN

E-mail Print

 

Chiếc ghe nhỏ cũ và xấu có mái che lụp xụp đang lướt đi tới một khúc sông vắng, trên đường cũng vắng hoe cô quạnh chẳng thấy bóng người qua lại, xung quanh chiếc ghe toàn là cây bần, cây dừa nước và vô số các loài cây hoang dại um tùm làm hẹp và tối cả khúc sông, những loài cây dại mà Thư không biết tên dù Thư đã có thời học đại học khoa học môn thực vật Thư đã đi tới vùng Biên Hoàđể tìm hiểu về nhiều loại cây.
Trên bờ và dưới sông đều hoang vu im ắng như nhau, có lẽ nơi này hiếm khi ai qua lại.
Anh chèo ghe là dân địa phương đã rành rẽ chọn chỗ vắng vẻnhất để cho chiếc ghe neo lại tạm trú, chiếc ghe nằm lọt trong bụi cây dại âm u.
Anh ta nói nhỏ dặn dò Thư:
-        Anh nằm trong ghe đừng ló mặt ra ngoài nghen, đợi chiều tối chúng ta ra ghe lớn.
Thư vừa đùa vừa thật:
-        Anh cứ nói to lên, dưới sông trên bờ chỉ có anh và tôi với ruồi muỗi chứ có ai nữa đâu mà phải thì thầm…
Anh chèo ghe cười lỏn lẻn:
-        Cẩn thận cho chắc ăn mà anh Hai.
Thế rồi anh chèo ghe ngồi ở cuối ghe còn Thư nằm trong lòng ghe.
Thời gian chờ đợi cho chuyến vượt biên căng thẳng hồi hộp làm sao và thời gian trôi chậm làm sao.!.
Gía mà lúc này Thư có nổi hứng thay đổi ý định muốn trở vềnhà cũng không được nữa, vì Thư chẳng biết đường nào mà về, đường sông đường bộ đều hoang vu như nơi này đã bị cuộc đời lãng quên hoặc vô danh vô thừa nhận trong bản đồ đất nước Việt Nam và nhất là anh chèo ghe rõ ràng đang canh chừng Thư như canh chừng một tên tù binh...
Thư sẽ là hoa tiêu, là nhân vật cần thiết cho chuyến vượt biên này, người ta đã ưu ái cho Thư nên canh chừng Thư là đúng rồi. Tới giờ phút này Thư mà bỏ cuộc thì người ta cũng …dí dao bắt Thư lên ghe lên tàu cho bằng được, vì tổ chức một chuyến vượt biên mất bao công phu, bao sự sắp xếp mới đến ngày ra khơi...
Đánh đổi việc Thư làm hoa tiêu,Thư không phải trả tiền mà còn có thể mang theo một hai người thân nếu muốn, Thư định dắt đứa em gái đi nhưng bố đã ngậm ngùi cản lại:
-        Tuy là người ta cho đi không, nhưng chuyện vượt biên bao nhiêu rủi ro, biết được hay thua mà vơ vào, thôi thì cứ lo cho thân con sống chết cũng đành.
Bố nói đúng, mạng Thư là “mạng cùi” thì sẵn sàng thí mạng.
Thư đến thành phố Mỹ Tho được chủ ghe sắp xếp cho ở nhà một người thân của họ, chủ nhà đưa Thư ít tiền tiêu vặt.
Hôm sau Thư ăn mặc nhưdân miệt vườn với bộ đồ cũ và đầu đội chiếc mũ tai bèo “thanh niên xung phong”cũng đã cũ bèo nhèo. Thư ra chợ Vòng Nhỏ ăn tô hủ tiếu Mỹ Tho rồi đi chuyến xe lôi ra bến phà Rạch Miểu, qua bên kia sông Thư như người khách đường xa vào ngồi quán nước để chờ người ra đón.
Người này đưa Thư xuống một chiếc ghe nhỏ chèo tay và đưa Thư đến đây. Bây giờ khoảng 2 giờ trưa, như vậy là Thư sẽ nằm chèo queo trong lòng ghe chật hẹp này thêm mấy tiếng đồng hồ nữa chờ đêm tối đến..
Thư gối tay lên đầu, mái tóc mới cắt ngắn. Chiều hôm trước ngày Thư đi Mỹ Tho chị Thái của Thư đã cắt tóc cho Thư.
Cửa tiệm cắt tóc và uốn tóc của chị Thái mở ra trước cửa nhàế ẩm khách vì chị mới đi học nghề và ra cửa tiệm nên bị hàng xóm chê tay nghề còn non. Sau 1975 chồng đi tù cải tạo chị lo học nghề may, rồi học nghề uốn tóc mà chẳng sống được với nghề nào.
Thư nghĩ nếu đi chuyến vượt biên này thành công thì sẽ giúp đỡgia đình để chị Thái đỡ vất vả hơn. Mẹ mất mấy chị em sống quây quần với nhau cùng với bố.
Chỉ trong một thời gian ngắn vài ba năm mà cuộc đời Thư đã qua bao thay đổi. Thư tốt nghiệp đại học sư phạm Sài Gòn và được bổ nhiệm về dạy học tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ năm 1974, sau 1975 trường đổi tên An Cư.
Năm 1979 Thư bị ép phải “tình nguyện” đi bộ đội. Những buổi họp tại trường người ta luôn hô hào khẩu hiệu: “Sẵn sàng đi bộ đội khi cần thiết”và gọi đích danh một số giáo viên để khuyến khích họ tình nguyện trong đó có Thư.
Các học sinh đoàn viên của trường cũng được phát động chiến dịch tình nguyện đi bộ đội.
Tình hình chiến sự đang gay gắt, quân Trung Quốc gây hấn ởmiền Bắc. Trong miền Nam  thì bộ đội sang Campuchia để “giúp đỡ” quân sự cho người dân Campuchia thoát khỏi Khờ Me Đỏ.
Hôm trường An Cư tổ chức liên hoan mừng thày trò của trường tình nguyện đi bộ đội vượt chỉ tiêu, có một nam sinh lớp 11 trong số các em học sinh đoàn viên tình nguyện đi bộ đội đợt này đã  hiên ngang ra hát giúp vui văn nghệ với bài “Hãy yên lòng mẹ ơi”. với điệu nhạc câu hát tưng bừng thúc giục như: “ …Ai…như giục lòng ta, mẹ ơi có nghe, núi sông vang dậy…”
Hát xong nó hân hoan cúi chào khán gỉa giữa tiếng vỗ tay cổvũ thì mẹ nó cầm chổi chà đứng chờ sẵn phía sau sân khấu, thằng con vừa vào là bà mẹ túm áo nó lại quật cho nó một trận chổi chà tơi bời:
-        Mẹ ơi hãy yên lòng . Nè, nè…nè….
Mỗi tiếng “nè” là bà quật chổi vào người thằng con tới tấp hơn. Bà rít lên::
-        Thằng con khờ ơi, ai biểu mày tình nguyện đi bộ đội hả?hả? Mày muốn phơi thây ở Campuchia hả? hả?.Hay mày muốn chết mất xác ở ngoài Bắc vì bọn Trung Quốc hả? hả??.
Thế mà chẳng hiểu bằng cách nào hôm thày trò lên đường đến  trại huấn luyện quân sự ở Trà  Bay huyệnThốt Nốt thằng nhỏ cũng hớn hở có mặt.
Còn Thư thì lòng dạ não nề.
Chị Thái  từ Sài Gòn đến Trà Bay  thăm Thư, chị buồn đau thương cho thằng em phải gĩa từ phấn bảng, giã từ lũ học trò. Hai chị em cùng toan tính  nếu học xong khóa huấn luyện quân sự ở Trà Bay họ đưa Thư ra miền Bắc thì chưa biết tính sao, nếu sang Campuchia thì Thư sẽ tìm đường vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan., may ra tìm được bến bờ tự do còn hơn là vào sinh ra tử cho một chủ nghĩa mà Thư cũng như những người dân miền Nam Việt Nam đều chán ghét..
Tội nghiệp chị Thái một chuyến đi buồn mà còn gặp nạn, chịmua vé xe đò từ SàiGòn đến Cần Thơ gía chợ đen gấp đôi gấp ba gía chính thức, thằng cò mồi vé dẫn chị lên xe đò và đòi tiền ngay tại chỗ thay vì chị sẽ trảcho anh lơ xe đò khi xe chạy. Thế nên chị phải trả tiền đến 2 lần cho cái vé chợ đen
May mắn cho Thư, sau khoá huấn luyện quân sự ở Trà  Bay trường An Cư đã gọi Thư về dạy học lại vì thiếu giáo viên. Thư không biết đâu là sự thật? hay là họ đã thử lòng Thư? Sau đó một thời gian trường đã đề nghị cho Thư làm hiệu trưởng một trường trung học ở Long Tuyền, cách thành phố Cần Thơ khoảng 12 km, không biết vì “thành tích” tình nguyện đi bộ đội của Thư hay vì Thư đã đạt danh hiệu giáo viên giỏi của tỉnh Hậu Giang?…
Thư không muốn nhận chức vụ này vì càng lớn chức càng nhiều ràng buộc và trách nhiệm mà mục đích của Thư là đang tìm đường vượt biên, luôn chờ thời đi vượt biên.
Thư có một bạn cùng chí hướng tên Tuấn tốt nghiệp cùng khóa đại học sư phạm, nhưng Tuấn bỏ dạy học làm nghề tự do cũng vì mục đích vượt biên. Tuấn là dân bản xứ Mỹ Tho đã đứng ra tổ chức chuyến vượt biên như rủ thêm một số bạnđồng hành, mua ghe thuyền cho đến máy móc. Toàn là “cây nhà lá vườn” kể cà tài công và hoa tiêu nên không tốn kém tiền bạc nhiều.
Thư là hoa tiêu dù nghiệp dư nhưng Tuấn tin cậy vào khả năng thông minh nhạy bén của bạn,. Thư học lóm “nghề” hoa tiêu từ một anh bạn là sĩquan hải quân đi tù cải tạo về, anh hải quân còn đưa cho Thư một cuốn sách bằng Anh Ngữ anh mang về sau chuyến sang Mỹ tu nghiệp. Với khả năng tiếng Anh Thư đã học xong ở Hội Việt Mỹ đường Mạc Đỉnh Chi Sài Gòn và nếu cần thì tra thêm tự điển thì đọc và hiểu cuốn sách này rành rọt không mấy khó khăn.
Để chắc ăn thêm Thư đã vào thư viện quốc gia ở đường Nguyễn Du Sài Gòn tìm đọc thêm những sách liên quan đến đi biển.
Thế là Thư tự tin đảm lãnh trách nhiệm làm hoa tiêu cho chuyến vượt biên “nhà nghèo”  tự biên tự diễn này..
Từ Cần Thơ mỗi lần nghỉ dạy là Thư về Sài Gòn la cà ra khu chợ trời để tìm kiếm mua la bàn và bản đồ đường biển.
Dân chợ trời khôn khéo lắm, để không bị công an nghi vấn hay chất vấn họ chỉ bày bán những la bàn bộ binh, hướng đạo sinh đi trong rừng. Thưcũng phải khôn khéo và kín đáo hỏi họ về la bàn đi biển. Thế là cả người bán lẫn người mua đều biết tâm ý của nhau tuy không ai nói ra..
Dân chợ trời sau 1975 đủ mọi thành phần thượng vàng hạ cám, người bán đã dắt Thư về nhà đưa ra những la bàn Hải quân và bản đồ đi biển. Anh ta trình độ và sành sõi hỏi Thư  đi biển đường nào thì sẽ bán bản đồ vùng ấy, vì biển mênh mông có nhiều hướng đi.rồi
  bán cho Thư la bàn, bản đồ tốt đúng như Thư đang tìm kiếm.dĩ nhiên với gía rất đắt
Chuyến vượt biên này vào năm 1981 đã  thất bại khi chưa ra tới cửa biển, cả đám vào tù ở huyện Long Đất Vũng Tàu, trong 8 tháng tù giam Thư đã quen thân với một anh tài công trẻ tuổi tên Đực nhà quê và thật thà. Đực là dân lái ghe mướn từthời mới lớn và được một chủ ghe trọng dụng làm tài công lái chuyến ghe đi vượt biên không may thất bại.
Từ trại giam ở Long Đất ra Thư thành kẻ tay trắng, không chỗdạy học, không hộ khẩu. Thư về Sài Gòn sống với gia đình, cha và các chị em cưu mang Thư, những ngày này thật hoang mang vô định và đôi khi tuyệt vọng.
Tuấn được gia đình lo cho ra tù sớm và sau đó lấy vợ, thừa hưởng nhiều tài sản ruộng vườn nhà vợ ở Mỹ Tho và  không hào hứng chuyện vượt biên như lúc còn độc thân nữa..
Lúc này qua một bạn giáo viên quen thân dạy ở Cần Thơ Thư được biết thằng học trò tình nguyện cùng đi bộ đội với Thư, cái thằng bị mẹ cầm chổi chà đánh tơi tả sau hậu trường sân khấu hôm nhà trường ăn mừng đoàn quân tình nguyện vượt chỉ tiêu đã bỏ đơn vị, đảo ngũ trốn về nhà. Chắc nó đã thức tỉnh, đã ân hận không nghe theo lời mẹ.
Thằng học trò dĩ nhiên là bị mất hộ khẩu, bị lý lịch xấu chẳng khác gì Thư. Gia đình sẽ xoay sở ra sao cho nó? lấy lại cái hộ khẩu đã khó nói làm gì tẩy xóa được cái vết đen trong bản lý lịch đời nó.
Thày và trò đều lêu bêu như nhau, tương lai đen tối nhưnhau.
Con đường sống duy nhất của Thư là Thư tiếp tục vượt biên.
Biết Thư là hoa tiêu Đực đã giới thiệu cho Thư chuyến đi này với Đực và Đực vẫn là tài công. Hai anh em sẽ cùng một chuyến tàu định mệnh, sống chết có nhau như những ngày tháng trong tù chia sẻ từng miếng cơm khô, từng con cá mặn, từng buồn vui vặt vãnh chuyện đời.
                          ****************
Khoảng 7-8 giờ tối thì tay chèo ghe bò đến chỗ Thư, lại thì thầm:
-        Ta đi nghen anh Hai.
Lần này Thư thấy hồi hộp không đùa với anh ta được nữa.
Chiếc ghe lặng lẽ tách bến sông vắng để đến điểm hẹn gặp ghe lớn.
Trên ghe lớn đã có sẵn hơn 40 “hành khách” không biết họ đã đón lên từ nơi nào, từ lúc nào..
Khi Thư vừa bước lên ghe có một bà cất tiếng hỏi ngay với lòng tin tưởng và ngưỡng mộ:
-        Ông là sĩ quan hải quân hả?
Thư đành …gật đầu vì chẳng có thì giờ đâu mà giải thích mà kểlể.trong phút giây căng thẳng và quan trọng này, mà nếu nói ra Thư là một thày giáo chắc không riêng chị đàn bà tò mò này mà biết đâu cả ghe đều hốt hoảng kinh sợ vì mạng sống của họ sẽ giao phó cho một người chỉ đứng trên bục giảng chưa hề đi biển lần nào ngoài chuyến vượt biên mới ra biển một chút đã bị tóm vào tù vừa rồi..
Anh Tình chủ ghe đến bên Thư dặn dò và một hai đều gọi Thư là“ông hải quân”. đầy tin cậy y như chị đàn bà kia.
Ghe rời sông ra cửa biển Bình Đại vào lúc 3 giờ sáng, tuy trời còn tối không nhìn thấy màu nước nhưng Thư biết vùng nước lợ chuyển tiếp giữa sông và biển nửa đục nửa trong, càng đi xa bờ nước càng xanh đậm.
Đến khi trời sáng rõ thì nhiều người trên ghe bỗng phát hiện ra có tàu đang đuổi theo, không biết đó là tàu của lính biên phòng hay tàu đánh cá của tư nhân? Nhưng dù tàu nào thì cũng là mối đe dọa nguy hiểm. Anh Tình đến bên Thư lo lắng giục gĩa:
-        Ông hải Quân, có tàu đang đuổi theo mình, cho ghe vọt nhanh đi.
Thư nhìn ra sau  thấy chiếc tàu lạ càng hiện rõ nên sau một thoáng suy nghĩ bèn quyết định:
-        Anh Tình, không kịp đâu. Anh xem trên ghe mình có mang theo bất cứ cây gậy nào thì tận dụng hết chỉa ra sau ghe gỉa làm súng ống hù dọa chúng xem? rồi tới đâu mình tính tới đó.
Tình làm y lời, và còn kêu mấy thanh niên đứng trên khoang ra vẻ thách thức, ra vẻ  như phe ta rất“ngầu”, đang có vũ khí và sẵn sàng chiến đấu.
Thế mà chiếc tàu kia rút lui thật, nó không tăng tốc độ đuổi theo nữa và khoảng cách càng lúc càng xa. Đúng là trời thương trời cứu..
Mọi người thở phào nhẹ nhỏm và suy đoán chắc chiếc tàu kia chẳng dám dấn thân vào nguy hiểm để lập công làm gì, mà bắt người vượt biên nhưbắt cóc bỏ dĩa, thua chuyến này thì họ lại đi những chuyến sau, cho tới khi nào không còn khả năng đi nữa thì mới chịu thôi.
Chiếc ghe lại tự tin vượt sóng, như một thủy thủ chuyên nghiệp Thư ghi nhật ký hải hành để theo dõi chuyến đi, Thư tính hướng cho Đực lái tàu đến Mã Lai, địa điểm càng gần thì càng rút ngắn sự hiểm nguy.
Chiếc ghe dài 12 mét, Thư đã vo tròn mớ giấy báo cho người đứngờ đầu ghe ném ra xa xa theo chiều ngang song song với mũi ghe và Thư theo dõi đồng hồ mất 8 giây rưỡi khi đuôi ghe gặp mớ giấy báo vo tròn đang trôi nổi bập bềnh ấy.. Thế là tốc độ ghe đi.12 mét mất 8 giây rưỡi.và Thư có thể tính ra tốc độ mỗi giờ  bằng bài toán quy tắc tam xuất đơn giản..
Ban đêm biển mênh mông đen tối thăm thẳm đến rợn người, tầm nhìn bị hạn chế Thư đã ngắm một ánh sao chênh chếch với mũi ghe khoảng 45 độ và nói Đực cứ nhắm cái hướng khỏang 45 độ ấy mà đi với tốc độ chậm hơn ban ngày đểnếu có lạc đường thì cũng không lạc qúa xa rồi sáng mai sẽ chỉnh lại hướng đi chính xác..
Thư cho cột cái giẻ dướiđuôi ghe coi hướng gió, giẻ bay ngược chiều hay xuôi chiều, và mục đích ghe đi ngược hay xuôi chiều gió thì cứ lấy cái giẻ bay đó làm chuẩn..
Những điều này Thư đã đọc trong cuốn sách mang từ Mỹ về của anh hải quân cho, tất cả đều được Thư mang ra tận dụng thật hữu ích.
Sau 2 ngày trên biển thì gặp một tàu Thái Lan, họ chặn lại và từ tàu lớn họ xuống ghe uy hiếp mọi người lấy hết vàng bạc nữ trang nhưng không giết hay đánh đập ai. Có lẽ đây là một thương thuyền thấy ghe nhỏ vượt biên nên nổi lòng tham xông vào kiếm chác thêm. Một ông ra dáng chủ tàu lại biết nói bập bõm tiếng Anh thấy đám vượt biên nhớn nhác sợ hãi và có kẻ khóc lóc van xin đã thương cảm sao đó cho cả đám vượt biên lên tàu lớn ăn cơm với cá no nê xong mới trở lại ghe mình. Coi như mất của để  “mua” được một bữa ăn no và ngon lành.
Thư đưa ông ta xem cuốn nhật ký hải hành, ông ta khen Thư đãđi đúng hướng và chúc tiếp tục đi đến Mã Lai thành công.
Sự may mắn này hi hữu hơn cả lúc chiếc ghe chỉa cây chỉa gậy làm súng gỉa và thoát nạn lúc ở cửa biển Bình Đại Mỹ Tho.
Hai ngày sau thì ghe đến bờ biển Mã Lai vào lúc tờ mờ sáng. Mọi người trên ghe la hét reo hò mừng rỡ
Thư ra lệnh cho Đực lái tà tà dọc bờ biển và nói mọi người cứyên tâm thong thả ngắm cảnh biển đẹp, cảnh thanh bình của Mã Lai đợi tới sáng sẽlên bờ để khỏi làm phiền chủ nhà.
Sau mấy ngày đêm mệt nhoài vì ít ngủ trên ghe, giờ phút này Thư bỗng cảm thấy khỏe hẳn lên, sức mạnh tinh thần thật là mãnh liệt. Thư vui thích ngắm những hàng dừa, hàng phi lao trên bãi biễn rồi lại nhìn những đợt sóng biển đang xô lên bờ trong buổi sáng vắng người êm ả.
Cũng là sóng, cũng là biển mà Thư từng thấy như biển Vũng Tàuở Việt Nam sao hôm nay biển Mã Lai lại đẹp đến thế, lạ lùng đến thế !
Cũng là bình minh trên biển sao bình minh nơi đây lại rực rỡvà tươi vui đến thế !.
Thư mừng vui thế nhưng khi nhìn ra biển xa chẳng biết chân trời nào là hướng quê nhà Thư bỗng ngậm ngùi. Thư chỉ muốn rời bỏ chế độ chứ không muốn rời bỏ quê hương  Giờ này ở nhà chắc cha Thư, các chị em Thư đang nóng lòng lo lắng cho Thư lắm.
Thư thấy tiếc đã không có đứa em gái đi theo.
Khi trời sáng tỏ thì Đực phóng cho ghe vào sát bờ tối đa, người ta có thể cảm thấy đáy ghe đi lướt trên cát và khựng lại, mọi người rối rít lên bờ, có người sung sướng qùy xuống hôn lên mặt đất, có người quay ra biển khơi vái lậy cám ơn biển đã yên bình đưa đoàn người đến bến bờ tự do.
Thật vậy, có trải qua mấy ngày đêm trên biển khơi bao la, trên chiếc ghe nhỏ đơn sơ mới biết cái chết và sự sống gần kề mong manh thế nào.
Anh Tình đã mang theo một cái đục lớn, khi mọi người lên bờ xong anh đục cho chiếc ghe thủng đáy thủng vách vài chỗ để phòng hờ có những dân bản xứ không muốn người vượt biên đến đất nước họ đã đuổi mọi người xuống ghe ra biển trở lại đi đâu thì đi, như những tin đồn tin kể của những người vượt biên trước. Khi ghe hư hỏng không thể xử dụng được nữa thì họ phải chấp nhận dung chứa người vượt biên ở lại.
Chủ ghe Tình thật chu đáo.
Người ta xúm vào cám ơn tài công và hoa tiêu:
-        Cám ơn anh Đực nhé, anh lái ghe suốt 5 ngày đêm trên biển thật khỏe thật tài.
-        Anh Đực là tài công chuyên nghiệp có khác, nghe chủ ghe nói anh lái ghe từ hồi mười mấy tuổi phải không?
Bà đầu tiên gặp Thư bước xuống ghe đã hỏi “Ông là sĩ quan hải quân hả” . Bây giờ cũng là bà, lần này thì bà thoải mái hỏi dài dòng ::
-        Cám ơn ông hải quân thật nhiều nghe, ông cũng chuyên nghiệp không thua gì anh tài công, chỉ đường ghe đi đúng y boong. Hồi đó ông đi hải quân được mấy năm? rồi ông đi tù cải tạo mấy năm? vợ con gì chưa? Sao không thấy mang theo?...
Một người phải ngắt lời bà:
-        Bà hỏi cả chục thứ ông hải quân nghe điếc tai luôn biếtđâu mà trả lời.
Mấy người khác nhao nhao lên:
-        Phải rồi, công ông hải quân lớn lắm đó, nếu hoa tiêu dởchỉ lầm đường thì tài công cũng chịu thua thôi, xăng dầu đâu mà đi tiếp? chưa kểsóng gió bão bùng.
-        Bà nói lạ chưa? Ông ấy là dân hải quân thì phải rành đường biển chứ.
Anh Tình ra bắt tay tài công Đực xong liền bắt tay Thư với vẻ mặt tươi rói và trân trọng:
- Cám ơn ông hải quân.
Cho tới giờ này chủ ghe cũng không nhớ tên Thư, mà chỉ gọi Thư là “ông hải quân”
Thư thấy lúc này thuận tiện và thoải mái nhất để lên tiếng cải chính, nói lên sự thật:
- Anh Tình và bà con cô bác ơi, tôi không phải là hải quân.
Mọi người không tin:
- Ông hải quân giỡn hoài, tài đi biển rành rành mà.
- Ông hải quân.vui tính qúa trời.
Thư nghiêm trang và rành rọt tựkhai:
-        Tôi nói thật tình một lần nữa tôi không phải lính hải quân. Tôi là nhà giáo, dạy học ở trường Phan Thanh Giản tức trường An Cư thành phố Cần Thơ..
-        Nhưng trước khi vào nghề giáo chắc ông có đi lính hải quân ?
-        Không hề, tôi chưa là lính tráng hải quân ngày nào cả.
Mọi người bật kêu lên:
- Úy trời, thày giáo mà dám chỉ đườngđi biển hả? Thày thiệt liều mạng …
- Trời thần thiên địa ơi, nếu tôi biết ông hoa tiêu là nhà giáo thì không dám đi chuyến vượt biên này rồi.
- Nghĩa là ông thày giáo chưa từngđi biển lần nào hả ??
Thư thành thật kể:
-        Tôi chỉ đọc sách của một người bạn hải quân và đọc tài liệu đi biển trong thư viện. Thật ra tôi cũng có làm hoa tiêu một lần trong chuyến vượt biên nhưng ghe vừa khởi hành chưa ra tới biển thì bị bắt rồi.
Một bà giọng Bắc kỳ 54:
-        Ối giiời ôi, thế ra chuyến đi vượt biên này mới là “thửnghiệm” đầu tay của ông đấy hả ? Gan ông to như cái đình.
Thư cũng ví von đáp lại bà Bắc kỳ54:
-        Vâng, “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, chuyến đầu tiên tôi thực sự thử tay nghề hoa tiêu từ A đến Z đấy bác ạ.
Một người khác hào hứng:
- Biết đâu nhờ vía của ông nhà giáo hiền lành mà ghe mình gặp hên 2 lần đó, súng giả mà hù được người ta, rồi bị cướp mà còn được cướp mời lên tàu cho ăn cơm với cá..
- Hèn gì trông tướng tá ông …hơi yếu, không có vẻ con nhà lính là bao, tôi cứ tưởng tại ông đi tù cải tạo về nên ốm o gầy mòn đi chứ.
Anh Tình gạt đi:
-        Bà con cô bác ơi, chính tôi cũng không ngờ, nghe Đực giới thiệu hoa tiêu là tôi tin cậy ngay…mà thôi dù là ông thày giáo thì tài hoa tiêu của thày giáo cũng tuyệt vời, đã đưa chúng ta tới bến Mã Lai đúng như dự tính.
-        Hoan hô ông hải quân…À quên hoan hô ông thày giáo hoa tiêu
Thư rủ vài người đàn ông khác đi quanh bờ biển để tìm gặp người bản xứ Mã Lai nhờ họ báo tin cho cảnh sát.. Một bà hỏi:
-        Thày giáo ơi, gặp cảnh sát làm chi?
-        Để khai báo với họ sự hiện diện của chúng ta trên đất nước họ rồi mới được đưa tới trại tị nạn nào đó. Tất cả bà con cứ tập hợp một chỗ đừngđi đâu xa nhé.
Trên tàu họ đã răm rắp tin cậy ông hải quân thì bây giờ trên bờ biển Mã Lai họ cũng tin cậy vào ông thày giáo trẻtuổi .
Đực cũng đi theo Thư, anh chàng nói với Thư:
-        Thày giáo à, nếu khai báo gì thày khai cho em ở gần thày nhé, kể cả sau này đi định cư nước nào cho em theo thày luôn.
Mới ngày nào Đực và Thư là đôi bạn trong tù mù mịt tương lai, nay là đôi bạn trên xứ người tự do thoải mái, tương lai rộng mở phía trước. Chỉ một chuyến vượt biên có thể thay đổi cả cuộc đời.
Họ đi dọc theo bờ biển về phía vài người bản xứphía xa…
Biển bên cạnh họ, hiền hoà và thân thiện cùng với chân trời rạng ánh bình minh trên biển khơi lấp lánh tươi vui như đang chào đón họ, những người đi tìm tự do may mắn.
 
           Nguyễn Thị Thanh Dương
                  ( Tháng Tư,2014)
*Ghi thêm: Đây là câu truyện thật không chút hư cấu. Hi vọng những ai đi chung chuyến tàu vượt biên may mắn này đọc được bài này để nhớ lại kỷ niệm.
Nhân vật Thư trong thời gian tị nạn trên đảo Pulau Bidong đã dạy Anh Văn cho người tị nạn, vốn dĩ là nhà giáo tốt nghiệp đại học sư phạm nên thày giáo đã dạy học có phương pháp và hiệu qủa, lớp học luôn đông người. Khi Thư chuyển trại lên thủ đô Kuala Lumpur đợi chuyến bayđi Mỹ, ở đây 2 tháng Thư cũng dạy Anh Văn
Nhiều “học trò” không nhớ tên thày giáo đã thân mật gọi là “ông thày tóc quăn”
Cũng hi vọng những ai tị nạn trên đảo Bidong và Kuala Lumpur năm 1982 sẽ nhớ ra ông thày Anh Văn “tóc quăn” này
Còn anh tài công Đực sau đó đi Uc vì anh “rớt” phỏng vấn vào Mỹ.
Nhân vật “Ông Hải Quân” này là em của tác gỉa.
Thanh chia sẻ câu truyện này và cám ơn các bạn đã đọc.

(photo from internet)
Last Updated ( Monday, 28 April 2014 19:31 )
 

Vinh Danh Mẹ Hiền

E-mail Print

Mẹ tựa như dãy ngân hà
Như xôi nếp một, như đường mía lau...

 

Bài Ca Chiến Thắng và Nhạc sĩ Minh Duy

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Nhạc sĩ Minh Duy

Last Updated ( Thursday, 24 April 2014 16:27 )
 

HÃY ĐỢI ĐẤY - NGƯỜI LÍNH ƠI

E-mail Print
User Rating: / 11
PoorBest 

 QLVNCH Khan tang LTV

 

 

Last Updated ( Sunday, 20 April 2014 15:41 )
 

Lối Cũ Chẳng Sao Quên - Bích Huyền

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Bích Huyền

Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng...
( Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay -
Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)


Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời . K1, K2 , K3, K4...những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi...mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi...

Những khẩu hiệu:"Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5" ,"Ðảng Cộng sản Việt Nam - Người lãnh đạo tài tình", "Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm..." lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính "pháp lệnh" bằng những lời thô tục "Cấm ỉa đái" . Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải  Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ...Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa.

Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùngđất miền trung du. Cái hình ảnh "quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì..."của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. "Vườn không nhà trống tàn hoang" còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắcđiêu tàn?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam ,đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi, mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to nhưnhững chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mởtrở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu..tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọmiếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước . Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong không gian, hồi chuông ngân nga trong chiều thu lộng gió, ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:"Phải chi ngày ấy các anh khôngđi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ởmột nơi đèo heo hút gió này!" Ba người anh im lặng. Họ như muốn quênđi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước . Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội như đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũnhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ cường hào ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ...Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam . Vì nơi đâyđược tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bịCộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu "Sài Gòn giải phóng", vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm "giác ngộ" để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. "Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng”. Ðó là một lần
anh nói với tôi:"Người em không yêu làm em khổ,em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối...". Một anh khác:"Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡtan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!"

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh emđi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường…

Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từchối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:"Các bác tìm nhà ai thế?" Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ôngđang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh nhưmột chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê "Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung..." chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích:“Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người ). Tù chính trị chuyểnđi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam .”

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: "Ðược biết cô về đây bốc mộcho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡcô và các ông anh đây."

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từtốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức vềhọc vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹtrên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước , cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy...Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay  cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ởmiền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau "tập tàng"- đủ mọi loại rau hái ngoài vườn - mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thếmới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ ChỉHuy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Huy Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc là "555" anh tôi mang đến làm quà. "Ba con năm vừa nằm vừa ký", cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ "ngụy quân ngụy quyền". Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần... Hìnhảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bảnđồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thếnào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tùđẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ.Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dếbé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng...khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻngđều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an:"Ðất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!"

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứgiật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan...

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bàn bè đã dồn tất cảcho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta...tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện "học tập cải tạo".

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:"Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào." Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời nhưnổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi...

Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái sanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôiđã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông ...

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng... 
(Chuyến bốc mộ vào năm 1985)

Trích tập truyện Lối Cũ Chẳng Sao Quên
(The Trail I Never Forget)
Tác giả: Bích Huyền

 
Page 9 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account