CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

ÔNG HẢI QUÂN

E-mail Print

 

Chiếc ghe nhỏ cũ và xấu có mái che lụp xụp đang lướt đi tới một khúc sông vắng, trên đường cũng vắng hoe cô quạnh chẳng thấy bóng người qua lại, xung quanh chiếc ghe toàn là cây bần, cây dừa nước và vô số các loài cây hoang dại um tùm làm hẹp và tối cả khúc sông, những loài cây dại mà Thư không biết tên dù Thư đã có thời học đại học khoa học môn thực vật Thư đã đi tới vùng Biên Hoàđể tìm hiểu về nhiều loại cây.
Trên bờ và dưới sông đều hoang vu im ắng như nhau, có lẽ nơi này hiếm khi ai qua lại.
Anh chèo ghe là dân địa phương đã rành rẽ chọn chỗ vắng vẻnhất để cho chiếc ghe neo lại tạm trú, chiếc ghe nằm lọt trong bụi cây dại âm u.
Anh ta nói nhỏ dặn dò Thư:
-        Anh nằm trong ghe đừng ló mặt ra ngoài nghen, đợi chiều tối chúng ta ra ghe lớn.
Thư vừa đùa vừa thật:
-        Anh cứ nói to lên, dưới sông trên bờ chỉ có anh và tôi với ruồi muỗi chứ có ai nữa đâu mà phải thì thầm…
Anh chèo ghe cười lỏn lẻn:
-        Cẩn thận cho chắc ăn mà anh Hai.
Thế rồi anh chèo ghe ngồi ở cuối ghe còn Thư nằm trong lòng ghe.
Thời gian chờ đợi cho chuyến vượt biên căng thẳng hồi hộp làm sao và thời gian trôi chậm làm sao.!.
Gía mà lúc này Thư có nổi hứng thay đổi ý định muốn trở vềnhà cũng không được nữa, vì Thư chẳng biết đường nào mà về, đường sông đường bộ đều hoang vu như nơi này đã bị cuộc đời lãng quên hoặc vô danh vô thừa nhận trong bản đồ đất nước Việt Nam và nhất là anh chèo ghe rõ ràng đang canh chừng Thư như canh chừng một tên tù binh...
Thư sẽ là hoa tiêu, là nhân vật cần thiết cho chuyến vượt biên này, người ta đã ưu ái cho Thư nên canh chừng Thư là đúng rồi. Tới giờ phút này Thư mà bỏ cuộc thì người ta cũng …dí dao bắt Thư lên ghe lên tàu cho bằng được, vì tổ chức một chuyến vượt biên mất bao công phu, bao sự sắp xếp mới đến ngày ra khơi...
Đánh đổi việc Thư làm hoa tiêu,Thư không phải trả tiền mà còn có thể mang theo một hai người thân nếu muốn, Thư định dắt đứa em gái đi nhưng bố đã ngậm ngùi cản lại:
-        Tuy là người ta cho đi không, nhưng chuyện vượt biên bao nhiêu rủi ro, biết được hay thua mà vơ vào, thôi thì cứ lo cho thân con sống chết cũng đành.
Bố nói đúng, mạng Thư là “mạng cùi” thì sẵn sàng thí mạng.
Thư đến thành phố Mỹ Tho được chủ ghe sắp xếp cho ở nhà một người thân của họ, chủ nhà đưa Thư ít tiền tiêu vặt.
Hôm sau Thư ăn mặc nhưdân miệt vườn với bộ đồ cũ và đầu đội chiếc mũ tai bèo “thanh niên xung phong”cũng đã cũ bèo nhèo. Thư ra chợ Vòng Nhỏ ăn tô hủ tiếu Mỹ Tho rồi đi chuyến xe lôi ra bến phà Rạch Miểu, qua bên kia sông Thư như người khách đường xa vào ngồi quán nước để chờ người ra đón.
Người này đưa Thư xuống một chiếc ghe nhỏ chèo tay và đưa Thư đến đây. Bây giờ khoảng 2 giờ trưa, như vậy là Thư sẽ nằm chèo queo trong lòng ghe chật hẹp này thêm mấy tiếng đồng hồ nữa chờ đêm tối đến..
Thư gối tay lên đầu, mái tóc mới cắt ngắn. Chiều hôm trước ngày Thư đi Mỹ Tho chị Thái của Thư đã cắt tóc cho Thư.
Cửa tiệm cắt tóc và uốn tóc của chị Thái mở ra trước cửa nhàế ẩm khách vì chị mới đi học nghề và ra cửa tiệm nên bị hàng xóm chê tay nghề còn non. Sau 1975 chồng đi tù cải tạo chị lo học nghề may, rồi học nghề uốn tóc mà chẳng sống được với nghề nào.
Thư nghĩ nếu đi chuyến vượt biên này thành công thì sẽ giúp đỡgia đình để chị Thái đỡ vất vả hơn. Mẹ mất mấy chị em sống quây quần với nhau cùng với bố.
Chỉ trong một thời gian ngắn vài ba năm mà cuộc đời Thư đã qua bao thay đổi. Thư tốt nghiệp đại học sư phạm Sài Gòn và được bổ nhiệm về dạy học tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ năm 1974, sau 1975 trường đổi tên An Cư.
Năm 1979 Thư bị ép phải “tình nguyện” đi bộ đội. Những buổi họp tại trường người ta luôn hô hào khẩu hiệu: “Sẵn sàng đi bộ đội khi cần thiết”và gọi đích danh một số giáo viên để khuyến khích họ tình nguyện trong đó có Thư.
Các học sinh đoàn viên của trường cũng được phát động chiến dịch tình nguyện đi bộ đội.
Tình hình chiến sự đang gay gắt, quân Trung Quốc gây hấn ởmiền Bắc. Trong miền Nam  thì bộ đội sang Campuchia để “giúp đỡ” quân sự cho người dân Campuchia thoát khỏi Khờ Me Đỏ.
Hôm trường An Cư tổ chức liên hoan mừng thày trò của trường tình nguyện đi bộ đội vượt chỉ tiêu, có một nam sinh lớp 11 trong số các em học sinh đoàn viên tình nguyện đi bộ đội đợt này đã  hiên ngang ra hát giúp vui văn nghệ với bài “Hãy yên lòng mẹ ơi”. với điệu nhạc câu hát tưng bừng thúc giục như: “ …Ai…như giục lòng ta, mẹ ơi có nghe, núi sông vang dậy…”
Hát xong nó hân hoan cúi chào khán gỉa giữa tiếng vỗ tay cổvũ thì mẹ nó cầm chổi chà đứng chờ sẵn phía sau sân khấu, thằng con vừa vào là bà mẹ túm áo nó lại quật cho nó một trận chổi chà tơi bời:
-        Mẹ ơi hãy yên lòng . Nè, nè…nè….
Mỗi tiếng “nè” là bà quật chổi vào người thằng con tới tấp hơn. Bà rít lên::
-        Thằng con khờ ơi, ai biểu mày tình nguyện đi bộ đội hả?hả? Mày muốn phơi thây ở Campuchia hả? hả?.Hay mày muốn chết mất xác ở ngoài Bắc vì bọn Trung Quốc hả? hả??.
Thế mà chẳng hiểu bằng cách nào hôm thày trò lên đường đến  trại huấn luyện quân sự ở Trà  Bay huyệnThốt Nốt thằng nhỏ cũng hớn hở có mặt.
Còn Thư thì lòng dạ não nề.
Chị Thái  từ Sài Gòn đến Trà Bay  thăm Thư, chị buồn đau thương cho thằng em phải gĩa từ phấn bảng, giã từ lũ học trò. Hai chị em cùng toan tính  nếu học xong khóa huấn luyện quân sự ở Trà Bay họ đưa Thư ra miền Bắc thì chưa biết tính sao, nếu sang Campuchia thì Thư sẽ tìm đường vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan., may ra tìm được bến bờ tự do còn hơn là vào sinh ra tử cho một chủ nghĩa mà Thư cũng như những người dân miền Nam Việt Nam đều chán ghét..
Tội nghiệp chị Thái một chuyến đi buồn mà còn gặp nạn, chịmua vé xe đò từ SàiGòn đến Cần Thơ gía chợ đen gấp đôi gấp ba gía chính thức, thằng cò mồi vé dẫn chị lên xe đò và đòi tiền ngay tại chỗ thay vì chị sẽ trảcho anh lơ xe đò khi xe chạy. Thế nên chị phải trả tiền đến 2 lần cho cái vé chợ đen
May mắn cho Thư, sau khoá huấn luyện quân sự ở Trà  Bay trường An Cư đã gọi Thư về dạy học lại vì thiếu giáo viên. Thư không biết đâu là sự thật? hay là họ đã thử lòng Thư? Sau đó một thời gian trường đã đề nghị cho Thư làm hiệu trưởng một trường trung học ở Long Tuyền, cách thành phố Cần Thơ khoảng 12 km, không biết vì “thành tích” tình nguyện đi bộ đội của Thư hay vì Thư đã đạt danh hiệu giáo viên giỏi của tỉnh Hậu Giang?…
Thư không muốn nhận chức vụ này vì càng lớn chức càng nhiều ràng buộc và trách nhiệm mà mục đích của Thư là đang tìm đường vượt biên, luôn chờ thời đi vượt biên.
Thư có một bạn cùng chí hướng tên Tuấn tốt nghiệp cùng khóa đại học sư phạm, nhưng Tuấn bỏ dạy học làm nghề tự do cũng vì mục đích vượt biên. Tuấn là dân bản xứ Mỹ Tho đã đứng ra tổ chức chuyến vượt biên như rủ thêm một số bạnđồng hành, mua ghe thuyền cho đến máy móc. Toàn là “cây nhà lá vườn” kể cà tài công và hoa tiêu nên không tốn kém tiền bạc nhiều.
Thư là hoa tiêu dù nghiệp dư nhưng Tuấn tin cậy vào khả năng thông minh nhạy bén của bạn,. Thư học lóm “nghề” hoa tiêu từ một anh bạn là sĩquan hải quân đi tù cải tạo về, anh hải quân còn đưa cho Thư một cuốn sách bằng Anh Ngữ anh mang về sau chuyến sang Mỹ tu nghiệp. Với khả năng tiếng Anh Thư đã học xong ở Hội Việt Mỹ đường Mạc Đỉnh Chi Sài Gòn và nếu cần thì tra thêm tự điển thì đọc và hiểu cuốn sách này rành rọt không mấy khó khăn.
Để chắc ăn thêm Thư đã vào thư viện quốc gia ở đường Nguyễn Du Sài Gòn tìm đọc thêm những sách liên quan đến đi biển.
Thế là Thư tự tin đảm lãnh trách nhiệm làm hoa tiêu cho chuyến vượt biên “nhà nghèo”  tự biên tự diễn này..
Từ Cần Thơ mỗi lần nghỉ dạy là Thư về Sài Gòn la cà ra khu chợ trời để tìm kiếm mua la bàn và bản đồ đường biển.
Dân chợ trời khôn khéo lắm, để không bị công an nghi vấn hay chất vấn họ chỉ bày bán những la bàn bộ binh, hướng đạo sinh đi trong rừng. Thưcũng phải khôn khéo và kín đáo hỏi họ về la bàn đi biển. Thế là cả người bán lẫn người mua đều biết tâm ý của nhau tuy không ai nói ra..
Dân chợ trời sau 1975 đủ mọi thành phần thượng vàng hạ cám, người bán đã dắt Thư về nhà đưa ra những la bàn Hải quân và bản đồ đi biển. Anh ta trình độ và sành sõi hỏi Thư  đi biển đường nào thì sẽ bán bản đồ vùng ấy, vì biển mênh mông có nhiều hướng đi.rồi
  bán cho Thư la bàn, bản đồ tốt đúng như Thư đang tìm kiếm.dĩ nhiên với gía rất đắt
Chuyến vượt biên này vào năm 1981 đã  thất bại khi chưa ra tới cửa biển, cả đám vào tù ở huyện Long Đất Vũng Tàu, trong 8 tháng tù giam Thư đã quen thân với một anh tài công trẻ tuổi tên Đực nhà quê và thật thà. Đực là dân lái ghe mướn từthời mới lớn và được một chủ ghe trọng dụng làm tài công lái chuyến ghe đi vượt biên không may thất bại.
Từ trại giam ở Long Đất ra Thư thành kẻ tay trắng, không chỗdạy học, không hộ khẩu. Thư về Sài Gòn sống với gia đình, cha và các chị em cưu mang Thư, những ngày này thật hoang mang vô định và đôi khi tuyệt vọng.
Tuấn được gia đình lo cho ra tù sớm và sau đó lấy vợ, thừa hưởng nhiều tài sản ruộng vườn nhà vợ ở Mỹ Tho và  không hào hứng chuyện vượt biên như lúc còn độc thân nữa..
Lúc này qua một bạn giáo viên quen thân dạy ở Cần Thơ Thư được biết thằng học trò tình nguyện cùng đi bộ đội với Thư, cái thằng bị mẹ cầm chổi chà đánh tơi tả sau hậu trường sân khấu hôm nhà trường ăn mừng đoàn quân tình nguyện vượt chỉ tiêu đã bỏ đơn vị, đảo ngũ trốn về nhà. Chắc nó đã thức tỉnh, đã ân hận không nghe theo lời mẹ.
Thằng học trò dĩ nhiên là bị mất hộ khẩu, bị lý lịch xấu chẳng khác gì Thư. Gia đình sẽ xoay sở ra sao cho nó? lấy lại cái hộ khẩu đã khó nói làm gì tẩy xóa được cái vết đen trong bản lý lịch đời nó.
Thày và trò đều lêu bêu như nhau, tương lai đen tối nhưnhau.
Con đường sống duy nhất của Thư là Thư tiếp tục vượt biên.
Biết Thư là hoa tiêu Đực đã giới thiệu cho Thư chuyến đi này với Đực và Đực vẫn là tài công. Hai anh em sẽ cùng một chuyến tàu định mệnh, sống chết có nhau như những ngày tháng trong tù chia sẻ từng miếng cơm khô, từng con cá mặn, từng buồn vui vặt vãnh chuyện đời.
                          ****************
Khoảng 7-8 giờ tối thì tay chèo ghe bò đến chỗ Thư, lại thì thầm:
-        Ta đi nghen anh Hai.
Lần này Thư thấy hồi hộp không đùa với anh ta được nữa.
Chiếc ghe lặng lẽ tách bến sông vắng để đến điểm hẹn gặp ghe lớn.
Trên ghe lớn đã có sẵn hơn 40 “hành khách” không biết họ đã đón lên từ nơi nào, từ lúc nào..
Khi Thư vừa bước lên ghe có một bà cất tiếng hỏi ngay với lòng tin tưởng và ngưỡng mộ:
-        Ông là sĩ quan hải quân hả?
Thư đành …gật đầu vì chẳng có thì giờ đâu mà giải thích mà kểlể.trong phút giây căng thẳng và quan trọng này, mà nếu nói ra Thư là một thày giáo chắc không riêng chị đàn bà tò mò này mà biết đâu cả ghe đều hốt hoảng kinh sợ vì mạng sống của họ sẽ giao phó cho một người chỉ đứng trên bục giảng chưa hề đi biển lần nào ngoài chuyến vượt biên mới ra biển một chút đã bị tóm vào tù vừa rồi..
Anh Tình chủ ghe đến bên Thư dặn dò và một hai đều gọi Thư là“ông hải quân”. đầy tin cậy y như chị đàn bà kia.
Ghe rời sông ra cửa biển Bình Đại vào lúc 3 giờ sáng, tuy trời còn tối không nhìn thấy màu nước nhưng Thư biết vùng nước lợ chuyển tiếp giữa sông và biển nửa đục nửa trong, càng đi xa bờ nước càng xanh đậm.
Đến khi trời sáng rõ thì nhiều người trên ghe bỗng phát hiện ra có tàu đang đuổi theo, không biết đó là tàu của lính biên phòng hay tàu đánh cá của tư nhân? Nhưng dù tàu nào thì cũng là mối đe dọa nguy hiểm. Anh Tình đến bên Thư lo lắng giục gĩa:
-        Ông hải Quân, có tàu đang đuổi theo mình, cho ghe vọt nhanh đi.
Thư nhìn ra sau  thấy chiếc tàu lạ càng hiện rõ nên sau một thoáng suy nghĩ bèn quyết định:
-        Anh Tình, không kịp đâu. Anh xem trên ghe mình có mang theo bất cứ cây gậy nào thì tận dụng hết chỉa ra sau ghe gỉa làm súng ống hù dọa chúng xem? rồi tới đâu mình tính tới đó.
Tình làm y lời, và còn kêu mấy thanh niên đứng trên khoang ra vẻ thách thức, ra vẻ  như phe ta rất“ngầu”, đang có vũ khí và sẵn sàng chiến đấu.
Thế mà chiếc tàu kia rút lui thật, nó không tăng tốc độ đuổi theo nữa và khoảng cách càng lúc càng xa. Đúng là trời thương trời cứu..
Mọi người thở phào nhẹ nhỏm và suy đoán chắc chiếc tàu kia chẳng dám dấn thân vào nguy hiểm để lập công làm gì, mà bắt người vượt biên nhưbắt cóc bỏ dĩa, thua chuyến này thì họ lại đi những chuyến sau, cho tới khi nào không còn khả năng đi nữa thì mới chịu thôi.
Chiếc ghe lại tự tin vượt sóng, như một thủy thủ chuyên nghiệp Thư ghi nhật ký hải hành để theo dõi chuyến đi, Thư tính hướng cho Đực lái tàu đến Mã Lai, địa điểm càng gần thì càng rút ngắn sự hiểm nguy.
Chiếc ghe dài 12 mét, Thư đã vo tròn mớ giấy báo cho người đứngờ đầu ghe ném ra xa xa theo chiều ngang song song với mũi ghe và Thư theo dõi đồng hồ mất 8 giây rưỡi khi đuôi ghe gặp mớ giấy báo vo tròn đang trôi nổi bập bềnh ấy.. Thế là tốc độ ghe đi.12 mét mất 8 giây rưỡi.và Thư có thể tính ra tốc độ mỗi giờ  bằng bài toán quy tắc tam xuất đơn giản..
Ban đêm biển mênh mông đen tối thăm thẳm đến rợn người, tầm nhìn bị hạn chế Thư đã ngắm một ánh sao chênh chếch với mũi ghe khoảng 45 độ và nói Đực cứ nhắm cái hướng khỏang 45 độ ấy mà đi với tốc độ chậm hơn ban ngày đểnếu có lạc đường thì cũng không lạc qúa xa rồi sáng mai sẽ chỉnh lại hướng đi chính xác..
Thư cho cột cái giẻ dướiđuôi ghe coi hướng gió, giẻ bay ngược chiều hay xuôi chiều, và mục đích ghe đi ngược hay xuôi chiều gió thì cứ lấy cái giẻ bay đó làm chuẩn..
Những điều này Thư đã đọc trong cuốn sách mang từ Mỹ về của anh hải quân cho, tất cả đều được Thư mang ra tận dụng thật hữu ích.
Sau 2 ngày trên biển thì gặp một tàu Thái Lan, họ chặn lại và từ tàu lớn họ xuống ghe uy hiếp mọi người lấy hết vàng bạc nữ trang nhưng không giết hay đánh đập ai. Có lẽ đây là một thương thuyền thấy ghe nhỏ vượt biên nên nổi lòng tham xông vào kiếm chác thêm. Một ông ra dáng chủ tàu lại biết nói bập bõm tiếng Anh thấy đám vượt biên nhớn nhác sợ hãi và có kẻ khóc lóc van xin đã thương cảm sao đó cho cả đám vượt biên lên tàu lớn ăn cơm với cá no nê xong mới trở lại ghe mình. Coi như mất của để  “mua” được một bữa ăn no và ngon lành.
Thư đưa ông ta xem cuốn nhật ký hải hành, ông ta khen Thư đãđi đúng hướng và chúc tiếp tục đi đến Mã Lai thành công.
Sự may mắn này hi hữu hơn cả lúc chiếc ghe chỉa cây chỉa gậy làm súng gỉa và thoát nạn lúc ở cửa biển Bình Đại Mỹ Tho.
Hai ngày sau thì ghe đến bờ biển Mã Lai vào lúc tờ mờ sáng. Mọi người trên ghe la hét reo hò mừng rỡ
Thư ra lệnh cho Đực lái tà tà dọc bờ biển và nói mọi người cứyên tâm thong thả ngắm cảnh biển đẹp, cảnh thanh bình của Mã Lai đợi tới sáng sẽlên bờ để khỏi làm phiền chủ nhà.
Sau mấy ngày đêm mệt nhoài vì ít ngủ trên ghe, giờ phút này Thư bỗng cảm thấy khỏe hẳn lên, sức mạnh tinh thần thật là mãnh liệt. Thư vui thích ngắm những hàng dừa, hàng phi lao trên bãi biễn rồi lại nhìn những đợt sóng biển đang xô lên bờ trong buổi sáng vắng người êm ả.
Cũng là sóng, cũng là biển mà Thư từng thấy như biển Vũng Tàuở Việt Nam sao hôm nay biển Mã Lai lại đẹp đến thế, lạ lùng đến thế !
Cũng là bình minh trên biển sao bình minh nơi đây lại rực rỡvà tươi vui đến thế !.
Thư mừng vui thế nhưng khi nhìn ra biển xa chẳng biết chân trời nào là hướng quê nhà Thư bỗng ngậm ngùi. Thư chỉ muốn rời bỏ chế độ chứ không muốn rời bỏ quê hương  Giờ này ở nhà chắc cha Thư, các chị em Thư đang nóng lòng lo lắng cho Thư lắm.
Thư thấy tiếc đã không có đứa em gái đi theo.
Khi trời sáng tỏ thì Đực phóng cho ghe vào sát bờ tối đa, người ta có thể cảm thấy đáy ghe đi lướt trên cát và khựng lại, mọi người rối rít lên bờ, có người sung sướng qùy xuống hôn lên mặt đất, có người quay ra biển khơi vái lậy cám ơn biển đã yên bình đưa đoàn người đến bến bờ tự do.
Thật vậy, có trải qua mấy ngày đêm trên biển khơi bao la, trên chiếc ghe nhỏ đơn sơ mới biết cái chết và sự sống gần kề mong manh thế nào.
Anh Tình đã mang theo một cái đục lớn, khi mọi người lên bờ xong anh đục cho chiếc ghe thủng đáy thủng vách vài chỗ để phòng hờ có những dân bản xứ không muốn người vượt biên đến đất nước họ đã đuổi mọi người xuống ghe ra biển trở lại đi đâu thì đi, như những tin đồn tin kể của những người vượt biên trước. Khi ghe hư hỏng không thể xử dụng được nữa thì họ phải chấp nhận dung chứa người vượt biên ở lại.
Chủ ghe Tình thật chu đáo.
Người ta xúm vào cám ơn tài công và hoa tiêu:
-        Cám ơn anh Đực nhé, anh lái ghe suốt 5 ngày đêm trên biển thật khỏe thật tài.
-        Anh Đực là tài công chuyên nghiệp có khác, nghe chủ ghe nói anh lái ghe từ hồi mười mấy tuổi phải không?
Bà đầu tiên gặp Thư bước xuống ghe đã hỏi “Ông là sĩ quan hải quân hả” . Bây giờ cũng là bà, lần này thì bà thoải mái hỏi dài dòng ::
-        Cám ơn ông hải quân thật nhiều nghe, ông cũng chuyên nghiệp không thua gì anh tài công, chỉ đường ghe đi đúng y boong. Hồi đó ông đi hải quân được mấy năm? rồi ông đi tù cải tạo mấy năm? vợ con gì chưa? Sao không thấy mang theo?...
Một người phải ngắt lời bà:
-        Bà hỏi cả chục thứ ông hải quân nghe điếc tai luôn biếtđâu mà trả lời.
Mấy người khác nhao nhao lên:
-        Phải rồi, công ông hải quân lớn lắm đó, nếu hoa tiêu dởchỉ lầm đường thì tài công cũng chịu thua thôi, xăng dầu đâu mà đi tiếp? chưa kểsóng gió bão bùng.
-        Bà nói lạ chưa? Ông ấy là dân hải quân thì phải rành đường biển chứ.
Anh Tình ra bắt tay tài công Đực xong liền bắt tay Thư với vẻ mặt tươi rói và trân trọng:
- Cám ơn ông hải quân.
Cho tới giờ này chủ ghe cũng không nhớ tên Thư, mà chỉ gọi Thư là “ông hải quân”
Thư thấy lúc này thuận tiện và thoải mái nhất để lên tiếng cải chính, nói lên sự thật:
- Anh Tình và bà con cô bác ơi, tôi không phải là hải quân.
Mọi người không tin:
- Ông hải quân giỡn hoài, tài đi biển rành rành mà.
- Ông hải quân.vui tính qúa trời.
Thư nghiêm trang và rành rọt tựkhai:
-        Tôi nói thật tình một lần nữa tôi không phải lính hải quân. Tôi là nhà giáo, dạy học ở trường Phan Thanh Giản tức trường An Cư thành phố Cần Thơ..
-        Nhưng trước khi vào nghề giáo chắc ông có đi lính hải quân ?
-        Không hề, tôi chưa là lính tráng hải quân ngày nào cả.
Mọi người bật kêu lên:
- Úy trời, thày giáo mà dám chỉ đườngđi biển hả? Thày thiệt liều mạng …
- Trời thần thiên địa ơi, nếu tôi biết ông hoa tiêu là nhà giáo thì không dám đi chuyến vượt biên này rồi.
- Nghĩa là ông thày giáo chưa từngđi biển lần nào hả ??
Thư thành thật kể:
-        Tôi chỉ đọc sách của một người bạn hải quân và đọc tài liệu đi biển trong thư viện. Thật ra tôi cũng có làm hoa tiêu một lần trong chuyến vượt biên nhưng ghe vừa khởi hành chưa ra tới biển thì bị bắt rồi.
Một bà giọng Bắc kỳ 54:
-        Ối giiời ôi, thế ra chuyến đi vượt biên này mới là “thửnghiệm” đầu tay của ông đấy hả ? Gan ông to như cái đình.
Thư cũng ví von đáp lại bà Bắc kỳ54:
-        Vâng, “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, chuyến đầu tiên tôi thực sự thử tay nghề hoa tiêu từ A đến Z đấy bác ạ.
Một người khác hào hứng:
- Biết đâu nhờ vía của ông nhà giáo hiền lành mà ghe mình gặp hên 2 lần đó, súng giả mà hù được người ta, rồi bị cướp mà còn được cướp mời lên tàu cho ăn cơm với cá..
- Hèn gì trông tướng tá ông …hơi yếu, không có vẻ con nhà lính là bao, tôi cứ tưởng tại ông đi tù cải tạo về nên ốm o gầy mòn đi chứ.
Anh Tình gạt đi:
-        Bà con cô bác ơi, chính tôi cũng không ngờ, nghe Đực giới thiệu hoa tiêu là tôi tin cậy ngay…mà thôi dù là ông thày giáo thì tài hoa tiêu của thày giáo cũng tuyệt vời, đã đưa chúng ta tới bến Mã Lai đúng như dự tính.
-        Hoan hô ông hải quân…À quên hoan hô ông thày giáo hoa tiêu
Thư rủ vài người đàn ông khác đi quanh bờ biển để tìm gặp người bản xứ Mã Lai nhờ họ báo tin cho cảnh sát.. Một bà hỏi:
-        Thày giáo ơi, gặp cảnh sát làm chi?
-        Để khai báo với họ sự hiện diện của chúng ta trên đất nước họ rồi mới được đưa tới trại tị nạn nào đó. Tất cả bà con cứ tập hợp một chỗ đừngđi đâu xa nhé.
Trên tàu họ đã răm rắp tin cậy ông hải quân thì bây giờ trên bờ biển Mã Lai họ cũng tin cậy vào ông thày giáo trẻtuổi .
Đực cũng đi theo Thư, anh chàng nói với Thư:
-        Thày giáo à, nếu khai báo gì thày khai cho em ở gần thày nhé, kể cả sau này đi định cư nước nào cho em theo thày luôn.
Mới ngày nào Đực và Thư là đôi bạn trong tù mù mịt tương lai, nay là đôi bạn trên xứ người tự do thoải mái, tương lai rộng mở phía trước. Chỉ một chuyến vượt biên có thể thay đổi cả cuộc đời.
Họ đi dọc theo bờ biển về phía vài người bản xứphía xa…
Biển bên cạnh họ, hiền hoà và thân thiện cùng với chân trời rạng ánh bình minh trên biển khơi lấp lánh tươi vui như đang chào đón họ, những người đi tìm tự do may mắn.
 
           Nguyễn Thị Thanh Dương
                  ( Tháng Tư,2014)
*Ghi thêm: Đây là câu truyện thật không chút hư cấu. Hi vọng những ai đi chung chuyến tàu vượt biên may mắn này đọc được bài này để nhớ lại kỷ niệm.
Nhân vật Thư trong thời gian tị nạn trên đảo Pulau Bidong đã dạy Anh Văn cho người tị nạn, vốn dĩ là nhà giáo tốt nghiệp đại học sư phạm nên thày giáo đã dạy học có phương pháp và hiệu qủa, lớp học luôn đông người. Khi Thư chuyển trại lên thủ đô Kuala Lumpur đợi chuyến bayđi Mỹ, ở đây 2 tháng Thư cũng dạy Anh Văn
Nhiều “học trò” không nhớ tên thày giáo đã thân mật gọi là “ông thày tóc quăn”
Cũng hi vọng những ai tị nạn trên đảo Bidong và Kuala Lumpur năm 1982 sẽ nhớ ra ông thày Anh Văn “tóc quăn” này
Còn anh tài công Đực sau đó đi Uc vì anh “rớt” phỏng vấn vào Mỹ.
Nhân vật “Ông Hải Quân” này là em của tác gỉa.
Thanh chia sẻ câu truyện này và cám ơn các bạn đã đọc.

(photo from internet)
Last Updated ( Monday, 28 April 2014 19:31 )
 

Vinh Danh Mẹ Hiền

E-mail Print

Mẹ tựa như dãy ngân hà
Như xôi nếp một, như đường mía lau...

 

Bài Ca Chiến Thắng và Nhạc sĩ Minh Duy

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Nhạc sĩ Minh Duy

Last Updated ( Thursday, 24 April 2014 16:27 )
 

HÃY ĐỢI ĐẤY - NGƯỜI LÍNH ƠI

E-mail Print
User Rating: / 11
PoorBest 

 QLVNCH Khan tang LTV

 

 

Last Updated ( Sunday, 20 April 2014 15:41 )
 

Lối Cũ Chẳng Sao Quên - Bích Huyền

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Bích Huyền

Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng...
( Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay -
Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)


Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời . K1, K2 , K3, K4...những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi...mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi...

Những khẩu hiệu:"Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5" ,"Ðảng Cộng sản Việt Nam - Người lãnh đạo tài tình", "Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm..." lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính "pháp lệnh" bằng những lời thô tục "Cấm ỉa đái" . Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải  Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ...Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa.

Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùngđất miền trung du. Cái hình ảnh "quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì..."của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. "Vườn không nhà trống tàn hoang" còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắcđiêu tàn?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam ,đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi, mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to nhưnhững chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mởtrở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu..tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọmiếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước . Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong không gian, hồi chuông ngân nga trong chiều thu lộng gió, ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:"Phải chi ngày ấy các anh khôngđi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ởmột nơi đèo heo hút gió này!" Ba người anh im lặng. Họ như muốn quênđi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước . Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội như đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũnhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ cường hào ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ...Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam . Vì nơi đâyđược tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bịCộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu "Sài Gòn giải phóng", vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm "giác ngộ" để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. "Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng”. Ðó là một lần
anh nói với tôi:"Người em không yêu làm em khổ,em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối...". Một anh khác:"Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡtan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!"

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh emđi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường…

Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từchối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:"Các bác tìm nhà ai thế?" Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ôngđang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh nhưmột chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê "Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung..." chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích:“Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người ). Tù chính trị chuyểnđi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam .”

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: "Ðược biết cô về đây bốc mộcho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡcô và các ông anh đây."

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từtốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức vềhọc vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹtrên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước , cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy...Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay  cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ởmiền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau "tập tàng"- đủ mọi loại rau hái ngoài vườn - mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thếmới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ ChỉHuy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Huy Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc là "555" anh tôi mang đến làm quà. "Ba con năm vừa nằm vừa ký", cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ "ngụy quân ngụy quyền". Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần... Hìnhảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bảnđồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thếnào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tùđẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ.Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dếbé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng...khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻngđều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an:"Ðất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!"

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứgiật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan...

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bàn bè đã dồn tất cảcho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta...tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện "học tập cải tạo".

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:"Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào." Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời nhưnổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi...

Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái sanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôiđã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông ...

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng... 
(Chuyến bốc mộ vào năm 1985)

Trích tập truyện Lối Cũ Chẳng Sao Quên
(The Trail I Never Forget)
Tác giả: Bích Huyền

 

Tháng Tư Bi Thương - Trần Khải

E-mail Print

alt

Như thế là gần 40 năm... Những ngày của tháng 3 và  tháng 4 trong năm 1975 vẫn hằn trong trí nhớ nhiều triệu người, vì các  hình ảnh trải qua thực rất khó phai mờ -- nơi đó, một Ban Mê Thuộc bị Cộng quân tấn công trước tiên, đúng vào ngày 10 tháng 3-1975, và rôì  thời gian ngắn sau, Quân Đoàn 2 di tản ra khỏi Pleiku, dẫn tới những  cuộc di tản dây chuyền.

Có vẻ như tiền định? Hay tình cờ? Hay sắp xếp từ những  huyền bí thiên cơ bất khả lậu? Thực ra, mọi chuyện đơn giản hơn. Miền  Nam không có viện trợ nữa, súng đạn và tiếp liệu co cụm dần, trong khi  lệnh Tổng Động Viên ban ra thực hiện từ 1972, tức là từ Mùa Hè Đỏ Lửa... để chuẩn bị tăng lực cho quân đội VNCH trong khi quân lực Mỹ từ từ rút  về trưóc áp lực chủ hòa của Quốc Hội Mỹ và dư luận Mỹ.

Khi Hoa Kỳ bắt tay với Trung Quốc, thế giới và cả toàn  dân Hoa Kỳ nhìn thấy Cuộc Chiến VN không cần thiết nữa, vì lý thuyết  domino không đứng vững nữa, và do vậy Cuộc Chiến VN trở thành một cuộc  nội chiến, đơn giản như thế, chứ không còn là cuộc chiến nơi tuyến đầu  của hai thế giới tự do và cộng sản.

Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng Thống Mỹ Richard Nixon, đã bí mật bay tới Bắc Kinh từ Pakistan, và chuyến đi  này kéo dài từ ngày 9 tới ngày 11 tháng 7-1971. Chuyến đi này dọn đường  cho Nixon sang thăm Bắc Kinh vào tháng 2-1972.

Như thế, khi căng thẳng giữa các anh lớn tự do và cộng  sản lắng dịu xuống, dân Mỹ thấy rằng hy sinh của chiến binh Mỹ ở VN đã đủ rồi, và chính phủ Sài Gòn đã thấy cần phải tự lực từ giây phút này.

Trong khi Nixon tới Bắc Kinh, không chỉ Sài Gòn lo  ngại, mà cả Đài Loan cũng cảnh giác vì không hiểu rằng TT Nixon sẽ tặng  món quà nào trong ván cờ Châu Á cho Bắc Kinh.

Nhưng phải tới một năm sau, đơn vị quân sự Hoa Kỳ cuối  cùng rời khỏi Việt Nam, lúc đó là ngày 29-3-1973, theo Encyclopỉdia  Britannica.

Thời điểm này được các sử gia gọi là Cuộc Chiến VN chuyển sang thời kỳ “cuộc chiến hậu chiến” (“postwar war”). Nghĩa là, đối với Hoa Kỳ, không  còn Cuộc Chiến VN nữa. Tình hình này xảy ra một năm sau khi Nixon thăm  Bắc Kinh.

Nixon cam kết là sẽ vẫn giữ viện trợ quân sự cho VNCH,  nhưng cú tai tiếng Wategate đã làm ông bó tay, khi Quốc Hội Mỹ quyết định ngăn cản bất kỳ hành vi quân sự nào khác của Mỹ tại VN. Nghĩa là,  khi đơn vị quân lực cuối cùng của Mỹ đã rời VN (ngày 29-3-1975), Quốc  Hội Mỹ muốn xoa tay và nói, thế là xong.

Chính thức, vào mùa hè 1973, Quốc Hội Mỹ thông qua  quyết định ngăn cấm bất kỳ hoạt động quân sự nào của Mỹ trên lãnh thổ toàn vùng Đông Dương (Indochina) sau ngày 15-8-1973. Nghĩa là, trên toàn vùng Đông Dương, chứ không chỉ VN.

Sau đó là chuyện của hoàn toàn Việt Nam, hàng trăm  người Việt chết mỗi ngày vì các trận đánh bất tận để giành đất của cộng  sản và quốc gia. Vào mùa hè 1974, Nixon xin rời chức vụ Tổng Thống, Quốc Hội Mỹ trước đó đã cắt viện trợ quân sự và kinh tế cho VN tới 30%.

Chế độ Lon Nol ở Cam Bốt thấy rõ là sắp thảm bại.

Khi tỉnh Phước Long, phía đông bắc Sài Gòn, bị Cộng quân chiếm, sau các  trận đánh trong tháng 12-1974 và tháng 1-1975, Hà Nôị tin là chiến thắng sắp tới.

Tổng Thống Gerald R. Ford, người kế vị Nixon, xin Quốc  hội Mỹ tăng viện trợ cho VN... nhưng vô ích.Quốc Hội và dân Mỹ không  muốn liên hệ tới “cuộc chiến hậu chiến” tại Việt Nam.

Ngày 21-4-1975, TT Nguyễn Văn Thiệu thoái vị, bay sang Đaì Loan. Và lặng lẽ, trong ccá ngày kế tiếp, nhiều quan chức cũng di  tản ra đi.

Thực ra, mầm thất trận đã thấy từ tháng 3-1975 rồi, khi hàng loạt đơn vị tan rã, di tản và lũ lượt xuôi về Nam; không cách nào tái phối trí để tác chiến nữa, khi tất cả các chiến binh VNCH đã bị tước súng ngay khi  vào cửa Vũng Tàu. Hoàn toàn không có quân viện nào khác, dù là trang  phục hay súng đạn để phối trí nữa.

Ngày 30-4-1975, chính phủ ông Dương Văn Minh tuyên bố buông súng toàn Miền Nam.

Nhìn lại các con số viện trợ, cũng thấy hướng diễn tiến này. Tự điển Bách khoa Wikipedia kể lại:

“Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng nhất là sau khi Richard Nixon  từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm 1974.

Sự cắt giảm viện trợ từ Hoa Kỳ

Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa đã cắt giảm nhiều:

Tài khóa 1973: 2,1 tỷ USD

Tài khóa 1974: 1,4 tỷ USD

Tài khóa 1975: 0,7 tỷ USD

Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng trưởng kế hoạch và phát triển Việt Nam  Cộng Hòa lúc bấy giờ, thì Giáo sư Warren Nutter là cựu Phụ tá Tổng  trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình "Việt Nam  hóa". Khi dự điểm tâm với Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu  vào sáng ngày 23 tháng Tám năm 1974 tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ:

- Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700  triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la  và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo

Giáo sư Nutter cũng rất bối rối và giải thích hành động của Quốc hội:

- Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tài Nguyên Đông Dương (Indochina Resource Center, 1 trung tâm của những người phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc

Sau này, trong tập hồi ký Mùa Xuân Đại Thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã viết về động cơ thúc đẩy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam  Việt Nam mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ làm  cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn không thể thực hiện theo như ý muốn. Đó là vì "hỏa lực đã sút giảm gần 60% vì  thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe  cộ, và nhiên liệu."...”(hết trích)

Nhà nghiên cứu quân sử Vương Hồng Anh, trong bài viết  tưạ đề “Đại Tướng Cao Văn Viên Kể Lại Chiến Sự 1975: Chương Trình Việt  Nam Hóa Của Tổng Thống Nixon” trên Việt Báo ngày 26/01/2002 đã kể lại  ghi nhận của Đại Tướng Viên:

“Sau đây là tình hình hoạt động của Không quân VNCH  trong giai đoạn cuối của kế hoạch "Việt Nam hóa" do Tổng thống Nixon đề ra. Phần này được biên soạn dựa theo Hồi ký của Đại tướng Cao Văn Viên  do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản.

* Những khó khăn của Không quân VNCH từ 1973 đến 1975

- Ngưng hoạt động hơn 200 phi cơ, trong đó có các phi cơ ném bom A-1, phi cơ thám thính 0-1 và các loại phi cơ vận tải loại C-7, C-119, và C-47.  Chấm dứt việc thay thế F 5A bằng F-5E. 36 chiếc được đặt mua nay phải  giao lại cho Không quân Hoa Kỳ, và số tiền hoàn trả chỉ dùng vào công  việc bảo trì và hoạt động của các phi cơ hiện hữu.

- 400 sinh viên sĩ quan phi công đang thụ huấn tại Hoa  Kỳ phải bỏ ngang khóa học trở về nước. Hơn 1,000 khóa sinh Không quân  vừa phi hành vừa không phi hành đang theo học đang theo học các khóa Anh ngữ để chuẩn bị đi học chuyên môn phải chuyển sang học Bộ binh tác  chiến. Điều này tạo một ảnh hưởng tâm lý tai hại cho Không quân Việt  Nam.

- Cắt bớt số giờ bay cho các phi vụ huấn luyện và yểm  trợ mà trong đó các phi vụ yểm trợ bị cắt xuống còn một nửa so với mức độ của hai năm 1973-1974, các phi vụ thám thính bị cắt 58% Như vậy vấn đề phát giác và theo dõi các cuộc chuyển quân của địch bị trở ngại và  công tác bảo vệ đoàn tiếp tế cũng bị hạn chế rất nhiều. Trực thăng vận  bị cắt giảm 70%. Điều này làm ảnh hưởng nặng nề trong công tác tải  thương hay đổ quân tăng cường và tiếp tế, nhất là trong khu vực đồng  bằng sông Cửu Long với hệ thống kênh đào chằng chịt như bái quái trận đồ. Nơi đây nhờ chiến thuật trực thăng vận mà rất nhiều binh sĩ bị thương được kịp thời cứu sống và nhiều đồn bị vây hãm được giải tỏa kịp thời. Nay thiếu vắng các trực thăng này buộc Quân đội phải dùng đến  thuyền tam bản và ghe để tải thương, việc tiếp tế đạn dược trở nên vô  cùng khó khăn. Thêm vào đó, vấn đề tâm lý rất khó nguôi.

Các chuyến chuyên chở bằng đường hàng không cũng bị cắt một nửa. Sự kiện này có ảnh hưởng nặng đến khả năng di quân của các đơn vị Tổng trừ bị. Vì Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến là hai lực lượng tổng trừ bị nên cần phải có mặt tại bất cứ nơi nào cần đến trên toàn lãnh  thổ, do đó khả năng cơ động của hai lực lượng này vô cùng quan trọng.  Suốt trong năm 1972, khi Cộng quân tấn công, Sư đoàn Nhảy Dù phải di  chuyển từ Sài Gòn lên Pleiku rồi từ Pleiku ra Vùng 1 chỉ trong vòng 48  giờ. Việc di chuyển này vẫn do phi cơ của chính phủ hay của Hoa Kỳ nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến các hoạt động không vận khác. Thế nhưng qua năm 1975 cũng với hoạt động như vậy thì phải mất 7 ngày và phải cắt bớt các chuyến bay khác để lấy phi cơ chuyển quân. Các loại phi cơ C-130A là  phương tiện không vận chính, đã phải thi hành một số phi vụ ném bom vào  các tháng đầu năm 1975. Nhưng vì yếu tố kỹ thuật cũng như cánh phi cơ nứt, bình xăng rỉ cộng với sự cắt giảm các chuyến bay nên mỗi ngày chỉ có 8 trong 32 chiếc C-130 A được sử dụng...”(hết trích)

Mọi chuyện rất đơn giản, về phía VNCH: không còn đủ tiếp liệu để tác chiến nữa.

Và đất nước chuyển qua một trang sử mới, u ám và bi thương, từ các trại tù cải tạo khổng lồ khắp các nơi, cho tới những cuộc ra đi, liều thân vượt biển..
TRẦN KHẢI
13/4/2014

 

Last Updated ( Monday, 28 April 2014 19:23 )
 

Tháng Tư Lại Về !!!

E-mail Print

File:Saigon-hubert-van-es.jpg

Hồi Ký Vương  Mộng Long K20
________________________________
Ghi chú: BĐQ Vương Mộng Long, tốt nghiệp  Khóa  20/TVBQGVN.  Trong suốt thời gian binh nghiệp, ông phục vụ tại  Vùng II qua các  Tiểu Đoàn BĐQ sau đây: TĐ 11, 4 Mike Force, TĐ 81, và TĐ 82.  Cấp bậc và chức vụ  sau cùng: Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 82/BĐQ.  Sau 30/4/1975, Cộng Sản VN đã  giam giữ ông từ 1975 tới  1988  qua các trại cải tạo, từ nam ra bắc (13 năm).   Hiện ông và  gia đình, vợ 4 con, đang sinh sống tại Seattle, WA.   Năm 2003, ông  tốt nghiệp University Of Washington với cấp bằng B.A. Social  Science &  Communication
Trích từ Nguoi Viet  Online 01/10/2007:


"Cái đáng nói nhất, đó là nhờ Sư Đoàn  18 BB và các đơn vị tăng phái  cho Mặt Trận Xuân Lộc Tháng Tư 1975 như Lữ  Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 82 BĐQ, SĐ3 và 4 KQ... nên QLVNCH đã cầm chân  được Cộng Sản Bắc Việt gần 2 tuần lễ.  Nhờ vậy đã giúp cho một số lớn người  Việt  Nam hậu phương, có cơ hội ‘di tản’ ra nước ngoài để đổi đời."

Mường Giang


________________________________

Bây giờ là tháng Tư, trong ký ức tôi những kỷ niệm 30 năm trước lại   hiện về, rõ mồn một như thể là nó mới xảy ra ngày hôm qua, hôm kia.


Bây giờ là  tháng Tư, tôi lại nhớ đến trận đánh oai  hùng cuối cùng của QLVNCH, trận  Xuân-Lộc!  Tôi bùi ngùi hồi tưởng  những vinh quang nhận được từ chiến thắng để  đời này, cùng những tủi nhục  nhận lãnh trong những ngày đen tối tiếp theo sau  đó, khi quê hương nát  tan.  Những dòng này viết lên để tưởng niệm những thuộc  cấp của tôi đã ngủ yên giấc tháng Tư, bên con suối Rét (Xuân-Lộc), trên một ngọn  đồi  không tên ở Long-Thành, và trong đường phố Hố-Nai (Biên-Hòa).


Đầu tháng Tư năm 1975, Quân đoàn 2 không còn nữa.  Vì liên đoàn  trưởng  và liên đoàn phó vắng mặt, nên tôi được chỉ định nhận nhiệm vụ chỉ huy và hướng  dẫn Liên đoàn 24/ Biệt Động Quân từ Quảng-Đức tìm đường  ra
biển để bắt tay với  quân bạn.  Khi liên đoàn được trực thăng vận về Phan-Thiết thì Tiểu đoàn 82 BĐQ  được đưa thẳng  về sân bay Long-Khánh đặt thuộc quyền xử dụng của BTL/ SĐ 18 BB.   Tại đây, suốt 10 ngày đêm ròng rã, Tiểu đoàn 82/ BĐQ đã tả xung hữu đột chặn  đứng mọi mũi tiến công dũng mãnh của lực lượng xe tank Cộng-Sản Bắc-Việt  nhắm  vào sân bay Xuân-Lộc và Tòa Hành Chánh Long-Khánh vùng đông nam thành  phố.  Với  tôi, trận Long-Khánh là một trận đánh "để đời" cho những  tay cầm quân chuyên  nghiệp.


Ngày xưa tôi rất mê  Rommel, tôi đã tìm đọc nhiều sách viết về "Con Cáo  Sa Mạc" này, và tôi mơ tưởng có ngày được đánh những trận thần sầu như Rommel đã  làm.  Ngày đầu đặt chân xuống phi trường Long-Khánh (6/4/1975) tôi thật  khó mà  tưởng tượng ra rằng tại nơi này mình lại có dịp tham dự vào một  trận đánh long  trời lở đất vài ngày sau đó.  Trận Xuân-Lộc là lần đầu  trong đời lính, tôi được  thỏa mãn ước vọng đọ sức so tài với một địch thủ nặng cân hơn về vũ khí, đồ sộ  hơn về quân số.  Địch đông gấp ba, bốn  lần quân bạn, được T54 trang bị đại bác  100 ly dẫn đường.  Pháo yểm  của CSBV gồm đủ loại hạng nặng: đại bác 130 ly, 122  ly nòng dài, 105 ly,  75 ly sơn pháo, cối 120 ly, cối 82 ly, và phòng không 37  ly.  Thậm  chí trong ba ngày đầu địch dùng cả phòng không 37 ly bắn  trực xạ vào  trại 181 Pháo Binh/ SĐ18BB, nơi tôi đặt bản doanh BCH Tiểu đoàn 82 BĐQ.  Ấy vậy  mà đoàn quân hung hăng của  "Con Cháu Bác" không làm cách nào vượt nổi khúc xương  khó nuốt là cái trại  181 PB bé tí teo để xông thẳng vào tòa Hành Chánh tỉnh, nơi  ông Đại tá BĐQ  Phạm văn Phúc (K10VB) tỉnh trưởng, đang trợn tròn con mắt theo  dõi tên đàn  em về từ Pleime chơi trò ú tim với xe tank CSBV.


Rạng đông 9/4/1975 chiến trận bắt đầu bùng nổ.  Chiến trường mịt mù  dưới đất, tóe lửa trên trời.  Những cánh F5 thét gào, lên, xuống, thả hết đợt  bom này tới đợt bom khác lên đầu địch.  Đáp lại, địch cũng trả  đòn bằng những  chùm 37 ly phòng không nở hoa trên mây.  Những chiếc  Khủng Long AC 119 bao vùng  cả ngày lẫn đêm, những họng đại bác 20 ly gầm  rú từng hồi.  Súng nổ như bắp rang  khắp nơi trong  thành phố, ngoài vòng đai.  Đủ loại đại bác thét gầm; đạn xé gió  ào  ào tới tấp tưới trên mục tiêu của cả hai phía.  Những đám cháy không  người  chữa, lửa càng lúc càng cao, thần hỏa tự do tung hoành.  Máy  truyền tin ơi ới  gọi nhau.  Những thân hình ngã xuống, những tiếng hô  xung phong nghe rợn tóc  gáy.  Những chiếc T54 hung hãn khạc đạn không ngừng, những cái lô cốt ngả  nghiêng vì trúng đạn đại bác 100 ly của xe tank địch.  Trong những ngày đầu  tháng Tư Long-Khánh, một góc địa cầu đã rung rinh vì bom đạn!
Khi  chiếc PT 76 vướng vào cuộn kẽm gai vòng nơi góc rào tây bắc của  trại 181  Pháo Binh Sư Đoàn 18 thì cũng là lần đầu đoàn quân xâm lăng khựng lại  hoảng hồn bởi những tiếng hô, "Biệt Động! Sát! " ... "Biệt Động! Sát!"  Chiếc xe  tank đầu tiên lãnh một quả M72.  Chiếc PT  76 xấu số cháy bùng.  Những tên bộ đội  Cộng-Sản tùng thiết rút lui  trối chết về hướng rừng lau.  Chúng tôi đã ra mặt  đương đầu với đoàn  chiến xa CSBV ngay từ giờ đầu súng nổ.  Nơi góc đông nam thị  xã,  những người xâm lăng đã biết chúng tôi là Biệt Động Quân.


"Biệt Động! Sát!" , "Biệt Động! Sát!" tiếng hô vang dậy một góc  trời.  Biệt Động Quân đang có mặt nơi đây!
Săn đánh  xe tank là cả một nghệ thuật, nó còn là một cái thú nữa, cái  thú vui chết  người!  Hơ hỏng một chút thôi là mất mạng như chơi.  Trong số 12   BĐQ Pleime tử trận ở Long Khánh tháng 4/1975 đã có 7 người  chết trong khi săn  đuổi xe tank CSBV.  Mỗi chiến cụ, mỗi vũ khí đều  có chỗ yếu của nó.  Cái bộ phận  phun khói của xe tank là cái "gót  chân Achilles" của xe tank CSBV.  Tất cả những  chiếc tank địch bị TĐ82 BĐQ tiêu diệt trong trận Xuân-Lộc đều bị bắn từ phía sau  đuôi, nơi  phun khói.


Đánh tank cũng có qui luật.  Việc đầu  tiên là "tỉa" tên xạ thủ 12,8  ly, nó là tai mắt của chiếc tank, nó có một  chân trái hoặc phải bị khóa vào dây  xích trên ghế phòng không.  Việc  thứ nhì là "bung" một trái lựu đạn khói hoặc  lân tinh làm màn chắn che mắt  cái tank bạn của nó ở cách nó không xa, cây phòng  không trên chiếc tank  thứ nhì là tử thần gọi chết.  Việc thứ ba thật là giản  dị,  cứ đứng xổng lưng bóp cò cây M72 nhắm ngay phần phun khói sau đít cái  tank mục  tiêu, đây là phần mỏng nhất, dễ bắn thủng nhất của chiến  xa.  Một tiếng "bùm! "  rồi tiếp sau đó là xăng và đạn trong xe cháy  nổ "lóc! tóc!... ùm! ùm! " ngọn lửa  dâng cao, khói dâng cao.  Xong!


Mỗi lần một chiếc PT 76 hay T 54 bị bắn cháy, cột khói  chưa lên cao  khỏi ngọn cây thì người Anh Cả của chiến trường đã có mặt  trên vùng.
-Tiên Giao đây Hằng Minh gọi!
- Hằng  Minh, Tiên Giao nghe!
- Come  on!  Gắng lên nghe em!  Đánh cho nó tà đầu hết cục cựa!  Okay?
- Vâng, tôi nghe 5, đánh cho nó tà đầu hết cục  cựa!
- Okay!  You're a man!  Don't let 'em run  away!  Okay?
- Vâng, không cho nó ôm đầu mà chạy!
- Kill 'em!  Kill  'em!  Okay!
- Vâng!  Đây là cái tank thứ (2)  (3)... đó nghe Hằng Minh!  Nó vào cái  nào, tôi hạ cái nấy nhé!
- Okay!  I like the way you fight!
- Vâng, tôi nghe rõ 5!
- You're great! You're  excellent!
Sau khi thị sát trận địa và khích lệ tinh thần  tôi, người Anh Cả bay  sang mặt trận hướng Tây thị xã.  Trên đường  bay, ông liên tục đối thoại với vị  chỉ huy trưởng phòng thủ Xuân-Lộc, Đại  tá Trung đoàn trưởng Tr/Đ 43/ SĐ18 BB Lê  xuân Hiếu (K10) cũng bằng ngôn  ngữ nửa Việt nửa Mỹ.  Người Anh Cả của mặt trận  này là Thiếu tướng Lê  Minh Đảo (K10) Tư lệnh Sư đoàn 18 BB.  Ông lấy danh hiệu  đàm thoại là  Hằng Minh, tên người em ruột của ông.  Trung tá Lê Hằng Minh là  người hùng TQLC Tiểu đoàn trưởng TĐ2/ Trâu Điên năm xưa đã tử trận trên chiến  trường Thừa-Thiên.  Tiên Giao là tên đứa con gái út  của tôi, danh xưng truyền  tin tôi chọn cho mình trong trận đánh này.   Ngày qua ngày, pháo địch như mưa, T  54 có bộ binh tùng thiết, từng đợt,  từng đợt ào ạt xung phong vào vòng đai phòng  thủ thị xã.  Nhưng những tổ chống tank ba người của TĐ 82/ BĐQ ẩn hiện như ma   trơi, sau ô mối, sau gốc xoài, trong bụi chuối, cứ từ từ rang hết con cua T  54  này đến con cua T 54 khác.  Tiểu đoàn tôi đánh vùi với chiến xa địch cả tuần lễ  không biết mệt.  Toán diệt tank này bị loại, toán  khác lên thay.  Có cả một  giang sơn hướng đông nam thị xã cho chúng  tôi mặc sức tung hoành!  Chúng tôi đã  làm cho địch tổn hại nặng nề.  Chúng tôi đã đánh cho chúng nó "tà đầu" như ý  của  Thiếu Tướng Tư Lệnh mặt trận.  Một ngày giữa tháng Tư năm 1975,  ngoài vòng đai  phòng thủ, một chiếc T 54 chạy lạc loài.  Cái ống khói  của nó lãnh trọn một quả  M 72 từ toán diệt tank của Đại Đội 1/ TĐ82  BĐQ.  Anh binh nhì Phan Thọ trong  toán hộ tống  của TĐT82BĐQ cùng với anh phóng viên nhà báo lao vụt về hướng súng   nổ.  Ít phút sau tôi nghe choang choác, tiếng phòng không 12,8 ly nổ dòn  ngoài  xa.  Trong máy PRC 25 tiếng Th/úy Học, ĐĐT1/82 BĐQ báo cáo,  thằng Thọ bị thương  nặng, xin tản thương.  Thì ra anh B2 Thọ gan dạ này thấy chiếc T 54 đã nằm bất  động, anh leo lên gỡ khẩu phòng không đem về cho thầy.  Không ngờ còn một chiếc   chiến xa T 54 khác nằm ẩn trong bụi lau cách đó không xa; thấy anh đứng  nghênh  ngang sau pháo tháp, nó quạt cho anh một tràng 12,8 ly.  Anh  rơi xuống đất như  con chim bị ná.  Ruột anh đổ ra lòng thòng, máu  tuôn như suối.  Anh phóng viên  và một người lính trong toán diệt tank  khiêng Thọ về sân bay.  Sĩ Quan Trợ Y  Tiểu đoàn phải dùng cả một tấm  băng lá to bằng hai bàn tay xòe để che cho ruột  của  Thọ khỏi phòi ra.


Mặt Thọ tái xanh, môi run run,
- Thiếu tá đừng la em nhé!  Em thấy cây súng dễ ăn  quá, không ngờ tụi  nó bắn lén em!
Tôi an ủi Thọ,
- Ừ Thiếu tá không la em đâu, nằm im đó chờ xe.   Hoàng Long sẽ đem em  đi tản thương!
Hoàng Long là  danh xưng của Đại úy Ngũ văn Hoàn, Tiểu đoàn phó TĐ 82/   BĐQ.


Tôi một mặt lo xin pháo binh trong vòng đai trực xạ vào vị trí chiếc  xe tank còn lại, một mặt điều động ĐĐ1 TĐ1 Trung đoàn 43  BB đánh bọc bên phải  tiếp tay cho Thiếu úy Học ĐĐ1/82 có thì giờ dùng kẽm  gai concertina quây quanh  chiếc xe mới bị bắn cháy.  Chỉ có  concertina mới ngăn cản hữu hiệu được bước  tiến của chiến xa địch.   Con đường độc nhất để tiến quân bằng xe tank của địch  nhắm vào sân bay  Long-Khánh đã bị đan chằng đan chịt kẽm gai vòng.  Chiếc tank  mới bị cháy nằm hơi xa ngoài hàng rào và nó là chiếc T54 thứ tư bị sơn lên pháo   tháp dòng chữ "Tiểu đoàn 82/ BĐQ diệt tank".  Năm 1981 tại trại Cải Tạo Z30 C  Hàm-Tân, có một Thiếu úy thuộc LĐ 81/ BCND tên  là Nguyễn văn Vinh tìm gặp tôi.   Anh nói, "Tháng 5/1975 em bị nhốt ở Long-Khánh, em ở trong toán tù binh bị bắt  đi chùi  những chữ 'Tiểu đoàn 82 BĐQ diệt tank' viết trên bốn cái tank T54 và một   cái lội nước PT 76 ở bìa rào phòng thủ Xuân-Lộc.  Công nhận tiểu đoàn anh đánh  tank tuyệt quá!"


Chiếc xe tản thương của Trung đoàn 43 BB đã đưa B2 Phan Thọ về ngã ba  Tân-Phong, tháp tùng có Đại úy  Hoàn, anh phóng viên nhà báo và một anh y tá  BĐQ.  Khi quay trở về vị trí phòng thủ, ông Đại úy Tiểu đoàn phó kể lại chuyện  dưới đây.  Xe  tới BTL/ SĐ18/ HQ thì Thọ rất mệt vì máu ra đã nhiều, anh xuống xe  ngồi  dựa lưng vào một gốc xoài.  Ông Đ/úy Hoàn đi tìm Sĩ quan Quân Y Sư đoàn để  xin tải thương.  Bất ngờ Tướng Tư Lệnh từ trong lều bước ra, thấy Thọ, ông hỏi,
-Em là lính của  ai?  Bệnh gì?  Muốn về Sài-Gòn hả?
Thọ im lặng  mở tấm băng lá cho Tư Lệnh thấy vết thương của mình.  Bất  ngờ, bộ ruột của anh trào ra khỏi miệng vết thương; máu anh tuôn xối xả.
Anh y tá vội thưa,
- Trình Thiếu  tướng, anh này là lính TĐ 82 BĐQ , ảnh bị phòng không  bắn khi đang gỡ khẩu  12,8 ly trên cái chiến xa vừa bị bắn cháy. Thiếu tá em cho  phép ảnh được  tản thương về Sài-Gòn đó Thiếu tướng.
Tư Lệnh la lớn,
- Quân y đâu băng bó cho chú em ngay.
Ông quỳ xuống tự tay ấn từng đoạn ruột của người lính vào bụng của  anh  ta.  Người y tá vội vàng làm
phận sự của  mình tiếp tay với Tư Lệnh.
Đại úy Hoàn vừa kịp quay lại  chưa kịp chào trình diện thì Tư Lệnh đã  lớn tiếng,
- Phi hành đoàn C&C đưa gấp chú em này về Cộng-Hòa cho tôi.
Quay qua Thọ, Tướng nhẹ giọng,
- Em là lính của Thiếu tá Long, em can đảm lắm, qua sẽ cứu em!
Thọ lí nhí,
- Cám ơn Thiếu tướng.
Rồi anh quay qua Đại úy Hoàn,
- Cho em điếu thuốc đi Đại úy.


Đại úy Hoàn chưa kịp móc túi lấy thuốc cho  Thọ, thì Tướng đã có sẵn  điếu thuốc lá đưa vào môi người lính can  trường.  Ông một tay che gió, một tay  bật lửa mồi thuốc cho  Thọ.  Mặt Thọ tái xanh, những thớ thịt trên má bắt đầu co  giật.   Thọ hút một hơi thuốc dài, mắt Thọ long lanh, chợt anh ngoác miệng cười,
- Khẩu phòng không còn mới cáo cạnh,  nước thép xanh biếc thấy mê luôn  Đại úy ơi!
Ông Đại úy Hoàn an ủi,
- Giờ này chắc tụi nó đã mang khẩu  súng ấy về nộp cho Thiếu  tá rồi.  Mày nói đúng đó, nó còn mới cáo  cạnh, hèn nào mày không mê nó đến đổ  ruột luôn!
Thọ cúi đầu cười xẻn lẻn.
Cái bảng nhôm sơn đỏ có sao trắng được lật mặt ra đàng sau đã trở  thành cái bảng nhôm màu trắng thanh khiết  bên hông chiếc C&C.  Không bảng  sao, chiếc trực thăng chỉ huy trở thành giản dị bình thường, như ngàn vạn chiếc  tàu khác.  Trước khi  lên máy bay, Thọ còn ra dấu cho Đại úy Hoàn lại gần để anh  nhắn nhủ một điều gì quan trọng lắm,
- Em đi rồi không có ai pha cà  phê sáng cho Thiếu tá.


Đại úy nhớ nhắc  thằng Bích  khi pha cà phê cho Thiếu tá thì cho ít đường thôi!  Thiếu tá không   thích uống ngọt lắm đâu.  Nhờ Đại úy nhắn với Thiếu tá rằng, khỏi bịnh,  xuất  viện là em lên với Thiếu tá ngay.  Thôi em đi đây!
Không rõ Tư Lệnh có nghe lời nhắn của anh lính BĐQ gởi  cho thầy của  anh ta không, nhưng rõ ràng đôi mắt Tư Lệnh rưng rưng.   Chiếc trực thăng khuất  trong vòm mây từ lâu mà cánh tay Tư Lệnh còn vẫy  theo chưa hạ xuống.  Đây không  phải là lần đầu cái can trường của  thuộc cấp làm tôi cúi đầu kính phục.  Mà đã  nhiều lần trong quá khứ, dưới quyền tôi, không thiếu những ngưới lính dũng cảm  như thế.  Thời  1966 vùng triền sơn Quảng-Nam đầy rẫy những họng súng bắn  tỉa.   Cứ nghe tiếng "tắc cù" là chú Hạ sĩ Phong lại đưa cái thân cao  ngỏng còng queo  của chú che cho tôi, chú nói,


- Em  phải che cho Thiếu úy, em trúng đạn có mình em chết.  Thiếu úy  trúng đạn cả chục người chết theo.
Rồi cũng có lần chú bị bắn  toác nón sắt khi đưa thân che chở cho tôi,  khi Đại đội tôi chạm địch gần  ga Hương- An, Tam-Kỳ.
Năm 1969 trong trận Bình-Tây 49  dưới chân đỉnh Chư-Pa, Đại đội 1/ TĐ11BĐQ của tôi đánh cứu viện cho Đại đội 4/  TĐ11 BĐQ của Tr/ úy Nguyễn Lạn  (K20).  Trận này quân nhân đơn vị của  tôi và Lạn bị thương khá nhiều.  Từ đầu  trận, người lính mang đồ ngủ của tôi, anh B1 Trung đã bị bắn bể hông phải.  Đã  có nhiều chuyến tải  thương đi,
mà Trung vẫn còn ngồi chờ trên bãi đáp.   Tôi hỏi  tại sao anh không lên máy bay về bịnh viện, anh phân bua,
- Em chờ xem có ai bàn giao đồ ngủ của Trung úy xong em  mới yên lòng  đi về.
Tôi ngỡ ngàng kêu lên,
-Trời ơi!  Sao mày khờ thế!  Cứ quăng đại cho  ông thường vụ!  Lên tàu  ngay!  Luẩn quẩn ở đây đến chiều, hết  tàu tản thương.  Qua đêm máu ra hết thì  chết!


Trung giao đồ ngủ của thầy anh ta cho ông thường vụ đại đội, bàn  giao  kỹ lưỡng nhiệm vụ của mình rồi mới chịu lên chuyến tải thương cuối  cùng về Quân  Y Viện Pleiku.  Vết thương của anh nặng lắm, sau ngày  lành bệnh, anh B1 Trung đã  được giải ngũ lãnh tàn phế 100%.  Những  người lính của tôi dễ thương như thế  ấy!  Họ chỉ biết vâng lời người chỉ huy mình, bất kể đúng hay sai.  Cấp chỉ huy   ra lệnh tử thủ, họ tử thủ; cấp chỉ huy ra lệnh rút lui, họ rút lui; không  ý  kiến, không bàn cãi phán xét mà chỉ có tuân lệnh thi hành.  Họ đã  cùng tôi bao  tháng ngày đồng hành qua những chiến trường rực lửa, từ Pleime qua Kiến-Đức tới  Lâm-Đồng rồi về Xuân-Lộc.  Những người lính  của tôi không màng đến vinh quang mà  chỉ phụng sự cho cái vinh quang của người chỉ huy mình.  Vinh quang một đời  của  người cầm quân là một món nợ, nợ với tổ quốc, nợ với đồng bào, và nợ với thuộc  cấp của mình, những người đã hi sinh cho cái vinh quang mà mình đã một thời nhận  được.


Là người cầm quân, vinh quang là cứu cánh, vinh  quang là ý nghĩa của cuộc sống.
Tôi không có dịp tham dự vào cuộc phản công tái chiếm  chợ Xuân-Lộc,  khách sạn Long-Khánh và Cua Heo cũng như những cuộc giao  tranh trong khu trung  tâm thị xã.  Tin tức liên quan đến mặt trận  hướng Tây tôi hoàn toàn mù tịt.   Suốt mười ngày dầu sôi lửa bỏng  tháng Tư Long-Khánh 1975, TĐ 82 BĐQ chỉ biết có  mặt trận đông nam thị xã  mà thôi.  Bên hướng đông suối Rét là Lữ đoàn 1 Dù của  Trung tá (K15)  Nguyễn văn Đỉnh làm búa.  Bên hướng tây suối Rét là cái đe do  Thiếu  tá (K20) Vương mộng Long, TĐT82BĐQ chỉ huy, gồm TĐ 82 BĐQ tăng cường thêm   1 Đại đội của TĐ 1/ 43 BB, 1 Đại đội Địa Phương Quân Tiểu Khu Long-An và 1 Đại  đội Điạ Phương Quân từ Bình-Long di tản về.  Làm đe thì đỡ công di chuyển, đỡ  mệt thân xác, dễ kiểm soát đội hình, quân số.  Nhưng làm đe cho Dù thì quả là  mất mạng như chơi!  Pháo Dù nó tưới như mưa, làm đe bị lãnh tản đạn là  thường.   Trong trận này có ba người lính Thượng của tôi thiệt mạng vì  tản đạn của pháo  Dù.  Tháng Tư 1975 tôi đã chôn họ ngay bên dòng suối  Rét.  Tôi đã cầu nguyện cho  linh hồn họ yên vui trên đường phiêu du  về nguyên quán Pleiku.


Từ ngày đầu chiến dịch, một anh  phóng viên chiến trường của một tờ báo  ở Sài-Gòn, đã có mặt bên tôi không  rời.  Anh có dáng lòng khòng dong dỏng như  một triết nhân.  Anh  mặc đồ trận, đội nón sắt, nhưng không trang bị súng
ống.   Anh chỉ có cái máy ảnh, quyển sổ tay, và cây bút làm  hành trang.  Ngày mà đạn  pháo Dù bao trùm suối Rét cái lều của anh  nhà báo rách toang.  Cũng may anh  thoát chết vì lúc đó anh đang ở với ĐĐ1 TĐ82 BĐQ của Th/úy Học; anh bận chụp  hình cái tank cháy ngày hôm trước  nơi hàng rào bắc của trại 181 PB/ SĐ18.  Giữa  tháng Tư Lữ đoàn 1 Nhảy  Dù tung ra nhiều đợt tấn công mãnh liệt nhắm vào một  Trung đoàn CSBV trong đồn điền chôm chôm hướng đông nam suối Rét.  Chúng tôi ở  bên này bờ, hào hứng quan sát pháo Dù nổ rền trời phía bờ bên kia.   Từ nơi đồn  điền Thống tướng Tỵ, cán binh CSBV từng tốp chạy túa ra bìa  rừng, nhảy ùm xuống  suối Rét.  Những tay súng Pleime nhả đạn từ từ và chính xác.  Những người lính  Bắc-Việt bật lên  khỏi mặt nước như những con cá trắm cỏ, quẫy mạnh một lần rồi  chìm luôn...


Những tiếng hô "Biệt Động! Sát!" hoà lẫn tiếng súng M16,  M60 làm cho  một số cán binh CSBV vừa ló đầu ra trảng trống đã vội chạy  ngược lại bìa rừng.
Rồi cũng có người cầm cờ trắng chạy  từ trong rừng ra bờ suối, súng AK  dơ lên cao khỏi đầu.  Thế là họ đầu  hàng!
-Thôi!  Vứt súng xuống suối rồi lội sang đây!  Vứt súng xuống suối!   Dơ tay lên cao khỏi đầu, lội sang đây!  Nghe rõ chưa?
- Dạ cháu nghe rõ ạ!
Tôi và người phóng viên nhà báo mồi cho ba anh cán  binh CSBV ba điếu  thuốc lá.  Họ còn rất trẻ, chỉ độ mười lăm.   Bơ phờ mất ngủ, mắt quầng thâm.
- Cậu mấy tuổi rồi?
- Dạ thưa Thủ trưởng, cháu lên mười sáu ạ!
- Sao đi bộ đội sớm thế?  Mới mười sáu mà đã đi  lính rồi à?
- Cháu là thanh niên xung phong. Thủ trưởng  của cháu nói rằng Miền Nam  giải phóng rồi.  Chúng cháu chỉ vào để tiếp thu thôi ạ!
- Thế đánh nhau mấy ngày nay cậu thấy  thế nào?
-Thưa Thủ trưởng, nhà cháu sợ lắm ạ!
- Thôi đừng sợ, chốc nữa có người đưa cậu về Sài-Gòn.  Hết chết rồi,  đừng sợ!
- Thủ trưởng  có nói thật không hử Thủ trưởng?  Nhà cháu sợ chết lắm  Thủ trưởng ơi!
Đôi mắt trẻ thơ ngơ ngáo.  Ngón tay cậu bé run  run cầm điếu thuốc thơm  đưa lên môi, chỉ sợ nó rơi...
Thì ra thế!  Những cậu bé này được đưa vào đây là để... tiếp thu Miền  Nam!
Một hôm, Đại tá  Hiếu gọi tôi vào máy để "check fire".  Tôi liếc qua  nơi cần hỏa  tập.  Ồ!  Cái tọa độ ấy chẳng liên hệ gì tới quân bạn, không trở  ngại!  Rồi Đại tá Hiếu lại gọi tôi vào máy để "check fire".  Rồi tôi  lại trả  lời, "không trở ngại!"   Cứ vậy, ba bốn lần hỏi qua, đáp  lại.  Chiều hôm ấy tôi  nghe một tiếng "ùm!" âm vang hướng đông  bắc.  Tôi đã từng nghe B52 đánh cận  phòng nhiều lần trên chiến trường  Cao-Nguyên Vùng 2.  Tôi đã nghe quen tiếng  những trái bom 500 cân  Anh, 300 cân Anh thun thút từ trên mây xanh, những tiếng  "ủn ủn" theo đuôi  nhau chui trong không khí kiếm mục tiêu.  Nghe tiếng bom nổ  chùm, tôi  có thể phân biệt được đó là Box 3km x 1km, Box 2km x 1km,  hoặc Box 1km  x 1km.  Tiếng "ùm!" lần này có vẻ như âm vang của 1 Box  B52 đánh gọn ô vuông mỗi  chiều 1km x 1km ngày  nào?  Tôi thấy một cột bụi dâng cao dần dần tới mây.  Trời  cao  và mây xanh ngắt.  Có một chiếc C130 còn lượn trên vùng.  Tôi nghĩ chắc  chiếc C130 là tác giả cú "ùm!" vừa qua.  Mãi sau này tôi mới  biết tiếng "ùm!" đó  là 1 trong 2 trái CBU 55 (hay CBU 85) được xử dụng  trong trận Xuân-Lộc.  Một  trái được thả xuống vùng núi Tre hướng Tây  Bắc Long-Khánh, tôi không nghe báo.   Trái thứ nhì thì được thả xuống  chận đường kẻ thù đang tiến vào khu vực phòng  thủ của Trung đoàn 43/ SĐ18  BB trong đó có TĐ 82 BĐQ tăng cường.


Mặt trận tạm yên thì phái đoàn Thượng Hạ Viện từ Sài-Gòn đã bay ra tới  tận  cuối sân bay Long-Khánh để ủy lạo những người lính Vùng 2 đang đổ máu bảo  vệ  mảnh đất còn lại của quê hương nơi Vùng 3.  Những gói quà, những  cái bắt tay,  những lời hứa hẹn khen thưởng làm ấm lòng người chiến  sĩ.  Tôi nằm trên võng  dưới tàn cây điều lộn hột, lòng buồn nhớ thương vợ con tôi không rõ giờ này ra  sao.  Những người lính dưới  quyền tôi cũng vậy, mặt người nào cũng không vui,  thân nhân chúng tôi đã  rơi vào tay địch nơi chân trời cũ xa xôi Ban-mê-Thuột,  Pleiku...  Một  sớm mai, từ hướng đông, chiến xa địch dàn hàng tiến về vòng đai  phòng thủ Xuân-Lộc.  Đại tá Hiếu gọi tôi và cho biết lần này bộ binh tùng thiết  của CSBV có vẻ đông hơn những đợt tấn công trước đây nhiều.  Pháo binh bạn đã  bắn tối đa để chận địch.  Tôi thấy vài cột khói bốc lên từ những chiếc tank  bị  cháy.  Có một chiếc T54 bị bắn đứt xích cách vòng rào trại 181 PB  không xa lắm.   Chúng tôi nghe tiếng búa của bộ đội CSBV gõ trên thành  xe, chúng đang sửa cái xe  tank bị đứt xích!  Pháo binh từ trong vòng đai liên tiếp trực xạ hướng vào chiếc  T54 bị thương.  Địch không phản ứng.  Tiếng búa chạm sắt cũng im.  Họ án binh  chờ lệnh?   Rồi bên quân bạn cũng không thấy ai yêu cầu tác xạ thêm, pháo binh  của ta  cũng tạm ngưng.  Từ trưa tới chiều chạng vạng, mặt trận yên tĩnh lạ  lùng.  Khi mặt trời vừa lặn, pháo địch từ nhiều hướng  khác nhau tập trung trên  thành phố Xuân-Lộc, đủ loại súng nặng, bắn thẳng, cầu vồng, có điều khác lạ là  tất cả đều là pháo  tầm xa (?)  Pháo địch kéo dài cỡ một giờ đồng hồ rồi im hơi.    Màn đêm buông xuống, tôi nghe tiếng động cơ chiến xa nổ rộ, rồi nghe tiếng  bánh  sắt chạm đường đất đá, âm vang kéo dài từ gần rồi xa dần.  Toán  tiền thám BĐQ  ngoài vòng đai báo cáo, chiếc T54 bị đứt xích đã được kéo đi  và cả đoàn chiến xa  dàn hàng ngang ngoài vòng đai phòng thủ cũng đang rút đi (?)  Tôi báo cáo sự  việc này cho Đại tá Hiếu, ông cũng ngạc nhiên  không hiểu vì lý do gì, địch đang  chuẩn bị một cuộc sống mái thì đột nhiên đổi hướng.


Những ngày sau đó tình hình im ắng như tờ, những con ve sầu trên ngọn  điều lộn hột cất tiếng hòa ca điệu cuối Xuân  trong khung cảnh thật là tĩnh mịch  êm ả đồng quê.  Những cây chuối  trên đồi rủ lá.  Những sợi khói lam từ mái rạ  bay cao.  Khoảng  ba giờ chiều ngày 20/04/1975 Đại tá Hiếu cho xe ra sân bay đón  tôi vào họp  hành quân.  Ông rầu rầu,
- Ông Toàn ra lệnh cho  chúng ta bỏ Long-Khánh rút về Bà-Rịa.  Ông Đảo  vừa được lệnh và cho  tôi biết.  Tôi đón chú vào cho chú hay để mà chuẩn bị.   Chút nữa  ông Đảo họp với ông Toàn xong trở về sẽ có lệnh chi tiết sau.  Tôi  ngồi  với Đ/Tá Hiếu một lúc thì có điện thoại của Tư Lệnh.  Đại khái  ông cho biết,  lệnh bỏ Long-Khánh là từ Tổng  Thống.  Địch không vây Long-Khánh nữa mà đi bọc về  đánh Biên-Hòa và  thủ đô Sài-Gòn nên quân ta phải bỏ Xuân-Lộc, về bảo vệ Thủ Đô.   Tướng Đảo cực lực phản đối vụ triệt thoái này nhưng Tổng Thống và Tướng Toàn đã   quyết định cắt tiếp ứng, tiếp tế, yểm trợ cho SĐ 18 để ép Sư đoàn này thi  hành  lệnh lui binh.


Tôi được lệnh rút TĐ 82 BĐQ về ngã ba Tân-Phong trước 8 giờ đêm, chờ  lệnh.  Tiểu đoàn 82 BĐQ cuốn  lều, lấp hầm hố phòng thủ khi đêm rơi.  Cuối tháng  ba năm 1975 chúng  tôi đã làm việc này ở Kiến-Đức; chúng tôi đã bỏ lại sau lưng  một trận địa,  một kẻ địch kinh hoàng đến độ hai ba ngày sau mới dám mon men vào  điểm trú  quân đã bỏ trống của đơn vị BĐQ một thời ngang dọc Vùng  2.  Tôi đã rút  đi, theo lệnh, để lại Kiến-Đức hàng chục nấm mồ thuộc  cấp của mình bên QL14.   Quận Kiến-Đức và Đồn Pleime cách nhau không  bao xa, cũng còn là trong lãnh thổ  Vùng 2!  Lần này 12 người lính của  Pleime ngủ lại bên bờ suối Rét, lạ lẫm quê  người, quanh đây chỉ có điều  lộn hột, chuối, xoài và đồng cỏ mênh mông.  Nơi này  thật xa những  ngọn núi hùng vĩ Chư Gô, Chư Don, thật xa con sông mơ màng  Ia Meur  lững lờ quanh năm.  Công lao khó nhọc dặm trường nửa đường đứt gánh.


Đơn vị tôi vừa di chuyển ngang cổng Tòa Hành  Chánh tỉnh Long-Khánh thì  Đại tá BĐQ Phạm văn Phúc, tỉnh trưởng đã chờ ở  đó.   Đại tá yêu cầu tôi cho Tiểu  đoàn 82 BĐQ đi với đoàn quân của Tiểu khu Long-Khánh, và ông xin được tháp tùng   Tiểu đoàn 82 BĐQ trong cuộc rút lui.  Tôi từ chối với lý do,
- Đại tá có cả một Tiểu Khu, Đại tá phải chỉ huy họ, là  cấp chỉ huy  của họ.  Đại tá không thể đi theo tôi mà để họ không  người chỉ huy.


Đại tá Phúc hiểu ra, cám ơn tôi đã có lời  nhắc nhở nhiệm vụ của ông.   Chúng tôi bắt tay từ biệt.  Mãi tới  năm 1979 tôi mới gặp lại Đại tá trong trại  cải tạo Nam-Hà A ngoài  Bắc.  Trong cuộc rút binh, Đại tá Phúc đã bị bắt khi đi  được nửa đường Xuân-Lộc, Bà-Rịa và bị giữ trong trại tù từ ngày đó.  Ra tới  QL1  tôi phải cho quân đi hàng một và cách lề trái đường vài chục  mét.  Khi đến ngã  ba Tân-Phong tôi được lệnh  ngừng lại chờ lệnh.  Trên QL1 những chiếc xe cam  nhông chở đầy ắp  lính ngồi hai hàng, xe chạy như bay, chiếc này bám đuôi chiếc  khác.   Xe mở đèn pha sáng choang.  Có những người lính bộ binh lưng mang  nặng  balô, súng đeo vai đi sát hai bên đường.  Một người lính bộ binh  chạy băng ngang  từ bên phải sang bên trái đường. Anh  trượt chân té, chiếc xe cam nhông chạy qua  đè ngang hai chân anh.   Anh lính la hét đau đớn được một câu thì chiếc xe cam  nhông thứ hai đã đè đủ năm chiếc bánh bên trái qua người anh ta.  Tôi nghe rõ  tiếng  "rốp!" khi bánh xe lăn qua đầu anh.  Cái xác dẹp lép của người lính  cách  chân tôi khoảng hai mét.  Tôi kéo xác anh vào lề đường.   Cái căn cước quân nhân  cho tôi biết tên người xấu số là Nguyễn thành Long, sinh quán Long-An.  Hai bên  đường người cứ đi  như chảy hội, trên đường, xe cứ nối đuôi nhau.
. . . . .  . . .
Vương Mộng Long

 



 

CHỜ MONG TỜ ĐIỆN TÍN

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Namkhông biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biểnđi tìm tự do? để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển.
Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi…
Tôi nhớ mãi một  câu chuyện vượt biên dù đã  mấy chục năm qua rồi.
Khỏang năm 1983 nhà tôi quay trở lại bán cà phê và nước ngọt, lúc này công nhân viên của nhà máy Z751 ( tức “Lục quân công xưởng” trước 1975) không đông đảo như nhân viên và lính tráng  trước kia, nhưng khách hàng vẫn khá đông là bà con lối xóm.
Chú Bích là người hàng xóm hay ra uống cà phê tại quán tôi. Nhà chú ở trong hẻm, bước ra khỏi hẻm đi vài căn là tới qúan cà phê nên rất thuận tiện cho chú.
Lần nào ra quán chú cũng dẫn theo thằng con út tên Báu khỏang 10 tuổi và gọi cho nó một chai nước ngọt, hai bố con ngồi uống như hai người bạn, bố uống xong cà phê trước thì đợi thằng con uống xong phần chai nước ngọt hai bốcon mới ra về, dù nó vừa uống vừa nói huyên thuyên với bố đủ thứ chuyện thật lâu.
Có lần hai bố con đang uống trong quán thì thằng Báu thấy ông bán cá Lia Thia cá Xiêm dắt xe đạp đi ngang qua, nó vùng chạy ra xem và đòi bốmua. Chú Bích bỏ dở ly cà phê đen nóng bước ra ngoài, ông bán cá đã đứng lại đợi khách, thằng Báu ngắm nghía đã đời từng con cá sắc màu đang bơi ngoe nguẩy trong những bịch ny lông treo tòn ten đầy trên khung giây  thép cứng chở sau xe của ông bán cá rồi mới chọn cho mình 1 con cá Xiêm vừa ý, thằng bé khôn thật cá Xiêm đắt tiền hơn cá Lia Thia và đẹp hơn, trẻ con nào cũng thích.
Khi trở vào quán ly cà phê của chú Bích đã nguội tanh mà cảbố và con cùng vui. Chú thương con và chiều con lắm.
Thằng Báu giống bố, đẹp trai giống bố. Hình ảnh hai cha con điđâu cũng có nhau đã quen thuộc với tôi cũng như với mọi người hàng xóm, ngay cảkhi chú Bích mang chiếc xe đạp ra tiệm sửa xe thằng Báu cũng lót tót đi theo, tôi cũng đang chờ vá chiếc xe đạp tại đây và nghe thằng Báu nói với bố:
-  Mai mốt con lớn con làm nghề sửa xe đạp, sửa xe cho bố không lấy tiền,
Lời nói ngây thơ mà chí hiếu, tôi nghe còn cảm kích nói gì chú Bích, chắc chú rất mát lòng.
Hai cha con thật thân tình và gần gũi như bóng với hình.
Chú Bích là đại úy của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ngày 30 tháng Tư năm 1975 chú đang nằm điều trị tại Tổng y viện Cộng Hòa.
Khi quân Việt Cộng chiếm bệnh viện và xua đuổi những thương bệnh binh chế độ cũ  ra ngoài, chú trở vềnhà với vết thương điều trị dở dang..Nhưng nhờ thế mà chú không thể đi trình diện tập trung “học tập cải tạo” được,. ủy ban phường đã cho chú Bích ở nhà dưới sựquản chế của địa phương, chú Bích không thể đi đâu xa hay vắng mặt lâu được.
Mấy năm qua, từ ngày miền Nam bị “giải phóng” chú Bích chỉ ởnhà, làm việc nhà trong khi vợ chú bôn ba làm việc hết tổ hợp này đến tổ hợp khácđể nuôi chồng và 3 con. Không ai hiểu vì sao chú không đi làm khi sức khỏe đã tươngđối khá.
Vậy mà một hôm hàng xóm kháo nhau rằng chú Bích dẫn thằng Báuđi vượt biên. Người đời thính tai và tinh ý thật, nhà nào có ai đi vắng chẳng dấuđược lâu, nếu một hai tháng không trở về thì một là đi vượt biển trót lọt, hai là chết biển hay là vào tù…
Bởi thế có ai đó đã chế ra câu “ Con đi được con nuôi má, con chết biển thì nuôi cá, và con ngồi tù thì má nuôi con”
Xóm tôi thời điểm đó đã có hai gia đình có con đi vượt biển bị mất tích.
Nhà bà Tịnh đứa con gái đi chuyến tàu chưa ra tới khơi xa đã bị đắm, nghe đồn những xác chết trôi tấp vào Mũi Né Phan Thiết, bà Tịnh đã tất tưởi ra Phan Thiết ăn chực nằm chờ thuê người đi tìm xác con gái mấy ngày mà khôngđược..
Nhà bà Trí thì tang thương hơn, cả con và cháu là 5 người, họra đi biền biệt không một tăm hơi gì. Bà Trí chờ mong tin và đau khổ đến héo hon gầy rộc đi như một xác mắm khô. Nhưng bà vẫn can đảm một năm sau lại cho thằng con trai đi vượt biên tiếp, chuyến này trời không phụ lòng bà, chuyến tàu nó điđã cặp bến bình yên.
Bà Trí từng tuyên bố với người bạn thân: “ Tôi cho các con đi vượt biển để tìm tương lai, các con đi được thì dù tôi có ra chợ ăn mày hay ai mang tôi ra chợ bắn chết tôi cũng chịu”
Tôi thông cảm cho hoàn cảnh chú Bích lắm, vì gia đình tôi cũngđang “xây mộng” cho các em đi vượt biển nên cầu mong nếu tin đồn ấy là sự thật thì hai cha con chú được bình yên đến nơi đến chốn.
Chú Bích không dẫn con đến quán tôi uống cà phê suốt hai tuần lễ liền. Có lẽ giờ này hai cha con chú đang lênh đênh ngoài biển khơi rồi?
Bây giờ thì hàng xóm đã hiểu ra, chú Bích không đi làm vì không muốn bị ràng buộc bởi công việc để dễ dàng toan tính chuyện vượt biên.
Nhà cô Bích thì cửa đóng then cài để tránh sự dòm ngó của hàng xóm và công an khu vực.
Cho đến tuần lễ thứ tư thì hàng xóm lại kháo nhau:
-        Chú Bích đến đảo rồi.
-        Hai cha con thật may mắn.
-        Cũng may cho ông đại úy, ở nhà bị công an quản chế, cứmỗi tháng phải ra trụ sở công an trình diện một lần, đi đâu phải xin phép, tù giam lỏng như thế ai mà chịu nổi, mấy năm qua tuy mang tiếng là hết hạn quản chế nhưng công an khu vực vẫn thỉnh thoảng đến nhà thì khác gì bị quản chế đâu.
Có bà không tin hỏi lại cho chắc ăn:
-        Sao bà biết là đại úy Bích đến đảo rồi? mà đảo nào?
-        Chẳng biết đảo nào, miễn là đến xứ tự do. Sáng qua chính mắt tôi thấy cô Bích hớn hở nấu cà ri gà, chắc mấy mẹ con ăn mừng vì được tin chồng vượt biển thành công.
-        Sao bà biết cô Bích nấu cà ri gà?  bà có vào bếp nhà cô Bích không ?
Bà kia quyết liệt:
-        Tôi đi chợ thấy cô Bích mua 1 con gà và bó xả..
Một bà có mấy đứa con đi vượt biển may mắn đến nơi đã tỏ ra hiểu biết:
-        Nay mai cô Bích có điện tín thì biết ngay, không đảo Bidong Mã Lai, thì đảo Galang Indonesia,  không đến Songkla Thái Lan, thì đến Phi Luật Tuân, Hồng Kông…
Thế là tin đồn bố con chú Bích đi vượt biên đến nơi và ở nhà vợ chú đã nấu món cà ri gà ăn mừng bung ra, càng lúc càng lan rộng, mấy người hàng xóm đến quán tôi uống cà phê truyền tai nhau thoải mái thì làm gì mà công an khu vực và uỷ ban phường không biết.
Công an phường đã gọi cô Bích lên để chất vấn và dọa sẽ cắt hộ khẩu chồng con cô, cô Bích một mực chối cãi nói rằng hai vợ chồng bất hòa cãi nhau rồi ông chồng giận dỗi mang thằng út đi đâu cô không hề biết.
Tới giờ phút này thì khó có thể dấu diếm được nữa, với niềm vui mừng cô Bích đã  tâm sự kín đáo với vài người hàng xóm thân là chú Bích và thằng Báu đi vượt biển, hai người  cùng chuyến tàu đã đánh điện tín về nên cô rất mừng, chỉ yên trí đợi điện tín của chồng gởi về thôi.
Thế là tất cả những tin đồn đều là sự thật, kể cả chuyện nhà cô Bích nấu cà ri gà ăn mừng. “Tình báo” hàng xóm thật bén nhạy .
Ngày nào cô Bích cũng mong chờ anh đưa thư đi qua, thậm chí nhà không có thư cô Bích cũng vẫy anh đưa thư để hỏi thăm là có điện tín hay thưtừ gởi đến địa chỉ nhà cô không?
Chắc cô Bích e rằng anh đưa thư để thất lạc tờ điện tín của chồng cô đâu đó, vì mỗi ngày qua mà vẫn bặt vô âm tín.
Vài tháng đã trôi qua, niềm vui mừng của gia đình cô Bích đã xẹp xuống bớt, cô băn khoăn và lo lắng ra mặt, ai hỏi thăm thì cô chỉ trả lời đang chờ đợi điện tín của chồng, cô đặt nghi vấn là có thể chú Bích làm mất chỉ vàng mang theo nên không còn tiền để thư từ hay đánh điện tín nữa? Hoặc chú muốn làm gia đình bất ngờ đợi đến Mỹ mới báo tin chăng?
Cô Bích đã bám víu vào những lý do mong manh ấy để hi vọng, để đợi chờ.
Và rồi không ai dám lên tiếng hỏi thăm cô Bích về tin chồng con của cô nữa, chỉ sợ làm cô hoang mang thêm và lo lắng thêm.
Nhưng cô Bích vẫn không ngừng hi vọng, cô vẫn chờ anh đưa thưmỗi ngày đi qua nhà. .
Anh đưa thư qúa quen thuộc với địa chỉ những người trong xóm, anh hiểu thấu tim gan người ta, biết tâm lý của người ta, nhà nào có thư thường tức thư nội địa trong nước Việt Nam thì anh làm xong nhiệm vụ một cách mau chóng, chẳng trông mong gì, nhà nào có thư từ nước ngoài gởi về anh hớn hở mang tới và bao giờ cũng nhận được tiền thưởng của người nhận thư dù chưa biết trong thư nói gì.. Nhất là nhà có người đi vượt biên gởi điện tín báo tin đã đến trại tị nạn là anh càng lãnh thưởng nhiều, anh biết mình sẽ là người đầu tiên báo tin vui, anh biết cách làm người ta sốt ruột mới chìa tờ điện tín ra.
Có lần anh mang tờ điện tín cho bà Sáu hàng xóm cạnh nhà tôi, 2 đứa con bà đi vượt biên 4-5 tuần lễ mà chưa có tin, gia đình bà như ngồi trên chảo lửa, anh đưa thư thong thả chống chân xe đạp và càng thong thả mở cái túi đeo trên vai đựng đầy thư từ rồi lại thong thả nói khi cả nhà bà Sáu đã đứng trước mặt anh nãy giờ::
-  Điện tín… từ Mã Lai nè…ai ra ký tên nhận giùm.
Cả nhà bà Sáu cùng vỡ òa niềm vui mừng không cần dấu diếm, nhận tờ điện tín và dúi vào tay anh đưa thư một nắm tiền không cần đếm...
Sau này anh đưa thư sắm xe Honda loại xịn đi đưa thư chắc là nhờ anh ky cóp những bổng lộc này.
Anh đưa thư đã mang tin vui đến cho nhiều người, nhưng nhà cô Bích thì không, nhìn vẻ mặt cô Bích hi vọng và thất vọng mỗi ngày khi không có thư từ, anh đưa thư cũng mủi lòng, anh né không dám đi ngang qua nhà cô Bích nữa mà đi lòng vòng lối khác để giao thư cho được yên thân. Tôi hỏi điều này thì anh đưa thư xác nhận:
-  Tôi không nỡ nhìn cô Bích thất vọng chị à, mỗi lần thấy tôi cô Bích không hỏi nữa chắc vì cô ngại đã hỏi nhiều lần mà không có gì, nhưng cô vẫn nhìn tôi với ánh mắt chờ mong..…
Tôi chỉ biết thở dài:
- Cô Bích cũng có lý chứ, biết đâu tin vui đến muộn? Không lẽngười đi cùng tàu đến nơi mà cha con chú Bích không đến nơi.
Đã nhiều lần cô Bích đến hai gia đình họ hàng bên chồng có người thân đi cùng chuyến tàu với chồng con cô để hỏi thăm tin tức nhưng vẫn không biết gì hơn.
Rồi họ đã đi định cư ở nước ngoài do được bảo lãnh từ lâu, mà cô Bích vẫn chưa nhận được điện tín của chồng.
Điều bí ẩn ấy bao trùm lên gia đình cô Bích và hàng xóm suốt nhiều năm trời.
                *******************
Năm 1991 gia đình tôi sang Mỹ định cư diện HO.5, và hơn 10 năm sau tôi tình cờ bắt liên lạc được với người bạn thân cùng xóm tên Hằng sống ở Houston, Texas. Hằng di tản sang Mỹ từ năm 1975, Hằng là cháu ruột của chú Bích.
Sau những lần chuyện trò hỏi thăm nhau từ qúa khứ đến hiện tại kể từ khi biến cố 1975, tôi mới chợt nhớ ra và hỏi Hằng về chú Bích và đã biết sự thật đau lòng.
Chuyến tàu chở hơn 70 người đi vượt biển bị lạc hướng lênh đênh nhiều ngày trên biển, xăng dầu, thực phẩm và nước uống dự trữ hầu như cạn kiệt, thuyền trôi tự do và chờ chết chùm, không chết vì biển thì cũng chết vì đói khát, mọi người lo sợ  khóc lóc và đọc kinh cầu nguyện ngày đêm tùy theo tôn giáo của mình, cả  tàu tuyệt vọng và bi thảm như đại tang..Họ suy xụp cả thể xác lẫn tinh thần, đoàn người như những bóng ma trong con tàu trôi vật vờ vô định cả ngày lẫn đêm
Chiếc tàu trôi dạt vào gần một hòn đảo thì mắc cạn, ai nấy đều mừng rỡ coi như vừa chết đi sống lại, đám đông kéo nhau lên đảo, nước ngập lên tới cổ tới ngực tùy chỗ nông sâu.
Chưa biết trên đảo có gì nhưng biết là không  bị chết chìm ngoài biển khơi là mừng rồi.
Giữa cảnh chen lấn nhau lên bờ thằng Báu xảy chân ngã xuống biển, khi người ta biết và cứu được thì nó đã chết đuối rồi. Chú Bích ôm xác con lên bờ khóc lóc một cách điên dại.
Dù mệt mỏi và đuối sức, những người đồng hành cũng giúp chú Bích để xác thằng Báu vào một khe đá và lấy những tảng đá nhỏ khác che chắn lại coi như một nấm mồ.
Một nhóm  khác đi dạo thử trên đảo để xem xét tình hình, họ nói đây là đảo hoang  chỉ toàn là san hô và đá tảng với vài loại cây mọc thưa thớt chẳng thể tìm đâu ra lương thực hay nước uống cả.
Bây giờ đám thuyền nhân lại lo chết đói chết khát trên hòn đảo hoang vu  rộng lớn này. Họ quyết định rủnhau đi tìm chỗ nào cao ráo nhất để đốt vải, đốt áo làm khói hiệu may ra có tàu nào trông thấy mà đến cứu còn hơn ngồi chờ chết.
Mọi người đi, nhưng chú Bích không chịu đi.Chú Bích bây giờnhư một người điên, chú ngồi khư khư bên xác thằng Báu với đôi mắt vô hồn và miệng thì không ngớt lẩm bẩm một câu duy nhất:
-   Cứu con tôi! cứu con tôi! cứu con tôi!
Mọi người xúm vào khuyên giải và năn nỉ chú:
-  Đằng nào cháu cũng chết rồi, anh hãy đi theo chúng tôi để tìm sự sống…
Hai người cháu họ của chú cũng vừa rơi nước mắt vừa vỗ về chú như vỗ về một đứa trẻ con:
-  Chú ơi, chú để xác thằng Báu ở đây, đi với tụi cháu, chúng ta phải đi khỏi nơi đây may ra sẽ sống sót…
Nhưng chú Bích vẫn khăng khăng từ chối, chú lảm nhảm gọi tên con và khóc tu tu thảm thiết.
Thật không ngờ một người lính tác chiến từng vào sinh ra tử,chỉ sau những ngày lênh đênh trên biển với bao căng thẳng lo âu, bao suy nhược tinh thần và thể xác cộng thêm cái chết bất ngờ của thằng con thâu yêu mà ngườiđàn ông can trường ấy bỗng hóa thành điên dại.
Không thể thuyết phục được chú Bích đoàn người để chú ở lại bên xác con và kéo nhau đi tìm chỗ khác trên đảo. Họ lôi thôi lếch thếch dắt díu nhau, bồng bế nhau, lôi kéo nhau đi trên những tảng đá  nhọn gập ghềnh cả nửa buổi trời đến nỗi nhiều người chân chảy máu hay sưng vù lên …
Tới một chỗ khá cao, tầm nhìn ra biển rộng hơn thoáng hơn thì họ dừng lại. Khi trông thấy bóng con tàu nhỏ xíu ngoài xa họ đốt áo cho khói lên liên tục nhưng chiếc tàu vẫn vô tâm không hề hay biết.
Sáng hôm sau họ tỉnh dậy sớm thì thấy một con tàu đang lù lùđến rất gần, nhiều người mừng vui qúa hét hò lên vang trời vang biển, nhiều người khác thì lo đốt áo làm khói hiệu và cả đám đông kéo nhau đứng trên những tảng đá cao nhất để giơ tay vẫy vẫy cầu cứu.
Tất cả những người trên chuyến tàu đã được cứu thoát như một phép nhiệm màu.trừ hai cha con chú Bích. Cùng đi môt chuyến tàu, cùng trải qua những gian nan nguy khốn vậy mà số phận đã nghiệt ngã với hai cha con chú, khôngđược đến bến bờ mơ ước cùng với họ...
Có người thương tâm nói với thuỷ thủ trên tàu về trường hợp chú Bích, nhưng họ nói nếu không nhớ đích xác ở đâu thì họ không có thì giờ đi tìmđược, và có những nơi trên đảo con tàu không thể đến gần vì san hô và đá ngầm.
Các thủy thủ cũng cho biết đây là đảo hoang không có con người và các phương tiện sinh hoạt khác.
Chuyến tàu của Indonesiađã đưa đoàn người vượt biển đến đảo Galang xong họ tiếp tục cuộc hành trình.
Hai người cháu họ của chú Bích đánh điện tín về cho gia đình, sau đó họ khuyên gia đình dấu kín cái chết thương tâm của cha con chú Bích trong nhiều năm, đợi thời gian như liều thuốc nhiệm màu từ từ chữa lành vết thương của gia đình người bất hạnh, mãi những năm sau này họ mới cho cô Bích biết .
Hằng đã liên lạc với hai người cháu họ ấy ở Mỹ và được biết sự thật chuyến đi vượt biên này từ họ..
Hơn 30 mấy năm qua tờ điện tín mà cô Bích mong đợi không hề đến và không bao giờ đến.
Không ai biết tin gì về cha con chú Bích, nhưng ai cũng có thể suy đoán đoạn kết vở bị kịch là chú Bích đã chết đói chết khát bên cạnh xác con trai mình trong tình trạng tâm thần điên loạn.
Cha con chú Bích đã thoát khỏi Việt Nam, chú Bích đã thoát khỏi cảnh công an quản chế giam lỏng.
Nhưng họ chỉ đi được nửa cuộc hành trình, đã bỏ xác nơi đảo hoang.
Hai cha con chú Bích vẫn bên nhau như ngày nào nơi mái nhà xưa, nơi hàng xóm cũ.
Xung quanh hai cha con chú là biển khơi bao la. Sóng và biển sẽ ru hai linh hồn bơ vơ kia giấc ngủ ngàn đời, ngàn đời…!!.
            Nguyễn Thị Thanh Dương
                   ( Tháng Tư, 2014)

 

Ảnh từ internet
 

GIỌT LỆ CHO TỪ BI

E-mail Print

Bước ra khỏi thang máy của khu shopping, trời còn sớm. Một chút nắng vàng hanh, một chút mây lãng đãng, bãi đậu xe đã vãn, nguời qua lại không vội vã, tạo cho khung cảnh của khu thương mại một sắc thái thanh nhàn.

Last Updated ( Saturday, 05 April 2014 20:18 )
 

GIỌT LỆ CHO TỪ BI

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

 

     Buớc ra khỏi thang máy của khu shopping, trời còn sớm. Một chút nắng vàng hanh, một chút mây lãng đãng, bãi đậu xe đã vãn, nguời qua lại không vội vã, tạo cho khung cảnh của khu thương mại một sắc thái thanh nhàn.

   Chưa bao giờ Hảo thấy mình nhàn hạ như bây giờ.

     Mấy đứa con đi học xa nhà…. Những bữa ăn tối một mình…. Ngôi biệt thự màu xanh, và số tiền hưu dưỡng của người chồng đã khuất … Khung trời vắng vẻ ấy, là nơi chốn bình yên cho một người quả phụ chớm ngả về chiều như Hảo.

     Đang suy nghĩ vẩn vơ, Hảo giật mình nhìn sững người đàn bà vừa buớc vào chiếc xe màu trắng -    

     Quá khứ đã ngủ quên, chợt thức dậy -

Một thoáng xót xa ập đến, hòa nhập vào mạch máu đang nhẩy mạnh trong lồng ngực… Thẫn thờ mất vài giây, Hảo đi tiếp về phía chiếc xe của mình nơi cuối bãi, trong buớc chân rời rã.

       Chiều vẫn xuống, khung cảnh vẫn bình yên.

     Nhưng một cái gì dường như thổn thức, một cái gì dường như tê tái bâng khuâng. Hảo ngất ngây như người lên cơn sốt, một cơn sốt chìm sâu trong tiềm thức rã rượi não nề.

     Bữa cơm tối nay tại nhà hàng Con Voi Đất, của nhóm Thân hữu các bà mẹ, do nhà thờ chiêu đãi, bỗng trở thành nhạt nhẽo, và túi quà vừa mua trong mall trở nên nặng trĩu treo trên mấy ngón tay.

     Phải rồi, chỉ vì người đàn bà đặc biệt, không bao giờ quên đuợc! Khuôn mặt ấy, vóc dáng ấy… với Hảo, là bóng hình của thiên sứ, của xả thân, mang trái tim của hiến thân và cứu khổ.

   Tấm hình hài đẹp đẽ đã dám quên thân mình, để cứu cho nhiều mảnh đời thoát khỏi khổ đau, tan hoang, vò xé và oan trái…. mà khổ nỗi, ở đời này, những thảm kịch oan trái, vò xé ray rứt lẫn nhau, để tạo ra tang thuơng tội nghiệp, chỉ toàn do lòng nhỏ nhen ích kỷ, hẹp hòi đến đê tiện. Và nó cứ tồn tại mãi hoài, do thành kiến vô minh, do khốn nạn của loài người cố chấp.

     Bãi đậu xe vắng dần.

   Gần đến xe của mình, Hảo bấm nút tự động từ xa, mở cửa chui vào, nhìn thoáng mình trong tấm gương trước mặt, Hảo thấy khuôn mặt mình dường như hơi tái đi. Hảo nhắm mắt một giây, hít thở vài hơi, rồi mở máy, gài số, lái chầm chậm đi tới nhà hàng.

     Cảnh sắc hai bên như lùi lại.

   Buổi chiều vẫn đẹp, vẫn bình yên, pha lẫn chút hoang tàn.

   Và hình bóng người đàn bà lúc nãy vẫn vật vờ ám ảnh Hảo trong suốt chặng đuờng. Nó vừa xa, như từ bao nhiêu kiếp Song lại rất gần, như đứng ngay trước mắt. Và nó đang nhởn nhơ luợn lờ tựa như một bóng ma khoác áo thiên thần…

     Tới nhà hàng, đẩy cửa buớc vào, Hảo thấy ngay dẫy bàn đã đặt cho bữa cơm tối nay của nhóm thân hữu các bà mẹ do nhà thờ chiêu đãi.

     Năm bảy nguời đã đến truớc, vẫy tay. Hảo buớc đến, kéo ghế ngồi xuống và lặng im chẳng nói. Một chút gì như lãng quên, và một chút gì như nhung nhớ đến quặn thắt cả nguời.

   Hảo ngồi nghe câu chuyện nói qua, nói lại và cố hình dung ra dung nhan bà hội trưởng, đại diện nhóm nhà thờ của buổi tối hôm nay.

   Xong, chẳng hiểu sao, trong tâm tưỏng, hình ảnh của toàn bộ chặng đuờng vuợt biển năm xưa, nối tiếp với quãng đời tha huơng đơn chiếc của Hảo bỗng hiện ra, cùng với khuôn mặt nguời đàn bà lúc nãy - Tất, tất cả chập chờn sống dậy trong thảng thốt, trong hỗn độn, hãi hùng:

     Chuyến tàu ngày đó, 25 người nhào trong sóng dữ… Xứ Mỹ với những ngày đầu ám ảnh khó quên… giọt nuớc mắt trào ra lúc Hảo biết mình đuợc mang bầu, và cái xúc động của lần đầu tiên làm mẹ… Bầy con thơ chiu chít và người chồng quá cố im lìm…. Căn nhà màu xanh êm ắng của một thành phố nhỏ…. Những buổi chiều hoang vắng trong cảnh hoàng hôn … Tất cả, quay thật chậm và cuối cùng vẫn là khởi đi từ một hình ảnh khốc liệt hoang tàn, với khuôn mặt đàn bà rã rời tan tác …

   Đang miên man như thế, thì cánh cửa nhà hàng mở rộng, sáu bảy nguời đến cùng một lúc.

   Mấy bà ngồi trong bàn, huớng về phía người đàn bà mặc áo màu hoàng yến, thì thầm:

-      Kia, bà Hội truởng đến rồi kia.

Họ nói với thái độ thân thuơng ngưỡng mộ.

Và thoang thoảng bên tai lời xì xầm nho nhỏ:

-   Bà ấy không con, chỉ biết làm việc thiện.

   Hảo nhìn lên. Tim đập mạnh. Ơ kìa, chính là người đàn bà Hảo đã nhìn thấy ở bãi đậu xe khu shopping hồi nãy.  

   Trong bộ đồ màu hoàng yến, nguời đàn bà khá đẹp với cái dáng vừa tầm, thanh nhã. Khuôn mặt bình thản đến lạnh lùng, nhưng dễ gây thiện cảm. Vẻ đẹp mang nét chín mùi, so với ngày xưa.

     Khuôn mặt này, Hảo quên làm sao được… Và nó đang kích động toàn bộ thần kinh của Hảo.

     Hảo nhắm mắt lại, toàn thân rúng động. Và Hảo nhớ như in, hoạt cảnh tàn nhẫn lạ lùng của cái ngày vuợt biển thê luơng :

     Phải, hôm ấy, khi nghe cuớp sắp tràn sang chiếc tàu vuợt biển… Một màn múa tabu gợi cảm đã diễn ra ngay ở sàn tàu… Một trận cuời dã man rú lên của loài cầm thú… Lũ cướp biển thỏa thuê luân phiên cưỡng hiếp … Một tấm thân bê bết máu… Và sự rút lui rất nhanh của bọn hải tặc sau khi thỏa mãn... Tất cả bàng hoàng như trong một giấc mộng hãi hùng.

     Người ta đưa mắt bảo nhau nguời đàn bà bị hiếp đó là một tú bà – Và cũng chính nguời tú bà trẻ đó đã là nguời hành động hiến thân, để cứu cho muời bốn phụ nữ đi cùng chuyến (trong đó có Hảo), không bị lũ cuớp hiếp dâm trên biển….

     Cơn ác mộng đã tàn, đám chị em phụ nữ hoàn hồn, vội quơ tấm mền bọc lấy tấm thân rỉ máu của nguời đàn bà lại và khóc rống lên... Chẳng ai biết chị tên gì, tuổi tác bao nhiêu. Có lẽ chỉ một nguời biết - đó là vị chủ tầu, đã chết vì vừa bị quăng xuống biển.

     Nguời đàn bà bị hiếp đã ngất đi như thế hàng giờ, và khi tỉnh dậy, rất trầm tĩnh nói với tất cả phụ nữ trên tầu bằng một âm thanh thảm thiết:

- Mọi chuyện đã qua rồi… Tôi không chết vì số trời chưa cho chết.

   Mọi người òa lên và cúi lạy tạ ơn, chị khua tay, thều thào nhưng rành rọt rõ ràng:

- “ Không cần làm thế… Tôi chỉ xin các chị em phụ nữ hai điều:

* Điều một, khi đến đất liền, không về cùng một chỗ, hãy chia nhau đi mỗi người một phương để sống.

* Điều hai, sau này, có gặp lại nhau, thì coi như không hề quen biết và không bao giờ nhắc lại chuyện hôm nay… Riêng tôi, với tấm thân không còn trong trắng, xin chịu nạn thay cho mọi người “trong trắng” ... Đây là cái duyên duy nhất chúng ta có thể cho nhau trong cuộc đời này…. Kể từ đây, chúng ta là những người xa lạ. Sau này có gặp nhau, tuyệt đối không chào hỏi và không cần đối mặt… Các chị hãy quì xuống cầu xin ơn Chúa cho chúng ta gặp điều may mắn.”

     Lời nói của mấy muơi năm ấy, bây giờ vang vang ở bên tai.

   Hảo kín đáo nhìn người đàn bà lặng lẽ – Một giọt lệ từ trái tim nóng trào ra, cay xé ở rèm mi.

     Giọt lệ của cảm kích, biết ơn.

     Giọt lệ dâng cho lòng tốt bụng từ bi !

Mắt Nâu

 
Page 9 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account