CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Cưới Vợ Trẻ

E-mail Print
User Rating: / 4
PoorBest 

Vợ ông Thuận sau cơn bạo bệnh đã mất cách nay hơn 10 năm. Các con trai và gái của ông bà đều lớn cả và có gia đình nên ông ở chỉ có một mình. Từ ngày vợ mất, ông đã ngoài 65 nhưng vẫn còn tráng kiện và khoẻ mạnh.

 

Cám Ơn Anh

E-mail Print
User Rating: / 4
PoorBest 

Tôi nhớ ngày xưa thuở nhỏ sống trong Cư Xá Hải Quân Bạch Đằng trên đường Lê Thánh Tôn, sát cạnh Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa, mỗi sáng sáng vào khoảng 6 giờ khi bình minh vừa ló dạng tôi nghe tiếng kèn "tò te tò te", giờ của đoàn quân Cọp Biển Mũ Xanh đi theo khúc quân hành thao diễn, nào, ắc ê, 1 2 3 4, 1 2 3 4...

Last Updated ( Monday, 04 August 2014 11:24 )
 

TRỐN TRẠI

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

alt

Bài viết "Trốn Trại"  thật cam go, may  mắn và cảm động của anh Nguyễn Ngọc Thạch, K20 hiện sống ở Minnesota. 

Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa,  thì có một số tù đuợc đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long.  Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy  vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đon vị đầu tiên khi  tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn  5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian  phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng  rừng xanh đất đỏ này.

 
      Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại  Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với  mấy lớp hàng rào kẻm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên  trong che kín, không nhìn thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra  vào là các chòi canh đuợc trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống  Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn  càng sớm càng tốt.
 
      Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ  to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam  châm đuợc treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ  về huớng Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi  phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.
 
      Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay  tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có  cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng  cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình.  Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học  “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã  làm đuợc một cái kềm để cắt kẻm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của  cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một  đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luởi dao.  Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm  trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
 
      Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại  vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối  v.v…Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong  bọc nylon thật kín cho khỏi uớt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận  áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để  cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là  tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu huớng Bắc  bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm. Chúng  tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc  mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong  rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn  sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý  định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.
 
      Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì  ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn  lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè.  Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn  tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện  trốn trại. 
 
      Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần  tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã  đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt  thì bắt đầu chui ra. Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi  truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là  bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để  cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là  khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng  giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh  cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác  ban đêm là phải ở duới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối  tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đem trăng lên dễ  thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ  đêm 23 ta là không tốt.
 
      Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm  1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để  chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi  máy phát điện vừa tắt là chui ngay. Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi  thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên  chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.
 
      Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được  nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra  cầu tiêu, vì cầu tiêu là chổ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để  ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ  để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát  khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc. Vì vậy rất khó gở  ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật  chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn tre.  Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu  chui, thì bất ngờ có hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ  và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau  cùng trốn. Bình chui ra truớc là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế,  tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng.
 
      Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ  nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nuớc với  đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt. Đến lớp  hàng rào kẻm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẻm gai của VC  rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt  phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm  gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào  vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì  mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến chế nên không cắt  dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy  lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xìn hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy  sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn  cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.
 
      Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp  sau cùng cũng mất 5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết  và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất  như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình  xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ  lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng  nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối. 
 
alt
 
      Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng  suối sâu hẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua  con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải  tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống  một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong  là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.
 
      Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ  ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy  túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng  AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm  dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”,  nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì  vậy chúng tôi hết đuờng chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên  5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này  được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời  chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và  họ liền truy đuỗi theo để bắt chúng tôi.
      Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện  chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh  tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn  còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chổ khác. Nhưng trong  lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây  lâu đuợc.
 
      Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa  lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lở có một tiếng động nhỏ như tiếng lá  cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng  rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi  là chưa đi đuợc bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt  xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn  gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chổ này,  nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi  lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với huớng Bắc là hướng qua biên  giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đuờng mòn hay chổ trống,  bất kể là băng qua các đám ôrô duới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng  lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.
 
      Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra  tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng,  tuyệt đối không đuợc gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi  nguời nhìn một huớng, khi đến chổ trống hay gặp đuờng mòn là dừng lại  lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ  đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi  muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng  quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng nguời một. Bỗng đâu có một  tốp nguời Thuợng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên  chúng tôi lủi tránh kịp thời.
 
      Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là huớng ra  quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng  đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con  đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẫn bị kỹ rồi  băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi  dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chổ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ  đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vuợt thoát xa  vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất  là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đỗ mất  hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cỗ  họng. May sao Bình tìm đuợc một giếng nuớc bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn  xuống giếng tối om không thấy nuớc, nhung khi thòng lon guigoz xuống,  múc lên đuợc những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ  đó chúng tôi ăn mì gói với nuớc lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi  ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
 
      Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng  trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì  vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẫn tránh. Chúng tôi ra giữa đám  trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải  một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh.  Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn  tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc vì tranh cao quá  khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó  là Tuờng phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như  là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép  nên rất khó đi.
 
      Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết.  Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẩy của nguời Thuợng rất là nguy hiểm, như  bẩy cò ke, nếu vuớng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có  thể làm bị thương, hay bẩy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu  mủi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì vậy khi thấy khả nghi là phải  dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nuớc vì  đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nuớc uống nên khát dữ lắm.  Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa  miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh  xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nuớc của những trận mưa truớc,  chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đở khát.
 
      Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12  tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi  khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về huớng  truớc mặt, đi thêm vài chục thuớc là thấy suối, một con suối rất lớn.  Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã đuợc phát quang và có các cây to  bị đốt cháy nám đen, một đám nguời đang cuốc đất làm rẩy, chắc là dân  vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no  nê. Sau đó chúng tôi tìm chổ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon  guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi  ăn bửa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.
 
      Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẩy đi  về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi  cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ  chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai  hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp  hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống nhu một trại tập  trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.
 
      Sau khi trời xụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi  trong bìa rừng theo đuờng rầy xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh nằm song song  với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra  đuờng đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám  đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về đuợc đến Sài Gòn thì nhắn dùm  gia đinh họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối  quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm.
 
      Sáng sớm hôm sau lên đuờng đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ  bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náo để nấu  cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái  ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn  trong hầm hố cũ đuợc che phủ bỡi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều  dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chổ chúng tôi  đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau  về nhà.
      Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giởn trên đuờng,  nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà  lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến  một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được  sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng  núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại,  tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao. Một uớc muốn tầm  thuờng, đuợc làm một nguời dân bình thuờng để sống mà lo cho gia đinh  nuôi vợ nuôi con cũng không đuợc. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng  của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”. 
 
      Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý  định lẻn vô nhà dân để xin nuớc uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao  công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành  chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ  xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để  hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn  tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau  trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở  trong bọc nylon, ôm kỹ ở truớc ngực để giử cho khô. Trận mua này thật  lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp trong rừng  cho đến quân Chơn Thành, vì đuờng còn xa mà đường rầy xe lửa thì không  còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um  tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn duới đám tre gai, cho nên chúng  tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm  cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.
 
     Trời  hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại  đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là  lần luợt ra đuờng, lựa khoảng trống giửa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên  đuờng trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là nguời ra đuờng sau  cùng. Khi buớc ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ  đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc  tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu  Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi  phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên đuợc chiếc xe đi truớc  tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa  khoảng Tàu Ô - Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đuờng nguy hiểm nhứt  của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận  chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo  bìa rừng trông ra quốc lộ.
 
      Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi  bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đuờng vào  quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xua quen biết như Trại cưa Lê  Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm  Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngả tư  đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an  Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình  Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xua có các tiệm ăn như Nghĩa  Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ. Đi  ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy  Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán  nước. Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm  soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài  mại hình nhu đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi  kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt  động như thế nào. Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra  đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh  trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ  cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên  ngoài đi ra lục soát xe.
 
      Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì  đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm  kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây  làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong  rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải nguời lạ mặt họ dể nghi ngờ, vì  mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn đang phân vân không biết phải  làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi nguợc trở  lại, ngang qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì  không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
 
      Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy  Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi  nguời tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe,  một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã  thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào  khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà  tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.
 
      Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách,  tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một  lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta  nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thuờng là khách ở trong Minh Thạnh ra  nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong  trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn  than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn muời tuổi tay  cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé  đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đở trống  trải vì có hai em nhỏ che đở phần nào.
 
      Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ  trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên  cạnh trạm kiểm soát, buớc ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng  truớc, trên đó có hai nguời ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công  an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đảng, đâu đưa giấy tờ coi”.  Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra  lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe,  bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa  thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm. 
 
      Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở  đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không  có gì trở ngại. Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát  rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài.  Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình  giấy tờ và nộp tiền mải lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu  ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để  về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp  thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi. Nhưng khi  tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải trình ra một  thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đuờng hay là giấy căn cuớc,  mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới  nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi  thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ  hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi  không có thứ giấy tờ nào hết. Tôi vào quán nước kêu ly nuớc đá chanh vừa  uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ  ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là  sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi  thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi  trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi  tiết đuờng đi nước buớc, làm sao vô nhà, đi vô ngỏ hẻm nào v.v….Tôi chỉ  hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.
 
      Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng  tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi  bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đuờng đi  tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết  giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói  là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình  không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng  và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc  anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không  có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm soát  Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn  xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài  Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên  đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.
 
      Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như  bơ vơ lạc lỏng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải  là thủ đô Sài Gòn năm xua, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một  “Hòn Ngọc Viễn Đông”.  Nay  tôi thấy trên đuờng toàn là xe đạp, mà nguời nguời trông lam lũ tả tơi,  không cuời không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.
 
     Khi  đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo.  Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra  mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”.  Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin muợn chị 50 đồng để  trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi  rồi và đám con nít đa tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là  tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho  biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vuợt biên  đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dỏi,  cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đuờng đón  xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau.  Truớc khi đi tôi còn hỏi muợn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là  loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi  muợn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị  sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.
 
      Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền  tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sửa, rồi mới ra đón xe  autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây,  tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải  tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả.  Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa  bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đuờng xó  chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể  trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.
      
      Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin  cho vợ tôi biết. Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất  lo sợ có nguời theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho  mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn  trại. Tôi đang ngồi uống nuớc đá chanh ở xe nuớc đá và định chổ ngủ qua  đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và  một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò  để về Mỷ Tho.
 
      Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một  trong hai nguời trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng  và có dặn là nếu ai có thoát về đuợc Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ  biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở  gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa  sáng hẳn, đuờng vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chửa lửa có vài tên  công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi  ngang qua. Sau cùng tôi tìm đuợc nhà của Thạch, tôi gỏ cửa một hồi thì  có nguời ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá  sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà  đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho  gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ  sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì  về hai nguời trốn chui theo, có thoát đuợc không và bây giờ ra sao.
 
      Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi  có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ  mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục  đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên  tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở  bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi  vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi  để mua vé xe.
 
     Tôi  vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh  bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai  biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con  tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết  là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ  ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao  lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi  cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì  không biết là về Mỷ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi  đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỷ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy  đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo  cho các con.
 
      Tôi trở ra chổ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẫn  thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân, chị bảo lên xe đọc báo này nguời ta  tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các  trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục  đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân  Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.
 
      Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho  biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phuờng 4 ở bến xe này.  Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”.  Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có  một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được. Tôi giả bộ như thiệt  nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc.  Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền. Ra tới  quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật  mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và  coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp  xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về  nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật  nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.
 
      Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là  cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt  tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má  tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần  áo ở trong nhà thương Mỷ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết  là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi  lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng. Thì ra em tôi chạy  qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì  vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho  tôi.
 
      Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo  sợ, vì sợ công an theo dõi. Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây  lâu thế nào cũng bị bại lộ. Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là  chuyện dễ dàng.  Phần thì không có tiền, phần thì không dám  đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc  đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên  phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên  bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển  Vũng Tàu, nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát  không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy  lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng. Tôi dự định nếu không tìm được  đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng  chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.
     Vợ  tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của  tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống  lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở  Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào  khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời  bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi  Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của  em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều  quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo  tôi đi theo luôn.
      Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng  đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà  Nội. Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi  ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng  bôn ba vô định này. Ở lại Mỷ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì  cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây  không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng  niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã  tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi  đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có  nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì  trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để  đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi  qua cầu mới nhảy lên lại.
 
      Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền  Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế  đang sửa chửa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi  xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ  điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao  cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp. Ở đây có một  trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở  đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm  lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn,  chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một  khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác  tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe  khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn. 
 
      Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ  xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở  nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó  anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách  cho chuyến trở về. Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị  bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu  đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân  Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm  nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn  vàng.
 
      Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp  công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có  gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi  tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là  tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này.  Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo  cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì  tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy  vuợt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp  sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi  ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng  có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân  An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.
 
      Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối  rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa  cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới  nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng  chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi  đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm  nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai  đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe  đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.
 
      Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui  vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị  VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên  Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô  trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì. Sau khi sắp lại đống  chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới  gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là  kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói  muối.
 
      Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới  đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới.  Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn  ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi  biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi  đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ  đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao,  nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.
      Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe  trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã  Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì  đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống  chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên  vị trí củ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi  phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc  đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng  họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình.  Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị  lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh  rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên  ngoài không thấy không biết.
      Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng  nhạc của những bản nhạc ngày xua. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những  tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc.  Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng  tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra  đuợc. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba  tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi  không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng,  mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh  đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.
 
      Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh  một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ  xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn  nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi  và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không  dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.
 
      Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền  Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc  uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ.  Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên  nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các  câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông  tích.
     Ban  ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời  thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy  con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi  biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống nhu khu  đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ  là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi  đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.
      Uống nuớc phong tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng  rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn  cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt  người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua  một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng  biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng  Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng  vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ  địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe  vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế,  đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng  vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển  sách đó ngay.
 
      Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên  lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây  họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên,  một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con,  nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến  noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ  lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.
      Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc  biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn  chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm  soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu  thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra  sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì  không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự.  Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá  mà còn xe lửa thì tốt hơn.
 
alt
 
      Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng  Kompong Som tức là Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao,  nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi  đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả  bằng vàng, ít nhứt là hai lượng.  Trong mình tôi chỉ đuợc  hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng  Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây  giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống  đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.
 
      Buổi trua hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm  Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn  lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu  nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết,  mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất  thật là nhanh.
 
      Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi,  chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy  ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn  xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành  phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để  chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm  kiểm soát này một cách dễ dàng.
 
      Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá  giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là  yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi  xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua  tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành  nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở  bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng  trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và  lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên  tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.
      Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung  quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an  biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an  biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu  cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào  của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng  sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng  sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía  trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần  đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là  một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều  tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.
      Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất  lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân  Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ  còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi  đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công  an thấy sẽ biết ngay.
 
      Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của  công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên  nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu,  thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu,  nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện.  Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi,  truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên  truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm  cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở  trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy  và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì  không đi.
 
      Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên.  Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu.  Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài,  bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những  chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là  thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng  tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.
 
      Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi  hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân  của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ  cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi  đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ  chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà  xe loại lớn có thể chạy đuợc.
 
      Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm  chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu  thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi  để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta  ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ  thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng  như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm  cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện  vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải  cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây  rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan,  mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì  lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở  đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.
 
      Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán  tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng  tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi  thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về  đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy  hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải  vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang,  khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa  thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền,  vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi  quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi,  chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới  mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi  hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì  Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ  bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi  trời tối.
 
      Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc  không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo  lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn  qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy  chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng.  Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát  nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào  ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.
 
      Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc  bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài  xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ.  Chúng  tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng  tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu  có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng  tôi sẽ bị phát giác ngay.
 
      Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía  cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám  tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng  4 , 5  giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi  đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một  chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc  thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu  không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn  nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.
 
alt
 
      Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc  tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra  khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân  nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho  biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên  tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì  có thể xin tị nạn đuợc.
 
      Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân  nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên  tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác  kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát  mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó  khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng  bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm  tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.
 
      Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ  là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến  biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này.  Nhìn  lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc  thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi  cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với  cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên  Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng  xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì  trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các  nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.
 
      Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo  dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao  mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính  đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên  tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn  chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì  tới bơi ra tàu.
 
      Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an  đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có  lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở,  nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại  mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc  nó.
 
      Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí  buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và  Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu  và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như  cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì  về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân,  không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu  lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy  nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc  vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.
 
      Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động  liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía  trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ  tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô  theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần  lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu  có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu  ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng  vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
 
      Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì  chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên  công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu  đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ  trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ  chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi  sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.
 
      Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và  quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín  đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt  động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc  mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.
 
      Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một  lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho  chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi  xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó  phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi  đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp  duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa  rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo  xuống.
 
      Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là  khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không  có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che  thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu  thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy  có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn  tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba  đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không  có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im  trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng,  không được thở mạnh hay ho hen.
 
      Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ  quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở  lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng  quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”.Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết  là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà  chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng  mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang  rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.
 
      Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn  trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến  bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc  càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra  mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ  chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ,  chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn  nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.
 
      Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra  khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời  hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách  đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật  nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.
 
      Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng  đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả  lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và  trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng  Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào. Lúc đó  quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không  giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh  Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông  vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý  lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn,  thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ  sẽ giết tôi.
 
      Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi  liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu.  Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long  và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh  xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về  công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi  mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu  đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi  thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông  cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để  bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.
 
      Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với  chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho  chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi  phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm  ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được  dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên  dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một  bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như  đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng  thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.
 
      Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng  tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho  chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp  qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc  tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy  thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò  rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có  mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho  các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US  dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc  khi lên bờ.
 
      Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi  chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt  đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi  con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất  lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe  vuợt biên bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng  gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời  thật là ghê rợn.
 
      Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ,  trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại,  trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo  thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền  truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần  gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức  lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.
 
      Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú  Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng  tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái  đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ  tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng  tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá  vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm  việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ,  và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ,  vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ,  nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm  trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa  tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.
 
      Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay  tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27  tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây  hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày  truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là  tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin.  Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về  cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an”, đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến  nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980.  Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết  Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng  và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.
 
      Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi  rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy  kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên  rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và  người Mã Lai.
 
      Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại  Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng  ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ.  Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc  hôn lên Lá Cờ  Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.
    
      Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng  Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8 dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc  phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò  nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang,  trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi  muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như  một tấm thảm xanh.
 
      Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong  trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây,  đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách  trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là  cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán  chui qua các nhà.
 
      Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây  khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại  đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của  trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp  phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.
 
      Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên  được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc  thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn  không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa  người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có  bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức  đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng  là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến  ở Phú lợi Bình Dương. 
    
      Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều  nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một  ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng  hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết.  Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày.  Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.
 
      Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về  cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh.  Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long  và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.
 
      Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của  thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep  Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp  cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do.  Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên  đuợc.
 
      Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ  quan Tị nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã  mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị  nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.
 
      Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi đuợc vào quy chế thường trú,  năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc  nạp đon xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ  tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày  30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh  tôi đuợc đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được  sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.
    
     Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho./.
                            
Nguyễn Ngọc Thạch, K20

 

Last Updated ( Sunday, 20 July 2014 19:31 )
 

Viếng mộ.

E-mail Print

Shadow People

 

Nguyễn thị Mắt Nâu

 

       Vân gặp nguời đàn ông ấy ba lần, chỉ tình cờ, nhưng Vân nhớ, vì nhân dáng đặc biệt cùng bộ quần áo bốn túi mầu tím than đặc biệt. Nhất là trên tay, lần nào cũng một cành hoa huệ trắng. Ông lối tuổi chừng 58, thuờng ngồi rất lâu gần như bất động truớc tấm mộ bia còn mới, nét chữ trên mộ bia nói lên điều đó:

                                 HOÀNG BẠCH HUỆ

                                 Sinh 1969 - Mất 2008

                                 Huởng duơng 39 tuổi

      

       Nắng buổi trưa nhuộm vàng trên cỏ.

       Nhìn nghĩa trang êm ả, nhìn mộ mẹ im lìm, lòng Vân buồn vuơng vất.

     Ngoài kia, mặt đuờng vẫn đông xe qua lại, nhưng Vân thấy lạc lõng, trong thế giới của những nguời không còn trên duơng thế.

     Và mỗi lần nhìn những mộ bia san sát, trong khoảnh khắc, Vân thấy cuộc đời lùi lại. Mọi ham muốn thuờng tình như: tài danh, bổng lộc, bóng sắc, tiền tài… chỉ còn là một hư vô thấp thoáng, muộn phiền.

     Cúi xuống nhặt mấy chiếc lá vàng rơi trên mộ mẹ, xoay trên tay một lúc, Vân buông lỏng cho những chiếc lá bay theo gió … Vèo … Đời chỉ là như thế !!

Vân cúi lậy, đứng lên chuẩn bị về.

     Cùng lúc, nguời đàn ông bên kia đứng dậy, dáng vội vàng hấp tấp, như sợ bị bỏ quên. Ngôi mộ ấy cách mộ mẹ Vân chừng năm buớc. Vân hơi ngạc nhiên thấy nguời đàn ông bật khóc, khóc thật tự nhiên, sau đó cuời ngơ ngẩn, rồi gục xuống trong dáng vẻ chơ vơ tội nghiệp.

     Lén nhìn ông, rón rén đeo túi xách vào vai, thật nhẹ, Vân không muốn khuấy động đến nguời đang gục khóc bên nấm mồ mới đắp. Nhưng mới quay nguời đi nguời đàn ông bên kia vùng ngẩng đầu lên, đôi mắt còn uớt sũng, gọi Vân mếu máo:

-      Cô ơi, khoan về đã.

Vân giật nẩy mình.

     Ánh mắt ông khẩn khoản. Nhìn vào đó, Vân thấy một mảnh trời tê tái. Vân lùi một buớc, hai vai chùn lại. Nguời đàn ông nói ngập ngừng đứt quãng:

-      Xin lỗi. Nếu có thể …. Cô ơi, khoan hãy về … có đuợc không cô …?

Vân miễn cuỡng:

-      Dạ đuợc … ông cần tôi giúp điều gì?

Buông thõng hai tay, nguời đàn ông nức nở:

-      Hãy giúp, nghe tôi nói.

Vân hốt hoảng ấp úng:

-      Ông có sao không?

Nguời đàn ông khoát tay:

-      Không, không sao… Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi.

Ông nói một tràng xin lỗi, sau đó ra dấu mời Vân ngồi xuống.

     Nắng dịu đi một chút.

     Vân e dè. Nhưng không hiểu sao truớc thái độ kỳ lạ của nguời lạ mặt, Vân không có cảm giác sợ, và ngồi xuống.

     Nguời đàn ông đặt bông huệ lên tấm bia, mặt ông nhợt nhạt, màu nắng như nhòa phai trong mắt - một lúc lâu như thế - ông lúng búng cám ơn, rồi nhìn Vân như thú tội:

-      Cám ơn cô đã nán lại …. Tôi đang sợ đối diện với chính mình .. Tôi. Tôi là một nguời anh ham tiền, ham danh, khốn nạn.

     Rồi ông đưa tay chỉ vào tấm bia, nói một hơi như sợ Vân biến mất:

- Hoàng Bạch Huệ là em gái của tôi. Có lẽ cũng trạc cỡ tuổi cô. Da cũng trắng, tóc cũng dài, bị chứng đau tim từ khi rất trẻ, nên quyết định ở vậy, không lập gia đình… Tính tình của em thuần khiết, yếu đuối và yêu hoa huệ trắng. Tuy bác sĩ cảnh giác về chứng đau tim, nhưng em sống khá lạc quan, biết yêu nguời, yêu đời sống chung quanh và hay bảo tôi rằng “Sống đến đâu thì sống, sống hữu dụng, hiền luơng. Em tập buông bỏ và xem nhẹ mọi thứ ở đời anh ạ”. -Tôi biết, em dùng chữ buông bỏ” để nhắc nhở tôi, một nguời anh ôm đồm, nhiều ham muốn, tham danh, ham tiền và cố chấp, nhưng lại phủ nhận mình cố chấp… Hạnh phúc của tôi là nhìn thấy con số trong truơng mục ngân hàng ngày mỗi lớn và có cảm giác cực kỳ thỏa mãn khi nghe những lời tâng bốc vuốt ve. Vợ con không có, chỉ có em, và có thú đếm tiền, rồi đuợc nguời ta khen là thành công ở hải ngoại… Những lúc hai anh em ngồi lại với nhau, tôi thuờng ngạo mạn nói đùa:

- Em thấy đó, anh hái ra tiền, ai cũng phục và khen. Thú lắm!

Em tôi nhỏ nhẹ:

-      Em chẳng thú như anh. Chỉ muốn giúp nguời, khen chê không màng tới.

Những lúc đó tôi rày la nó:

-      Bộ em tuởng tiền và danh dễ kiếm lắm hay sao?

Huệ cuơng quyết:

-      “Em biết là không dễ. Nhưng anh cũng đủ rồi, anh hãy dừng tay lại. Lại nữa, tạo tiền trong thủ đoạn, nhưc đầu chi cho khổ. Anh hãy sống nhẹ nhàng, sống thật. Chạy theo hư danh giả dối, có ngày anh đau khổ” -

     Huệ biết tôi thủ đoạn trong việc kiếm tiền và ưa thích nghe những lời    

     tâng bốc của đám nguời ham lợi, a dua, truởng giả … Và đúng thế, vì

     ham muốn, vì ham những lời khen đầu môi chót luỡi, tôi đã biến thành

     một kẻ vô minh, một nguời đàn ông khốn khổ, một nguời anh khốn nạn

     nhất trên đời… Cô có biết không, em Huệ chết chỉ vì chiều hôm ấy, tôi say

     mê, căng thẳng, ký kết một bản hợp đồng trên một canh bạc lớn …

     chuông điện thoại reo … nhìn tên em trên máy, tôi lờ đi… truớc mắt tôi

     lúc ấy chỉ nhảy múa những con số trên bản hợp đồng mang đến nguồn lợi

     cả trăm ngàn và những lời tâng bốc …. Ván bài kết thúc trong sảng khoái.

     Hợp đồng đã thành công!    Số tiền kiếm đuợc , cộng với những lời thán

     phục, tôi thỏa mãn lòng háo thắng . Ôi chao, cực kỳ sung suớng!.. Nhưng

     khi về nhà, mới hay em đã chết, chết trong tư thế gọi điện thoại, tay

   kia cầm ống thở… Cô ơi, nếu hôm ấy tôi nghe điện thoại … may ra em Huệ

Ông bỏ dở câu, nấc lên, rền rĩ:

-      Trời ơi. Ngày mẹ tôi còn, bà giao Huệ cho tôi và thuờng nhắc nhở rằng: Hãy biết đến tình thân, thuơng đứa em bệnh hoạn, sống đơn giản… đừng u mê chạy theo vọng tuởng vô thuờng…. Thế mà, em Huệ … nguời em khốn khổ thuần luơng, là nguời thân cuối cùng và duy nhất… đã chết, chết vì thằng anh ham lợi , ham tiền, háo thắng… Bây giờ cách em chỉ ba tấc đất, nhưng xa cách muôn trùng… Tay ôm tiền, tôi thấy lòng tẻ nhạt. Đám nguời truởng giả ngoài kia vẫn nức nở khen tôi… Nhưng cô ạ, thật dửng dưng vô vị… Chẳng là gì cả, mà sao nguời trần gian cứ mãi loanh quanh. Ham mê giả trá, vọng tuởng điên cuồng…. Em tôi đã đổi một mạng nguời , mới thức tỉnh đuợc tôi thoát vòng u mê tham đắm!

 

Ông còn nói nữa, lảm nhảm như nguời ngủ nói mê, lời ông như thú tội,như sám hối, như tự mắng. Rồi gục xuống vi đã nói ra đuợc những lời cần nói.

 

Vân đứng dậy. Nắng đã nhạt. Chân buớc chậm ra cổng nghĩa trang. Nghe tiếng vang của chính buớc chân mình. Cô đơn lạc lõng.

Gió phe phẩy trên cao, như xua đi, xua đi cái thèm muốn vô minh của một kiếp nguời.

 

Last Updated ( Wednesday, 16 July 2014 21:29 )
 

Tháng Tư Còn Đó Nỗi Buồn

E-mail Print


Đang giữa Tháng Bảy mà nói chuyện Tháng Tư là không thuận với cảnh. 
Bầu trời Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn chiều cuối tuần thật đẹp. Nắng dịu và gió nhẹ, đủ sức an tâm cho những người khách cao niên trên đường đến dự buổi giới thiệu tác phẩm Black April của tác giả George J. Veith, được tổ chức tại trụ sở Hội Người Việt. 

Black April (*). Lại Tháng Tư Đen giữa lòng Tháng Bảy! Vậy mà cũng thuận lòng người hoan hỉ đón nhận. Có phải mảng quá khứ đau thương của vận nước cưu mang giữa lòng người dân Việt chẳng thể nào dứt khỏi cuộc đời chính họ đã trải qua từ ngưỡng cửa tử thần, đến cửa những trại giam và nông trường lao động khổ sai? 
Không! Không thể nào hằng triệu người dân Việt còn trong nước hay đang lưu vong quên được Tháng Tư Đen tàn khốc đó! Tháng Tư của máu và nước mắt, khi sinh mệnh của đất nước và con người bị bứt tử. Bốn mươi năm đã qua, nhưng tiếng gào thét của sự bức tử còn âm vọng mãi mãi trong tâm trí mọi người. Vết thương tâm linh luôn rướm máu, máu của chính mình, của đồng đội, của đồng bào ruột thịt miền nam Việt Nam. 
Black April của Veith là tập hợp những nguồn máu đó chảy râm ran qua suốt tháng năm dưới hóa thân những giòng lệ đỏ! 

Nếu những trang sử của Việt Nam Cộng Hòa được ghép bởi những di ngôn uất hận. Đời con cháu sau này sẽ hiểu được tinh thần của những chiến binh chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ cho một dân tộc đáng được trân quí như thế nào. Và cũng đáng được truy nguyên những chiến công của họ. 
Mỗi đánh giá về từng đoạn đường của lịch sử một dân tộc, cũng giống như sự đánh giá từng tác phẩm viết về dòng lịch sử đó, cần được phát biểu bằng ngôn ngữ của con tim chân chính được nuôi lớn bởi nguồn sống nhân bản . Mọi chất liệu đấu tranh chống cái ác được phơi bày dưới ánh sáng mặt trời luôn là hiện thực . 

Black April là một sân phơi những chất liệu đó . Qua sóng gió cuộc đời, qua trầm thăng thế cuộc, những chất liệu trung thực này sẽ được đặt trong bảo tàng lương tâm của nhân loại. Mọi tham vọng và ý đồ khuynh đảo quốc gia sẽ phải trả giá bởi chính lương tâm của họ. 

Trở lại với buổi giới thiệu tác phẩm Black April, tại hội trường của Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn, chiều Chúa Nhật 12 tháng 7 năm 2014. Cảm nhận của tôi đầy những bồi hồi . Bồi hồi qua các giải trình từ tác giả và các diễn giả về nội dung những chương quân sử của quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào những năm cuối của cuộc chiến đầy những ấn tượng bi thương! Bồi hồi vì sự cảm Kích tinh thần chiến đấu của một tập thể quân đội chỉ biết tiến chứ không lùi bước trước kẻ thù cọng sản xâm lăng. Bồi hồi vì được gặp lại vài vị chỉ huy từ tham mưu đến chiến trường, mà qua những năm quân vụ tôi đã có dịp diện kiến và phục lệnh. Bây giờ tôi được gọi những cấp chỉ huy này là niên trưởng. 

Đặc biệt, với Trung Tướng Lữ Lan, một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, nơi tôi đã phục vụ lâu nhất và có nhiều kỷ niệm nhất trong suốt thời gian binh nghiệp. Hôm nay được nhìn ông còn sức khỏe khang trang, tôi rất vui. Vui cả những đoạn phim thời sự của thập niên 60 nơi vùng cao nguyên đầy lửa đang khởi hiện trong tiềm thức tôi. Những đoạn phim hùng tráng với những trận thư hùng oanh liệt của những đơn vị dưới quyền ông đối lực với quân đội cọng sản Bắc Việt trên khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật. 
Những thước phim tài liệu về quân sử Quân Đoàn II/QL. VNCH mãi còn đó . Những quyển sách như Tháng Tư Đen của George J. Veith mãi còn đó. Như những dấu tích đau thương mãi còn đó trong tâm khảm mỗi người dân miền nam Việt Nam suốt thời kỳ chiến tranh bảo vệ quốc gia, chống lại sự xâm lăng của tập đoàn quân cộng sản Việt Nam và các thế lực đồng lõa. 

Người viết sử đừng bao giờ nói dối
Trước trăm nghìn câu hỏi của hồn oan!
 
Tôi đã viết những lời thơ như vậy, để cảnh tỉnh những người mon men vào con đường viết sử với những xảo ngôn, vong bản và xu thời. Khỏi phải ân hận trối trăn khi cuộc đời đi vào cõi đất! 

Sau khi chấm dứt phần giải trình về tác phẩm Black April. Tôi đến mở lời chào niên trưởng Lữ Lan với vài gợi nhớ, ông niên trưởng Lữ Lan và tôi bắt tay với nụ cười thân mến trao nhau cùng những câu tâm tình huynh đệ chi binh. Do yêu cầu, tôi có một tấm hình lưu niệm với ông niên trưởng được thực hiện bởi chính ái nữ của ông – Lữ Anh Thư. Đúng là Lữ Anh Thư, một cái tên mà nhiều người biết đến qua các chương trình Lịch Sử và Xã Hội Học tại các trường học Miền Đông Hoa Kỳ (**) 

Tiếp sau sự diện kiến thân tình với niên trưởng Lữ Lan, tôi đến làm quen với một người Mỹ, ông Merle L. Pribbenow – người bạn đồng hành với Veith - tác giả Black April. Merle nói thông thạo tiếng Việt, nên lời mở đầu của tôi được đón nhận với lòng cởi mở. Tôi cảm ơn Merle về sự thấu hiểu tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam Việt Nam suốt hai mươi năm chiến đấu chống giặc bắc phương . Lời cảm ơn đơn giản với sự cảm thông lẫn nhau, được ghi nhận qua tấm hình chụp chung với nụ cười chưa thỏa của tôi và cái mím môi của Merle. 

Trong dịp này, tôi gởi tặng Lữ Anh Thư, Veith và Merle tập thơ Thao Thức của tôi, với ý muốn được gởi chút tâm tư của một trong hằng triệu chiến binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt trong Tháng Tư Đen. Và hơn thế, là sự mong cầu tâm tư thao thức được thẩm thấu vào tấm lòng tuổi trẻ Việt Mỹ có lưu tình tri thức Việt Nam. 

Nhân đây, xin được cảm ơn giáo sư Nguyễn Ngọc Bich, chị Trương Anh Thụy của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông. Cảm ơn quí vị trong ban tổ chức đã thực hiện cuộc hội ngộ khó quên với cả chữ nghĩa và nhân vật trên những trang sử liệu và trong buổi giới thiệu Black April – The Fall Of South VietNam! 

Cao Nguyên 
Washington.DC – July 12, 2014 



Tham Khảo: 

(*) Tác Phẩm Black April: 

 

 

Bơi Trong Cõi Văn Chương Cung Trầm Tưởng

E-mail Print

-Việt Hải LA-

Last Updated ( Wednesday, 11 June 2014 19:53 )
 

Hãy Cùng Đứng Lên Xông Pha Nhập Trận

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Ngày 1 tháng 5 năm 2014 Trung quốc xâm lược ỷ thế nước lớn đã trắng trợn hạ đặt giàn khoan dầu khổng lồ HD-981 trong lãnh hải Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) 120 dặm về hướng Đông và cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa) 17 dặm về hướng Nam. Đây là việc làm mới nhất trong số rất nhiều hành động ngang ngược của bọn bá quyền phương Bắc công khai thực hiện việc ăn cướp đất đai, biển đảo, tài nguyên và thực thi mộng bành trướng, muốn tham lam chiếm lĩnh toàn thể khu vực biển Đông.

Trong lúc tất cả người dân nước Việt căm phẫn thề quyết tâm phản kháng chống lại tới cùng kẻ thù truyền kiếp thì bạo quyền CSVN lại cố tình làm ngơ, phản ứng một cách yếu ớt, ngoại giao chiếu lệ. Chúng thậm chí còn ngăn cản, đàn áp, bắt giam những người yêu nước biểu tình chống quân xâm lược dù họ chỉ lên tiếng một cách ôn hòa, bất bạo động. Thái độ hèn với giặc ác với dân của bạo quyền CS một lần nữa chứng tỏ bọn chúng là những tên tay sai của Bắc Kinh. Một mặt chúng thực hiện những âm mưu làm suy yếu sức đề kháng của dân tộc như duy trì độc tài độc đảng, đàn áp phong trào đòi tự do dân chủ, bần cùng hóa người dân để bá quyền phương Bắc dễ bề thôn tính đất nước, mặt khác chúng ra tay vơ vét, bóc lột, ăn cướp của dân, bán đất, dâng biển cho ngoại bang lấy tiền bỏ túi riêng, bất kể vận nước ngả nghiêng, mặc kệ dân đen đói nghèo rên xiết.

Toàn dân Việt chúng ta, những nông dân chân lấm tay bùn, những công nhân đầu tắt mặt tối, những nhà trí thức còn ưu tư khắc khoải và những bạn trẻ với bầu nhiệt huyết dâng đầy đang sục sôi căm phẫn. Chúng ta còn chờ gì nữa không cùng nhau đứng lên giành lại quyền tự quyết cho chính chúng ta và cho toàn thể dân tộc. Chỉ có vùng lên tranh đấu, một lần cương quyết và dứt khoát chấp nhận một mất một còn với bạo quyền, với quân thù xâm lược chúng ta mới mong thoát khỏi ách cai trị tàn hại của ĐCS và hiểm họa Bắc thuộc đang sờ sờ trước mắt.    

Chẳng ai tin cái đảng hèn có thể

Lèo lái con thuyền giữa cuộc phong ba

Giữ vững quê hương biển đảo sơn hà

Trước nanh vuốt bọn Tàu phù xâm lược

Đã lâu rồi cái đảng quỳ khiếp nhược

Gọi dạ bảo vâng nhục kiếp tay sai

Nhắm mắt làm ngơ cho giặc thị oai

Lấn biên giới, đoạt đất đai sông núi

Đã lâu rồi đảng tham ô luồn cúi

Nịnh bợ quan thầy che chở bảo kê

Bức hại dân đen, tàn độc cùng nghề

Giặc đến sát sườn u mê lúng túng

Để giờ đây cái giàn khoan to khủng

Đang ngang nhiên án ngữ trước sân nhà

Mẹ Việt Nam buồn rỏ lệ xót xa

Oằn mình chịu từng nhát đâm thắt ruột

Mẹ ấp ủ nghìn năm dòng sữa ngọt

Mẹ chắt chiu gom góp những mảng dầu

Dành cho các con cần đến mai sau

Vào những lúc cơ cầu hay khốn khó

Cũng để giúp con vốn nguồn từ đó

Kiến thiết quê hương tỏ mặt với người

Xây dựng nước nhà cường thịnh yên vui

Cho rạng rỡ giống nòi dân Lạc Việt

Mà giờ đây nhìn bọn Tàu quỷ quyệt

Lòng Mẹ đớn đau uất nghẹn vô vàn

Hận đám truyền thù muôn kiếp sài lang

Giận những đứa con ươn hèn bất lực

Những đứa con hư tội đồ nghiệt súc

Bán rẻ non sông bán cả linh hồn

Rước quỷ vào nhà cướp phá giang sơn

Quên nòi giống quên cội nguồn bất khuất

Có nhớ chăng bao anh hùng dân tộc

Phá Tống bình Chiêm, đoạt sáo Chương Dương

Tiếng trống Mê Linh, sóng cuộn Bạch Đằng

Hịch Tướng Sĩ toàn quân thề Sát Thát

Voi trận Đống Đa giặc Thanh chết khiếp

Áo Tây Sơn uy lộng gió Long thành

Những chiến công còn in dấu sử xanh

Câu “Nam Quốc Sơn Hà” chưa phai mực

Phải làm sao hỡi anh em cả nước!

Giặc quậy trong nhà, giặc phá bên ngoài

Tốt nhập cung rồi cờ tính sao đây?

Vua, tướng, sĩ một bầy còn ngơ ngẩn

Hãy cùng đứng lên xông pha nhập trận

Lật đổ bạo quyền giành lại non sông

Quét sạch xâm lăng tỏ mặt anh hùng

Giờ đã điểm dậy bừng bừng khí thế

Quang Dương

 

Hãy Đòi Lại Những Gì Bị Đánh Cắp

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Nguyên Anh (Danlambao) - Được biết sau cuộc biểu tình ngày chủ nhật 11/5 thành công với lực lượng tham gia chủ đạo là giới công nhân thợ thuyền trong nước, cá nhân tôi xin gửi đến các bạn một lời cám ơn chân thành và ngưỡng mộ.

 

Quốc Hận Tháng Tư, Hận Thù Còn Đó

E-mail Print

Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư đang trở về với chúng ta trong niềm ngậm ngùi xót xa hơn bao giờ hết. Thật ra, không phải chỉ đến dịp Tháng Tư Đen hàng năm chúng ta mới nhớ về tổ quốc và tưởng niệm ngày Quốc Hận. Nỗi đau mất nước, mất quê hương, mất người thân, mất tài sản cơ ngơi sự nghiệp phải chăng tuy có lúc khắc khoải âm thầm, có lúc trào dâng mãnh liệt nhưng luôn canh cánh bên mình, nung nấu trong lòng tất cả người dân nước Việt, những người không chấp nhận chế độ Cộng Sản ở trong lẫn ngoài nước.

Kẻ thù của chúng ta, bạo quyền CS miền Bắc VN, với tham vọng điên cuồng, với bản chất hung hăng của quân cướp nước, cộng với sự trợ giúp đồ tể của ngoại bang, đã trắng trợn vi phạm hiệp định Paris 1973, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, tức VNCH. Ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày đen tối nhất của toàn dân miền Nam, ngày tất cả người dân cùng phải chịu cái nhục bại trận và cái tang chung mất nước. Kể từ ngày bi thương máu lệ đó, niềm uất hận, nỗi đau quặn xé trong lòng mỗi người chúng ta vì ngậm ngùi xót xa cho quê hương, vì thương nhớ những người thân đã chết dưới tay CS chưa bao giờ nguôi ngoai.

Quân xâm lược sau khi chiếm được toàn thể miền Nam, đã áp dụng những chủ trương và chính sách vừa thâm hiểm vừa dã man tàn khốc, để đưa người dân trong Nam xuống cuộc sống bần cùng, đói rách, hạ tiện, mất nhân phẩm hầu dễ bề cai trị. Với bản tính hiếu thắng, kiêu căng của kẻ cướp nước, chúng ảo tưởng rằng có thể dùng mọi mánh khóe thủ đoạn, kể cả dụ dỗ ngon ngọt, mua chuộc móc nối, che dấu ngụy biện, thậm chí sử dụng bạo lực quân đội, công an, côn đồ, du đãng để cưỡng chế đàn áp, bắt ép chúng ta phải quên đi mối nhục hận vong quốc. Chúng đã lầm. Những điều bọn CS làm chỉ khiến lòng căm hận của chúng ta càng sôi sục hơn, càng nhận thấy rõ hơn dã tâm của chúng muốn tiêu diệt sức đối kháng của tất cả khối người Việt chống Cộng trong lẫn ngoài nước. Như hai chữ “Sát Thát” đã được xâm bằng máu, thích bằng dao lên da thịt quân dân Đại Việt thời nhà Trần, nhắc nhớ mối căm thù không đội trời chung với giặc Nguyên Mông, hai chữ “Quốc Hận” cũng đã hằn in bằng máu và nước mắt trong trí nhớ, trong tâm tưởng mỗi người dân miền Nam. Nỗi thống hận này sẽ còn mãi trong tim óc, trong xương thịt, trong từng bước đi, từng hơi thở của chúng ta, nhất là của những người từng là nạn nhân của CS.

Mỗi người chúng ta cũng không chỉ mang mối hận CS với tính cách riêng lẻ đơn thuần. Chúng ta còn có trách nhiệm cưu mang và nuôi dưỡng mối hận của những người đã chết vì CS nữa. Đây vừa là bổn phận vừa là nghĩa vụ thiêng liêng bắt buộc. Hàng triệu nạn nhân oan mạng của CS, trong đó những đồng bào vô tội, những thân nhân ruột thịt của chúng ta là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Lý do vì Họ không còn có thể chất chứa mối hận sinh tử với CS và mong có ngày đòi CS phải trả món nợ máu xương. Tuy vậy, u linh oán khí của Họ đã dằng dặc đất trời, trùm phủ núi sông. Oan hồn của Họ chưa thể siêu thoát ngày nào chế độ bạo quyền CSVN còn chưa xụp đổ, và những tên tội đồ đảng viên và tay chân của họ Hồ có nợ máu với dân tộc còn chưa bị đưa ra xét xử. Trong âm thầm vô ảnh, Họ vẫn hiện diện một cách tế vi và thường hằng bên chúng ta dưới nhiều hình thức. Thật ra, Họ vẫn đang “sống” trong chúng ta, phù trợ chúng ta, đồng hành với chúng ta trên mỗi bước đường tranh đấu chống kẻ thù chung. Hãy nhớ rằng trong mỗi con người chúng ta hiện nay đều đang mang một phần anh linh và thể phách của những nạn nhân đã chết vì chính nghĩa tự do, vì không chấp nhận chế độ CS. Chúng ta chống chế độ và con người CS không chỉ cho riêng chúng ta mà còn vì món nợ tinh thần đối với những đồng bào, người thân đã bỏ mình trong suốt thời gian đảng CS hoành hành trên quê hương khói lửa điêu linh nữa.   

Nói vậy phải chăng chúng ta thù dai? Hay chúng ta quá khích, chống Cộng cực đoan? Bạo quyền CSVN thường viện lý do rằng chúng ta lòng dạ hẹp hòi, nuôi dưỡng thù hận, chống Cộng điên cuồng quá khích, không chịu mở rộng vòng tay đón nhận lời đề nghị hòa hợp hòa giải của chúng. Rằng đã qua nhiều năm rồi, giờ hãy khép lại quá khứ, xóa bỏ hận thù để xây dựng tương lai.

Nhưng hãy tự hỏi ai mới thật thù dai, ai mới là kẻ ngoan cố, hẹp hòi, cực kỳ tham ác hiểm độc, là nguồn gốc của mọi oán thù, chia rẽ?

Không kể thời gian trước 1975, thời CS Bắc Việt tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam (vốn đã khét tiếng với những tội ác dã man kinh hoàng của chúng đối với quân dân miền Nam mà sửa sách còn ghi chép đầy đủ), hãy chỉ thử nhìn lại trong 39 năm sau ngày mất nước, bạo quyền CSVN đã và đang đối xử với những người dân của một nửa quốc gia bị chúng cưỡng chiếm ra sao? Chúng đã làm được gì cho dân tộc, cho quê hương? Hay chỉ toàn những tội ác và tệ nạn để gây thêm căm thù, oán hận, khinh ghét và ghê tởm.

Xin tạm chia ra làm hai giai đoạn:

Những tội ác của CS gây hận thù từ 30/4/75 đến 1989

Những năm tháng sau ngày cưỡng chiếm miền Nam VN, với chủ trương và chính sách vô cùng nham hiểm thâm độc, CS đã làm những điều sau đây mà chúng bảo là “vô cùng nhân đạo”, “mở rộng vòng tay”,  “xóa bỏ hận thù”:

  1. Tập trung cải tạo quân dân cán chính VNCH, thực ra là tù khổ sai vô hạn định nơi rừng sâu núi cao, ma thiêng nước độc mà hậu quả là mấy trăm ngàn người miền Nam bị chết vì bị tra tấn, xử tử, đói khát, bệnh tật, kiệt sức.
  1. Đẩy dân đi kinh tế mới để chiếm nhà chiếm đất, cướp tài sản cá nhân đồng thời một công hai việc, giết bớt dân miền Nam cho dân miền Bắc tràn vào thay thế.
  1. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, thực chất là thu gom cướp trắng toàn bộ tài sản, nguyên vật liệu, khí cụ sản xuất, tài nguyên, nguồn vốn lớn của đồng bào miền Nam đem về Bắc chia chác lẫn nhau.
  1. Hợp tác xã kinh doanh/sản xuất, tổ hợp tiểu thủ công, nông nghiệp chỉ là cái cớ để bần cùng hóa người dân lao động, bóp chết tài năng sáng tạo, triệt tiêu năng lực sản xuất và tạo điều kiện cho đám cán bộ địa phương công khai ăn cướp của cải, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn của dân.
  1. Đổi tiền, cấm đường, cấm chợ, cấm tư bản tư doanh, cấm báo chí tư nhân, cấm hội họp với đi đôi chính sách hộ khẩu, tem phiếu sổ gạo, công an khu vực, tổ dân phố, đi khai về trình đã bóp nghẹt bao tử người dân vốn càng ngày càng teo tóp sau ngày mất nước đồng thời kiểm soát gắt gao, hạn chế tự do đi lại, tự do lập hội, tự do ngôn luận… Nói chung người dân miền Nam bị tước đoạt tất cả mọi quyền tự do mà họ từng được hưởng thoải mái đầy đủ trong chế độ VNCH.
  1. Về tôn giáo, các nhà thờ, chùa chiền, miếu đền, nơi thờ phượng đều bị kiểm soát chặt chẽ, thậm chí bị tịch thu, giải tỏa. Tu sĩ bị cấm giảng đạo, bắt hoàn tục, giáo dân bị theo dõi, cấm theo đạo.
  1. Đến nghĩa trang mộ phần là nơi an nghỉ của người quá cố cũng không được yên. Hầu hết nghĩa trang đều bị đập phá, san bằng để cán bộ CS cướp đất kinh doanh lấy tiền bỏ túi. Những nghĩa trang lớn như nghĩa trang quân đội Biên Hòa vì bạo quyền còn e ngại phản ứng bất lợi từ tất cả người dân nếu thẳng tay xóa bỏ nên chúng đã ngấm ngầm phá hoại bằng cách: Một mặt  trồng rất nhiều các loại cây muồng, cây sao, cây có rễ ăn xiên phá đất để hủy hoại các ngôi mộ ở chung quanh. Một mặt đập phá, bỏ cho hoang phế đồng thời ngăn cản, cấm đoán thân nhân của tử sĩ đến thăm viếng, trùng tu, đôn đắp mộ phần. Hành động táng tận lương tâm này đã gây nên sự phẫn nộ trong lòng tất cả người dân Việt vì nó chứng tỏ rõ ràng nhất rằng CSVN vẫn còn nuôi hận thù đối với những người lính VNCH đã tử trận dù chiến tranh chấm dứt từ lâu. Về điểm này, bọn chúng đâu khác chi những vua chúa ngày xưa, lòng dạ nhỏ nhen, cựu thù chết rồi mà vẫn sai đào mộ lấy xác đốt thành tro, trộn vào thuốc súng thần công bắn cho tan xác thêm một lần nữa!
  1. Về mặt văn hóa, CS ra lệnh tịch thu, đập phá, thiêu hủy toàn bộ văn hóa phẩm như các loại sách báo, tài liệu tham khảo, họa phẩm, hình tượng, phim ảnh, băng dĩa nhạc…của VNCH với mục đích xóa sạch những tinh hoa nhân bản, văn minh của miền Nam. Thay vào đó, chúng đưa vào những sách báo XHCN rồi ra sức tuyên truyền, bắt ép người dân miền Nam phải học tập những giáo điều khô khan cứng ngắc của một chủ thuyết phi nhân, sắt máu, lạc hậu, lỗi thời. Chúng muốn biến toàn thể dân miền Nam thành những cái máy không còn biết suy nghĩ phải trái, thành nô lệ sẵn sàng làm bất cứ điều gì chúng muốn.
  1. Phân biệt đối xử giữa người thuộc chế độ VNCH và người của bọn chúng. Quân dân cán chính VNCH đương nhiên bị gạt ra ngoài xã hội, chỉ một số rất ít được lưu dụng vì nhu cầu nhưng chỉ có tính cách tạm thời và không có quyền quyết định một điều gì. Tất cả quân dân VNCH bị coi như những công dân hạng hai. Thân nhân, con cháu những người có dính líu đến chế độ cũ không được vào đại học, bị chèn ép nơi học đường. Người đi làm bị nghi kỵ, theo dõi nơi sở làm. Người ở nhà bị dòm ngó xoi mói bởi công an khu vực và cán bộ phường khóm xã ấp
  1. Dưới chế độ hà khắc, chủ trương trả thù đê hèn của bạo quyền CS, người dân miền Nam đã phải tìm cách bỏ nước ra đi, bất chấp hiểm nguy, vượt biên vượt biển bằng đường bộ, đường biển. Số người mất tích, bỏ xác nơi rừng sâu, khe núi hay đại dương biển cả nhiều không đếm xuể. Thống kê không chính thức lên tới 400.000 người. CS không thể chối cãi là chúng không có trách nhiệm về số lượng khổng lồ những người chết oan này. Chính cuộc xâm lược miền Nam và chính sách tàn bạo của chúng đã xô đẩy dân miền Nam vào thảm cảnh đoạn trường có một không hai trên toàn thế giới. Nỗi kinh hãi lẫn oán hận và ghê tởm CS của người miền Nam nếu có cũng là điều hiển nhiên.

Trên đây chỉ là vài trong số vô vàn việc làm gây phẫn uất căm hờn trong dân chúng sau ngày CS miền Bắc xâm chiếm miền Nam tự do. Thiết nghĩ chỉ những điều đó cũng đã quá đủ để chứng minh CSVN chính là kẻ tạo ra hận thù. Nhưng không phải tội ác của chúng chấm dứt ở đó.

Những việc làm của CS gây oán hận từ 1990 về sau

Sau thời gian thi hành những chủ trương và chính sách sai lầm đưa miền Nam nói riêng và cả nước đi vào con đường bế tắc, kiệt quệ, oán thù chồng chất, bạo quyền CS suốt trong những năm tháng kể từ đầu thập niên 90 cho đến bây giờ vẫn tiếp tục gây thêm đau thương oán hận bằng vô số những hành động thất nhân tâm. Bọn chúng không chỉ gây tội ác với người dân miền Nam mà còn với đồng bào cả nước.

Vin vào chủ trương đường lối kinh tế mới, bung ra thị trường, gọi nôm na theo kiểu đầu gà đuôi vịt là “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” (do chính chúng vẽ vời ra), thay cho Kinh tế tập trung, bao cấp đã bị phá sản, bọn đảng viên cán bộ đua nhau vơ vét làm giàu, tham nhũng hối lộ, lập phe nhóm ăn cắp của công, ăn cướp của dân một cách công khai trơ trẽn. Bọn chúng chia nhau nắm giữ tất cả những công ty, xí nghiệp, ngân hàng, cơ sở kinh doanh quan trọng. Cha mẹ, anh chị em, con cháu, họ hàng và tay chân bọn chúng được giao cho nắm giữ những chức vụ béo bở đầy quyền hành, hái ra tiền dù chẳng có tài cán đạo đức gì. Những tên cùng phe với nhau hợp thành những nhóm lợi ích để bao che thủ lợi. Chúng còn mạnh tay thu gom tài nguyên, đất đai, khoáng sản, lâm sản, thủy sản, nguồn vốn công béo bở, nhờ lợi dụng chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước (thì cũng do chúng tự đặt ra). Khi kinh doanh bị thua lỗ, sản xuất sa sút đình trệ do khả năng yếu kém, tham nhũng, ăn cắp lan tràn, chúng xoay sở chạy tội, lôi kéo ra cả bầy đàn cán bộ đảng viên chóp bu cùng dính máu ăn phần. Sau những màn trình diễn xử án làm cảnh, tất cả lại huề cả làng hoặc chỉ đem vài “con dê” ra “tế thần” cho có lệ vì ngành Tư pháp, tòa án cũng là tay chân bọn chúng và cũng vì rút dây thì động rừng, phe nào cũng ăn bẩn như nhau cả.

Viện lý do thực hiện dự án này, quy hoạch nọ, chúng giải tỏa/cướp trắng nhà đất của dân nghèo, đền bù với giá rẻ mạt do chính bọn chúng ấn định. Khu đất cướp được chúng đem bán cho tư bản nước ngoài với giá trên trời, gấp hàng ngàn lần hơn giá chúng trả cho khổ chủ. Công nhân thì bị bóc lột sức lao động, chèn ép, hạ nhân phẩm, làm tăng giờ, trả lương thấp do chủ nhà máy (đa số là ngoại kiều) toa rập với cán bộ địa phương để ngoảnh mặt làm ngơ. Dân oan hoặc công nhân biểu tình khiếu kiện đòi sự công bằng thì bị đe dọa, trấn áp, đánh đập tàn tệ, thậm chí bỏ tù. Những người dân khác thấy cảnh bất công, tìm đến giúp đỡ đồng bào cô thế thì bị bạo quyền sai công an và côn đồ bao vây, dọa nạt, gây khó dễ trong việc di chuyển và cũng bị hành hung, quấy nhiễu, vu cho tội âm mưu chống phá, lật đổ chính quyền.

Nhiều người dân nghèo không sống nổi ở quê nhà phải tha phương cầu thực, đi làm “lao động xuất khẩu” ở những lục địa rất xa. Các cô gái VN nghèo không đường sinh kế phải xếp hàng khỏa thân cho đàn ông ngoại quốc sờ nắn chọn lựa mua về làm vợ như mua một món đồ vật (thực tế nhiều phần là phải làm đầy tớ, vật thỏa mãn sinh lý cho cả nhà chồng). Trong dịch vụ xuất cảng công nhân lao động, mua bán cô dâu VN, bọn cán bộ CS cũng được những công ty môi giới đút lót để chúng đồng lõa ăn chặn tiền công, ăn cướp tiền bán xác thân của những con người bất hạnh.

Kinh tế, xã hội đã vậy còn các mặt khác thì sao?

Về tài chính thì “tiền vào nhà Cộng như nước tuồn miệng cống”, bao nhiêu tiền bạc của cải đổ vào đám mồm gàu tai quạt, hôn quan ôn vật VC và cái bộ máy tài chính cũ rích rệu rạo ngốn tiền như hạm của chúng cũng không bao giờ đủ. Tiền đồng của CSVN lạm phát theo lối phi mã, người dân không còn tin tưởng vào giá trị đồng tiền và khả năng chi trả của ngân hàng nên không muốn gửi tiền trong đó. Dĩ nhiên, vì ngân hàng nhà nước và các ngân hàng kỹ, nông, công, thương khác chỉ là phương tiện cho bọn cán bộ và đại gia chiêu dụ, phù phép, lừa đảo ăn cướp tiền của dân và của những nhà đầu tư ngoại quốc còn ngây thơ tin tưởng vào lời lẽ ngon ngọt đầu môi chót lưỡi của CS. Do khả năng quản lý yếu kém, hệ thống tài chính và ngân hàng của CSVN đang kiệt quệ, đứng bên bờ vực thẳm khánh tận vì nợ công nợ tư ngập đầu mà không tìm đâu ra nguồn vốn để xoay sở.

Sang đến giáo dục và y tế thì băng hoại, thối nát và chây lì. Bọn cán bộ chóp bu đầu ngành là những cái gương cực xấu, ảnh hưởng vô cùng tiêu cực cho cho toàn hệ thống. Chúng chỉ biết chạy theo đồng tiền và cái ghế ngồi, coi rẻ đạo đức xã hội, liêm sỉ và luân lý chức nghiệp. Thầy cô giáo tìm cách bắt học sinh phải đóng tiền học thêm những lớp luyện thi. Tình trạng mua bán đề thi là phổ biến. Cán bộ có chức quyền ăn hối lộ hoặc gài ép giáo viên trong việc bổ dụng, thuyên chuyển để thỏa mãn dục vọng  Thầy giáo mua/ép dâm học trò hay học trò bán dâm để lấy điểm lên lớp. Nhà thương, bác sĩ, nhân viên y tế ưu tiên chữa bệnh cho cán bộ đảng viên. Những kẻ có quyền chức, đại gia đỏ được hưởng sự săn sóc tối đa, nằm bệnh viện tân tiến, bác sĩ giỏi, thuốc men thừa mứa, ăn uống thỏa thuê. Dân thường thì chỉ được chữa trị nếu có tiền. Ai có đủ tiền trả trước cho dịch vụ y tế thì mới được chẩn bệnh, nhập viện. Ai nghèo túng, khố rách áo ôm thì cứ việc nằm đường chờ chết. Những kẻ cầm đầu bất tài vô hạnh trong hai ngành này đã gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng mà vẫn bình chân như vại dù tội lỗi đã rành rành. Tiếng kêu than, phiền trách, tố cáo của người dân về những tệ nạn trong hai ngành này đã thấu trời xanh nhưng tình trạng đâu vẫn hoàn đó vì bọn chóp bu CS còn đang lo củng cố quyền lực và vơ vét làm giàu, làm gì còn thì giờ lo cho dân cho nước. Hơn nữa dẫu thay người cỡ “Vũ Như Cẩn” bằng “Nguyễn Y Vân” thì cũng là sâu dân mọt nước như nhau! Bọn chúng cùng một ruộc, lấy đâu ra những bậc thiện lương tài đức để cầm cân nẩy mực?

Đến giao thông thì đường xá, cầu cống chật hẹp xuống cấp, lưu thông ứ đọng. Tai nạn xe cộ xảy ra hàng ngày do thiếu kế hoạch tu sửa hợp lý và mở rộng kịp thời. Người dân thù ghét coi thường cảnh sát và luật lệ giao thông cũng vì tai tiếng của ngành này. Sự kiện cảnh sát giao thông vừa hống hách, hành xử vũ phu, coi thường mạng sống của người dân vừa lợi dụng quyền bắt người phạm luật để lấy tiền đút túi đã được phản ánh rất nhiều. Về xây dựng thì các công trình xây cất, nhà cửa, cầu, hầm đều dưới tiêu chuẩn an toàn, có khi đổ xập bất ngờ gây tai nạn chết người thảm khốc vì tệ nạn móc ngoặc tham nhũng, ăn hối lộ, tráo vật liệu trong khi gia công và nghiệm thu. Tại nhiều tỉnh miền cao nguyên, phương tiện giao thông và đề xuất xây dựng còn thiếu thốn đến độ các em học sinh phải đánh đu trên những cây cầu treo đã mục gẫy nghiêng đổ để đi học hoặc phải chui vào bao nhựa để người lớn đưa qua sông qua suối.

Về nội an thì tội ác trộm cắp, xì ke ma túy, cướp của giết người nhiều như rươi. Không ngày nào không có tin tức về giựt rọc, trộm cướp, đâm chém, cờ bạc, hiếp dâm, giết người, nhiều trường hợp rất dã man rùng rợn, bất kể đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục lâu đời. Chính quyền, công an thì bất lực trước những tệ nạn xã hội này nhưng lại rất sành sỏi và nhanh nhạy trong việc quây bắt, trấn áp, tra tấn những người biểu tình yêu nước đòi tự do dân chủ hoặc chống quân Trung Cộng xâm lăng lấn chiếm biên giới, biển đảo của quê hương. Người dân sống trong cảnh hồi hộp lo âu thường trực, không biết lúc nào tai nạn sẽ xảy đến cho mình. Tất cả chỉ vì thượng bất chính thì hạ tắc loạn.      

Với bản chất tham lam độc ác lại thêm thói quen chuyên dùng thủ đoạn lường gạt cố hữu từ thời bám váy dân nghèo nhúm nhen lập đảng của đầu thập niên 30, tập đoàn thống trị độc tài độc đảng CSVN hiện nay chỉ biết một điều duy nhất là trong thì cướp bóc, vơ vét và làm giàu cho chính bản thân chúng bất kể cuộc sống của người dân có ra sao. Ngoài thì kể từ sau Hội nghị Thành Đô hồi tháng 9 năm1990, bọn chúng rõ ràng đã quy phục Trung Cộng. Nội dung cuộc họp bị giấu nhẹm nhưng những diễn tiến xảy ra trong thời gian sau đó đã chứng minh những “đỉnh cao trí tuệ” sang triều cống thiên triều chỉ là để xin tha tội và khi về đã đồng lòng răm rắp tuân theo chỉ thị, thực thi tất cả những gì bề trên của chúng đòi hỏi. Chúng nịnh bợ ve vuốt Tàu Cộng đến hèn hạ. Chúng chấp nhận ký những hiệp định về biên giới và biển đảo có lợi cho Tàu, mở cửa ngõ biên giới cho quân Tàu tự do qua lại, đóng chốt, xây dựng căn cứ, mai phục lâu dài tại những địa điểm chiến lược hiểm yếu nhằm mục đích thôn tính đất nước ta trong tương lai. Bọn lính Tàu giả dạng công nhân có vi phạm luật pháp VN thì công an VN cũng không dám bắt giữ, tòa án không dám xét xử. Bạo quyền CSVN còn ngậm tăm không dám phản đối TC khi Bắc Kinh công bố “đường lưỡi bò”, tự tiện phách lối chiếm trọn 80% diện tích biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong đó. Hèn hơn nữa là bọn chúng chỉ dám phản đối suông lấy lệ khi tàu hải giám, tàu tuần của TC cấm cản, chận đánh, phá hoại, gây thương tích cho ngư dân, bắt giữ trái phép, đòi tiền chuộc nhiều lần các tàu thăm dò dầu khí và tàu thuyền đánh cá của dân ta trong hải phận và chủ quyền VN. Bọn chúng còn thậm chí cắt dâng biển đảo đất liền cho chủ với mục đích mong được Tàu Cộng bảo bọc, chống lưng để yên tâm đè đầu cưỡi cổ dân lành, vinh thân phì gia và muôn năm trường trị.

Đất nước, giang sơn của tổ tiên mà cũng chỉ còn là món đồ để mua bán đổi chác trong tay bạo quyền CSVN thì bọn chúng xá gì sự sống còn của gần 90 triệu đồng bào (dĩ nhiên đã trừ ra cỡ một triệu đảng viên CS cốt cán). 39 năm trôi qua quá đủ để chúng ta không còn nghi ngờ bản chất xấu xa hèn với giặc, ác với dân, gặp ai cũng lường gạt, thấy gì cũng vơ vét của con người CS. Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư năm nay là dịp để chúng ta nhắc nhớ nhau thêm những tội ác của CS với đất nước, với dân tộc để mà càng cảnh giác, càng nuôi thêm mối căm hận bọn chúng. Ngày nào bạo quyền CSVN còn thống trị trên quê hương, chúng ta còn cương quyết tranh đấu chống lại. Hãy không tin, không nghe, không làm, không nhận bất cứ điều gì CS dụ dỗ mời mọc. Kinh nghiệm cho thấy CSVN chỉ có thể bị xóa bỏ, tiêu diệt chứ không bao giờ có thể hòa hợp hòa giải, cùng nắm tay chung sống.

Quang Dương (Quốc Hận 4/2014)

 

ÔNG HẢI QUÂN

E-mail Print

 

Chiếc ghe nhỏ cũ và xấu có mái che lụp xụp đang lướt đi tới một khúc sông vắng, trên đường cũng vắng hoe cô quạnh chẳng thấy bóng người qua lại, xung quanh chiếc ghe toàn là cây bần, cây dừa nước và vô số các loài cây hoang dại um tùm làm hẹp và tối cả khúc sông, những loài cây dại mà Thư không biết tên dù Thư đã có thời học đại học khoa học môn thực vật Thư đã đi tới vùng Biên Hoàđể tìm hiểu về nhiều loại cây.
Trên bờ và dưới sông đều hoang vu im ắng như nhau, có lẽ nơi này hiếm khi ai qua lại.
Anh chèo ghe là dân địa phương đã rành rẽ chọn chỗ vắng vẻnhất để cho chiếc ghe neo lại tạm trú, chiếc ghe nằm lọt trong bụi cây dại âm u.
Anh ta nói nhỏ dặn dò Thư:
-        Anh nằm trong ghe đừng ló mặt ra ngoài nghen, đợi chiều tối chúng ta ra ghe lớn.
Thư vừa đùa vừa thật:
-        Anh cứ nói to lên, dưới sông trên bờ chỉ có anh và tôi với ruồi muỗi chứ có ai nữa đâu mà phải thì thầm…
Anh chèo ghe cười lỏn lẻn:
-        Cẩn thận cho chắc ăn mà anh Hai.
Thế rồi anh chèo ghe ngồi ở cuối ghe còn Thư nằm trong lòng ghe.
Thời gian chờ đợi cho chuyến vượt biên căng thẳng hồi hộp làm sao và thời gian trôi chậm làm sao.!.
Gía mà lúc này Thư có nổi hứng thay đổi ý định muốn trở vềnhà cũng không được nữa, vì Thư chẳng biết đường nào mà về, đường sông đường bộ đều hoang vu như nơi này đã bị cuộc đời lãng quên hoặc vô danh vô thừa nhận trong bản đồ đất nước Việt Nam và nhất là anh chèo ghe rõ ràng đang canh chừng Thư như canh chừng một tên tù binh...
Thư sẽ là hoa tiêu, là nhân vật cần thiết cho chuyến vượt biên này, người ta đã ưu ái cho Thư nên canh chừng Thư là đúng rồi. Tới giờ phút này Thư mà bỏ cuộc thì người ta cũng …dí dao bắt Thư lên ghe lên tàu cho bằng được, vì tổ chức một chuyến vượt biên mất bao công phu, bao sự sắp xếp mới đến ngày ra khơi...
Đánh đổi việc Thư làm hoa tiêu,Thư không phải trả tiền mà còn có thể mang theo một hai người thân nếu muốn, Thư định dắt đứa em gái đi nhưng bố đã ngậm ngùi cản lại:
-        Tuy là người ta cho đi không, nhưng chuyện vượt biên bao nhiêu rủi ro, biết được hay thua mà vơ vào, thôi thì cứ lo cho thân con sống chết cũng đành.
Bố nói đúng, mạng Thư là “mạng cùi” thì sẵn sàng thí mạng.
Thư đến thành phố Mỹ Tho được chủ ghe sắp xếp cho ở nhà một người thân của họ, chủ nhà đưa Thư ít tiền tiêu vặt.
Hôm sau Thư ăn mặc nhưdân miệt vườn với bộ đồ cũ và đầu đội chiếc mũ tai bèo “thanh niên xung phong”cũng đã cũ bèo nhèo. Thư ra chợ Vòng Nhỏ ăn tô hủ tiếu Mỹ Tho rồi đi chuyến xe lôi ra bến phà Rạch Miểu, qua bên kia sông Thư như người khách đường xa vào ngồi quán nước để chờ người ra đón.
Người này đưa Thư xuống một chiếc ghe nhỏ chèo tay và đưa Thư đến đây. Bây giờ khoảng 2 giờ trưa, như vậy là Thư sẽ nằm chèo queo trong lòng ghe chật hẹp này thêm mấy tiếng đồng hồ nữa chờ đêm tối đến..
Thư gối tay lên đầu, mái tóc mới cắt ngắn. Chiều hôm trước ngày Thư đi Mỹ Tho chị Thái của Thư đã cắt tóc cho Thư.
Cửa tiệm cắt tóc và uốn tóc của chị Thái mở ra trước cửa nhàế ẩm khách vì chị mới đi học nghề và ra cửa tiệm nên bị hàng xóm chê tay nghề còn non. Sau 1975 chồng đi tù cải tạo chị lo học nghề may, rồi học nghề uốn tóc mà chẳng sống được với nghề nào.
Thư nghĩ nếu đi chuyến vượt biên này thành công thì sẽ giúp đỡgia đình để chị Thái đỡ vất vả hơn. Mẹ mất mấy chị em sống quây quần với nhau cùng với bố.
Chỉ trong một thời gian ngắn vài ba năm mà cuộc đời Thư đã qua bao thay đổi. Thư tốt nghiệp đại học sư phạm Sài Gòn và được bổ nhiệm về dạy học tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ năm 1974, sau 1975 trường đổi tên An Cư.
Năm 1979 Thư bị ép phải “tình nguyện” đi bộ đội. Những buổi họp tại trường người ta luôn hô hào khẩu hiệu: “Sẵn sàng đi bộ đội khi cần thiết”và gọi đích danh một số giáo viên để khuyến khích họ tình nguyện trong đó có Thư.
Các học sinh đoàn viên của trường cũng được phát động chiến dịch tình nguyện đi bộ đội.
Tình hình chiến sự đang gay gắt, quân Trung Quốc gây hấn ởmiền Bắc. Trong miền Nam  thì bộ đội sang Campuchia để “giúp đỡ” quân sự cho người dân Campuchia thoát khỏi Khờ Me Đỏ.
Hôm trường An Cư tổ chức liên hoan mừng thày trò của trường tình nguyện đi bộ đội vượt chỉ tiêu, có một nam sinh lớp 11 trong số các em học sinh đoàn viên tình nguyện đi bộ đội đợt này đã  hiên ngang ra hát giúp vui văn nghệ với bài “Hãy yên lòng mẹ ơi”. với điệu nhạc câu hát tưng bừng thúc giục như: “ …Ai…như giục lòng ta, mẹ ơi có nghe, núi sông vang dậy…”
Hát xong nó hân hoan cúi chào khán gỉa giữa tiếng vỗ tay cổvũ thì mẹ nó cầm chổi chà đứng chờ sẵn phía sau sân khấu, thằng con vừa vào là bà mẹ túm áo nó lại quật cho nó một trận chổi chà tơi bời:
-        Mẹ ơi hãy yên lòng . Nè, nè…nè….
Mỗi tiếng “nè” là bà quật chổi vào người thằng con tới tấp hơn. Bà rít lên::
-        Thằng con khờ ơi, ai biểu mày tình nguyện đi bộ đội hả?hả? Mày muốn phơi thây ở Campuchia hả? hả?.Hay mày muốn chết mất xác ở ngoài Bắc vì bọn Trung Quốc hả? hả??.
Thế mà chẳng hiểu bằng cách nào hôm thày trò lên đường đến  trại huấn luyện quân sự ở Trà  Bay huyệnThốt Nốt thằng nhỏ cũng hớn hở có mặt.
Còn Thư thì lòng dạ não nề.
Chị Thái  từ Sài Gòn đến Trà Bay  thăm Thư, chị buồn đau thương cho thằng em phải gĩa từ phấn bảng, giã từ lũ học trò. Hai chị em cùng toan tính  nếu học xong khóa huấn luyện quân sự ở Trà Bay họ đưa Thư ra miền Bắc thì chưa biết tính sao, nếu sang Campuchia thì Thư sẽ tìm đường vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan., may ra tìm được bến bờ tự do còn hơn là vào sinh ra tử cho một chủ nghĩa mà Thư cũng như những người dân miền Nam Việt Nam đều chán ghét..
Tội nghiệp chị Thái một chuyến đi buồn mà còn gặp nạn, chịmua vé xe đò từ SàiGòn đến Cần Thơ gía chợ đen gấp đôi gấp ba gía chính thức, thằng cò mồi vé dẫn chị lên xe đò và đòi tiền ngay tại chỗ thay vì chị sẽ trảcho anh lơ xe đò khi xe chạy. Thế nên chị phải trả tiền đến 2 lần cho cái vé chợ đen
May mắn cho Thư, sau khoá huấn luyện quân sự ở Trà  Bay trường An Cư đã gọi Thư về dạy học lại vì thiếu giáo viên. Thư không biết đâu là sự thật? hay là họ đã thử lòng Thư? Sau đó một thời gian trường đã đề nghị cho Thư làm hiệu trưởng một trường trung học ở Long Tuyền, cách thành phố Cần Thơ khoảng 12 km, không biết vì “thành tích” tình nguyện đi bộ đội của Thư hay vì Thư đã đạt danh hiệu giáo viên giỏi của tỉnh Hậu Giang?…
Thư không muốn nhận chức vụ này vì càng lớn chức càng nhiều ràng buộc và trách nhiệm mà mục đích của Thư là đang tìm đường vượt biên, luôn chờ thời đi vượt biên.
Thư có một bạn cùng chí hướng tên Tuấn tốt nghiệp cùng khóa đại học sư phạm, nhưng Tuấn bỏ dạy học làm nghề tự do cũng vì mục đích vượt biên. Tuấn là dân bản xứ Mỹ Tho đã đứng ra tổ chức chuyến vượt biên như rủ thêm một số bạnđồng hành, mua ghe thuyền cho đến máy móc. Toàn là “cây nhà lá vườn” kể cà tài công và hoa tiêu nên không tốn kém tiền bạc nhiều.
Thư là hoa tiêu dù nghiệp dư nhưng Tuấn tin cậy vào khả năng thông minh nhạy bén của bạn,. Thư học lóm “nghề” hoa tiêu từ một anh bạn là sĩquan hải quân đi tù cải tạo về, anh hải quân còn đưa cho Thư một cuốn sách bằng Anh Ngữ anh mang về sau chuyến sang Mỹ tu nghiệp. Với khả năng tiếng Anh Thư đã học xong ở Hội Việt Mỹ đường Mạc Đỉnh Chi Sài Gòn và nếu cần thì tra thêm tự điển thì đọc và hiểu cuốn sách này rành rọt không mấy khó khăn.
Để chắc ăn thêm Thư đã vào thư viện quốc gia ở đường Nguyễn Du Sài Gòn tìm đọc thêm những sách liên quan đến đi biển.
Thế là Thư tự tin đảm lãnh trách nhiệm làm hoa tiêu cho chuyến vượt biên “nhà nghèo”  tự biên tự diễn này..
Từ Cần Thơ mỗi lần nghỉ dạy là Thư về Sài Gòn la cà ra khu chợ trời để tìm kiếm mua la bàn và bản đồ đường biển.
Dân chợ trời khôn khéo lắm, để không bị công an nghi vấn hay chất vấn họ chỉ bày bán những la bàn bộ binh, hướng đạo sinh đi trong rừng. Thưcũng phải khôn khéo và kín đáo hỏi họ về la bàn đi biển. Thế là cả người bán lẫn người mua đều biết tâm ý của nhau tuy không ai nói ra..
Dân chợ trời sau 1975 đủ mọi thành phần thượng vàng hạ cám, người bán đã dắt Thư về nhà đưa ra những la bàn Hải quân và bản đồ đi biển. Anh ta trình độ và sành sõi hỏi Thư  đi biển đường nào thì sẽ bán bản đồ vùng ấy, vì biển mênh mông có nhiều hướng đi.rồi
  bán cho Thư la bàn, bản đồ tốt đúng như Thư đang tìm kiếm.dĩ nhiên với gía rất đắt
Chuyến vượt biên này vào năm 1981 đã  thất bại khi chưa ra tới cửa biển, cả đám vào tù ở huyện Long Đất Vũng Tàu, trong 8 tháng tù giam Thư đã quen thân với một anh tài công trẻ tuổi tên Đực nhà quê và thật thà. Đực là dân lái ghe mướn từthời mới lớn và được một chủ ghe trọng dụng làm tài công lái chuyến ghe đi vượt biên không may thất bại.
Từ trại giam ở Long Đất ra Thư thành kẻ tay trắng, không chỗdạy học, không hộ khẩu. Thư về Sài Gòn sống với gia đình, cha và các chị em cưu mang Thư, những ngày này thật hoang mang vô định và đôi khi tuyệt vọng.
Tuấn được gia đình lo cho ra tù sớm và sau đó lấy vợ, thừa hưởng nhiều tài sản ruộng vườn nhà vợ ở Mỹ Tho và  không hào hứng chuyện vượt biên như lúc còn độc thân nữa..
Lúc này qua một bạn giáo viên quen thân dạy ở Cần Thơ Thư được biết thằng học trò tình nguyện cùng đi bộ đội với Thư, cái thằng bị mẹ cầm chổi chà đánh tơi tả sau hậu trường sân khấu hôm nhà trường ăn mừng đoàn quân tình nguyện vượt chỉ tiêu đã bỏ đơn vị, đảo ngũ trốn về nhà. Chắc nó đã thức tỉnh, đã ân hận không nghe theo lời mẹ.
Thằng học trò dĩ nhiên là bị mất hộ khẩu, bị lý lịch xấu chẳng khác gì Thư. Gia đình sẽ xoay sở ra sao cho nó? lấy lại cái hộ khẩu đã khó nói làm gì tẩy xóa được cái vết đen trong bản lý lịch đời nó.
Thày và trò đều lêu bêu như nhau, tương lai đen tối nhưnhau.
Con đường sống duy nhất của Thư là Thư tiếp tục vượt biên.
Biết Thư là hoa tiêu Đực đã giới thiệu cho Thư chuyến đi này với Đực và Đực vẫn là tài công. Hai anh em sẽ cùng một chuyến tàu định mệnh, sống chết có nhau như những ngày tháng trong tù chia sẻ từng miếng cơm khô, từng con cá mặn, từng buồn vui vặt vãnh chuyện đời.
                          ****************
Khoảng 7-8 giờ tối thì tay chèo ghe bò đến chỗ Thư, lại thì thầm:
-        Ta đi nghen anh Hai.
Lần này Thư thấy hồi hộp không đùa với anh ta được nữa.
Chiếc ghe lặng lẽ tách bến sông vắng để đến điểm hẹn gặp ghe lớn.
Trên ghe lớn đã có sẵn hơn 40 “hành khách” không biết họ đã đón lên từ nơi nào, từ lúc nào..
Khi Thư vừa bước lên ghe có một bà cất tiếng hỏi ngay với lòng tin tưởng và ngưỡng mộ:
-        Ông là sĩ quan hải quân hả?
Thư đành …gật đầu vì chẳng có thì giờ đâu mà giải thích mà kểlể.trong phút giây căng thẳng và quan trọng này, mà nếu nói ra Thư là một thày giáo chắc không riêng chị đàn bà tò mò này mà biết đâu cả ghe đều hốt hoảng kinh sợ vì mạng sống của họ sẽ giao phó cho một người chỉ đứng trên bục giảng chưa hề đi biển lần nào ngoài chuyến vượt biên mới ra biển một chút đã bị tóm vào tù vừa rồi..
Anh Tình chủ ghe đến bên Thư dặn dò và một hai đều gọi Thư là“ông hải quân”. đầy tin cậy y như chị đàn bà kia.
Ghe rời sông ra cửa biển Bình Đại vào lúc 3 giờ sáng, tuy trời còn tối không nhìn thấy màu nước nhưng Thư biết vùng nước lợ chuyển tiếp giữa sông và biển nửa đục nửa trong, càng đi xa bờ nước càng xanh đậm.
Đến khi trời sáng rõ thì nhiều người trên ghe bỗng phát hiện ra có tàu đang đuổi theo, không biết đó là tàu của lính biên phòng hay tàu đánh cá của tư nhân? Nhưng dù tàu nào thì cũng là mối đe dọa nguy hiểm. Anh Tình đến bên Thư lo lắng giục gĩa:
-        Ông hải Quân, có tàu đang đuổi theo mình, cho ghe vọt nhanh đi.
Thư nhìn ra sau  thấy chiếc tàu lạ càng hiện rõ nên sau một thoáng suy nghĩ bèn quyết định:
-        Anh Tình, không kịp đâu. Anh xem trên ghe mình có mang theo bất cứ cây gậy nào thì tận dụng hết chỉa ra sau ghe gỉa làm súng ống hù dọa chúng xem? rồi tới đâu mình tính tới đó.
Tình làm y lời, và còn kêu mấy thanh niên đứng trên khoang ra vẻ thách thức, ra vẻ  như phe ta rất“ngầu”, đang có vũ khí và sẵn sàng chiến đấu.
Thế mà chiếc tàu kia rút lui thật, nó không tăng tốc độ đuổi theo nữa và khoảng cách càng lúc càng xa. Đúng là trời thương trời cứu..
Mọi người thở phào nhẹ nhỏm và suy đoán chắc chiếc tàu kia chẳng dám dấn thân vào nguy hiểm để lập công làm gì, mà bắt người vượt biên nhưbắt cóc bỏ dĩa, thua chuyến này thì họ lại đi những chuyến sau, cho tới khi nào không còn khả năng đi nữa thì mới chịu thôi.
Chiếc ghe lại tự tin vượt sóng, như một thủy thủ chuyên nghiệp Thư ghi nhật ký hải hành để theo dõi chuyến đi, Thư tính hướng cho Đực lái tàu đến Mã Lai, địa điểm càng gần thì càng rút ngắn sự hiểm nguy.
Chiếc ghe dài 12 mét, Thư đã vo tròn mớ giấy báo cho người đứngờ đầu ghe ném ra xa xa theo chiều ngang song song với mũi ghe và Thư theo dõi đồng hồ mất 8 giây rưỡi khi đuôi ghe gặp mớ giấy báo vo tròn đang trôi nổi bập bềnh ấy.. Thế là tốc độ ghe đi.12 mét mất 8 giây rưỡi.và Thư có thể tính ra tốc độ mỗi giờ  bằng bài toán quy tắc tam xuất đơn giản..
Ban đêm biển mênh mông đen tối thăm thẳm đến rợn người, tầm nhìn bị hạn chế Thư đã ngắm một ánh sao chênh chếch với mũi ghe khoảng 45 độ và nói Đực cứ nhắm cái hướng khỏang 45 độ ấy mà đi với tốc độ chậm hơn ban ngày đểnếu có lạc đường thì cũng không lạc qúa xa rồi sáng mai sẽ chỉnh lại hướng đi chính xác..
Thư cho cột cái giẻ dướiđuôi ghe coi hướng gió, giẻ bay ngược chiều hay xuôi chiều, và mục đích ghe đi ngược hay xuôi chiều gió thì cứ lấy cái giẻ bay đó làm chuẩn..
Những điều này Thư đã đọc trong cuốn sách mang từ Mỹ về của anh hải quân cho, tất cả đều được Thư mang ra tận dụng thật hữu ích.
Sau 2 ngày trên biển thì gặp một tàu Thái Lan, họ chặn lại và từ tàu lớn họ xuống ghe uy hiếp mọi người lấy hết vàng bạc nữ trang nhưng không giết hay đánh đập ai. Có lẽ đây là một thương thuyền thấy ghe nhỏ vượt biên nên nổi lòng tham xông vào kiếm chác thêm. Một ông ra dáng chủ tàu lại biết nói bập bõm tiếng Anh thấy đám vượt biên nhớn nhác sợ hãi và có kẻ khóc lóc van xin đã thương cảm sao đó cho cả đám vượt biên lên tàu lớn ăn cơm với cá no nê xong mới trở lại ghe mình. Coi như mất của để  “mua” được một bữa ăn no và ngon lành.
Thư đưa ông ta xem cuốn nhật ký hải hành, ông ta khen Thư đãđi đúng hướng và chúc tiếp tục đi đến Mã Lai thành công.
Sự may mắn này hi hữu hơn cả lúc chiếc ghe chỉa cây chỉa gậy làm súng gỉa và thoát nạn lúc ở cửa biển Bình Đại Mỹ Tho.
Hai ngày sau thì ghe đến bờ biển Mã Lai vào lúc tờ mờ sáng. Mọi người trên ghe la hét reo hò mừng rỡ
Thư ra lệnh cho Đực lái tà tà dọc bờ biển và nói mọi người cứyên tâm thong thả ngắm cảnh biển đẹp, cảnh thanh bình của Mã Lai đợi tới sáng sẽlên bờ để khỏi làm phiền chủ nhà.
Sau mấy ngày đêm mệt nhoài vì ít ngủ trên ghe, giờ phút này Thư bỗng cảm thấy khỏe hẳn lên, sức mạnh tinh thần thật là mãnh liệt. Thư vui thích ngắm những hàng dừa, hàng phi lao trên bãi biễn rồi lại nhìn những đợt sóng biển đang xô lên bờ trong buổi sáng vắng người êm ả.
Cũng là sóng, cũng là biển mà Thư từng thấy như biển Vũng Tàuở Việt Nam sao hôm nay biển Mã Lai lại đẹp đến thế, lạ lùng đến thế !
Cũng là bình minh trên biển sao bình minh nơi đây lại rực rỡvà tươi vui đến thế !.
Thư mừng vui thế nhưng khi nhìn ra biển xa chẳng biết chân trời nào là hướng quê nhà Thư bỗng ngậm ngùi. Thư chỉ muốn rời bỏ chế độ chứ không muốn rời bỏ quê hương  Giờ này ở nhà chắc cha Thư, các chị em Thư đang nóng lòng lo lắng cho Thư lắm.
Thư thấy tiếc đã không có đứa em gái đi theo.
Khi trời sáng tỏ thì Đực phóng cho ghe vào sát bờ tối đa, người ta có thể cảm thấy đáy ghe đi lướt trên cát và khựng lại, mọi người rối rít lên bờ, có người sung sướng qùy xuống hôn lên mặt đất, có người quay ra biển khơi vái lậy cám ơn biển đã yên bình đưa đoàn người đến bến bờ tự do.
Thật vậy, có trải qua mấy ngày đêm trên biển khơi bao la, trên chiếc ghe nhỏ đơn sơ mới biết cái chết và sự sống gần kề mong manh thế nào.
Anh Tình đã mang theo một cái đục lớn, khi mọi người lên bờ xong anh đục cho chiếc ghe thủng đáy thủng vách vài chỗ để phòng hờ có những dân bản xứ không muốn người vượt biên đến đất nước họ đã đuổi mọi người xuống ghe ra biển trở lại đi đâu thì đi, như những tin đồn tin kể của những người vượt biên trước. Khi ghe hư hỏng không thể xử dụng được nữa thì họ phải chấp nhận dung chứa người vượt biên ở lại.
Chủ ghe Tình thật chu đáo.
Người ta xúm vào cám ơn tài công và hoa tiêu:
-        Cám ơn anh Đực nhé, anh lái ghe suốt 5 ngày đêm trên biển thật khỏe thật tài.
-        Anh Đực là tài công chuyên nghiệp có khác, nghe chủ ghe nói anh lái ghe từ hồi mười mấy tuổi phải không?
Bà đầu tiên gặp Thư bước xuống ghe đã hỏi “Ông là sĩ quan hải quân hả” . Bây giờ cũng là bà, lần này thì bà thoải mái hỏi dài dòng ::
-        Cám ơn ông hải quân thật nhiều nghe, ông cũng chuyên nghiệp không thua gì anh tài công, chỉ đường ghe đi đúng y boong. Hồi đó ông đi hải quân được mấy năm? rồi ông đi tù cải tạo mấy năm? vợ con gì chưa? Sao không thấy mang theo?...
Một người phải ngắt lời bà:
-        Bà hỏi cả chục thứ ông hải quân nghe điếc tai luôn biếtđâu mà trả lời.
Mấy người khác nhao nhao lên:
-        Phải rồi, công ông hải quân lớn lắm đó, nếu hoa tiêu dởchỉ lầm đường thì tài công cũng chịu thua thôi, xăng dầu đâu mà đi tiếp? chưa kểsóng gió bão bùng.
-        Bà nói lạ chưa? Ông ấy là dân hải quân thì phải rành đường biển chứ.
Anh Tình ra bắt tay tài công Đực xong liền bắt tay Thư với vẻ mặt tươi rói và trân trọng:
- Cám ơn ông hải quân.
Cho tới giờ này chủ ghe cũng không nhớ tên Thư, mà chỉ gọi Thư là “ông hải quân”
Thư thấy lúc này thuận tiện và thoải mái nhất để lên tiếng cải chính, nói lên sự thật:
- Anh Tình và bà con cô bác ơi, tôi không phải là hải quân.
Mọi người không tin:
- Ông hải quân giỡn hoài, tài đi biển rành rành mà.
- Ông hải quân.vui tính qúa trời.
Thư nghiêm trang và rành rọt tựkhai:
-        Tôi nói thật tình một lần nữa tôi không phải lính hải quân. Tôi là nhà giáo, dạy học ở trường Phan Thanh Giản tức trường An Cư thành phố Cần Thơ..
-        Nhưng trước khi vào nghề giáo chắc ông có đi lính hải quân ?
-        Không hề, tôi chưa là lính tráng hải quân ngày nào cả.
Mọi người bật kêu lên:
- Úy trời, thày giáo mà dám chỉ đườngđi biển hả? Thày thiệt liều mạng …
- Trời thần thiên địa ơi, nếu tôi biết ông hoa tiêu là nhà giáo thì không dám đi chuyến vượt biên này rồi.
- Nghĩa là ông thày giáo chưa từngđi biển lần nào hả ??
Thư thành thật kể:
-        Tôi chỉ đọc sách của một người bạn hải quân và đọc tài liệu đi biển trong thư viện. Thật ra tôi cũng có làm hoa tiêu một lần trong chuyến vượt biên nhưng ghe vừa khởi hành chưa ra tới biển thì bị bắt rồi.
Một bà giọng Bắc kỳ 54:
-        Ối giiời ôi, thế ra chuyến đi vượt biên này mới là “thửnghiệm” đầu tay của ông đấy hả ? Gan ông to như cái đình.
Thư cũng ví von đáp lại bà Bắc kỳ54:
-        Vâng, “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, chuyến đầu tiên tôi thực sự thử tay nghề hoa tiêu từ A đến Z đấy bác ạ.
Một người khác hào hứng:
- Biết đâu nhờ vía của ông nhà giáo hiền lành mà ghe mình gặp hên 2 lần đó, súng giả mà hù được người ta, rồi bị cướp mà còn được cướp mời lên tàu cho ăn cơm với cá..
- Hèn gì trông tướng tá ông …hơi yếu, không có vẻ con nhà lính là bao, tôi cứ tưởng tại ông đi tù cải tạo về nên ốm o gầy mòn đi chứ.
Anh Tình gạt đi:
-        Bà con cô bác ơi, chính tôi cũng không ngờ, nghe Đực giới thiệu hoa tiêu là tôi tin cậy ngay…mà thôi dù là ông thày giáo thì tài hoa tiêu của thày giáo cũng tuyệt vời, đã đưa chúng ta tới bến Mã Lai đúng như dự tính.
-        Hoan hô ông hải quân…À quên hoan hô ông thày giáo hoa tiêu
Thư rủ vài người đàn ông khác đi quanh bờ biển để tìm gặp người bản xứ Mã Lai nhờ họ báo tin cho cảnh sát.. Một bà hỏi:
-        Thày giáo ơi, gặp cảnh sát làm chi?
-        Để khai báo với họ sự hiện diện của chúng ta trên đất nước họ rồi mới được đưa tới trại tị nạn nào đó. Tất cả bà con cứ tập hợp một chỗ đừngđi đâu xa nhé.
Trên tàu họ đã răm rắp tin cậy ông hải quân thì bây giờ trên bờ biển Mã Lai họ cũng tin cậy vào ông thày giáo trẻtuổi .
Đực cũng đi theo Thư, anh chàng nói với Thư:
-        Thày giáo à, nếu khai báo gì thày khai cho em ở gần thày nhé, kể cả sau này đi định cư nước nào cho em theo thày luôn.
Mới ngày nào Đực và Thư là đôi bạn trong tù mù mịt tương lai, nay là đôi bạn trên xứ người tự do thoải mái, tương lai rộng mở phía trước. Chỉ một chuyến vượt biên có thể thay đổi cả cuộc đời.
Họ đi dọc theo bờ biển về phía vài người bản xứphía xa…
Biển bên cạnh họ, hiền hoà và thân thiện cùng với chân trời rạng ánh bình minh trên biển khơi lấp lánh tươi vui như đang chào đón họ, những người đi tìm tự do may mắn.
 
           Nguyễn Thị Thanh Dương
                  ( Tháng Tư,2014)
*Ghi thêm: Đây là câu truyện thật không chút hư cấu. Hi vọng những ai đi chung chuyến tàu vượt biên may mắn này đọc được bài này để nhớ lại kỷ niệm.
Nhân vật Thư trong thời gian tị nạn trên đảo Pulau Bidong đã dạy Anh Văn cho người tị nạn, vốn dĩ là nhà giáo tốt nghiệp đại học sư phạm nên thày giáo đã dạy học có phương pháp và hiệu qủa, lớp học luôn đông người. Khi Thư chuyển trại lên thủ đô Kuala Lumpur đợi chuyến bayđi Mỹ, ở đây 2 tháng Thư cũng dạy Anh Văn
Nhiều “học trò” không nhớ tên thày giáo đã thân mật gọi là “ông thày tóc quăn”
Cũng hi vọng những ai tị nạn trên đảo Bidong và Kuala Lumpur năm 1982 sẽ nhớ ra ông thày Anh Văn “tóc quăn” này
Còn anh tài công Đực sau đó đi Uc vì anh “rớt” phỏng vấn vào Mỹ.
Nhân vật “Ông Hải Quân” này là em của tác gỉa.
Thanh chia sẻ câu truyện này và cám ơn các bạn đã đọc.

(photo from internet)
Last Updated ( Monday, 28 April 2014 19:31 )
 
Page 8 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account