CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Tôi, Đứa Con Người Tù Học Tập Cải Tạo - Hồi Ức Về Cha

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Những ngày cuối tháng tư 1975, Sài gòn đắm chìm trong cơn hỗn loạn. Tin tức về một cuộc chiến kết thúc bi thảm được truyền đi kéo theo một dòng người tìm mọi cách vượt thoát khỏi quê hương. Không nhận được tin người đến đưa toàn bộ gia đình ra đi như đã hứa, tôi cùng ba và gia đình người em gái trên chiếc xe jeep hối hả đi về Bến Bạch Đằng nơi con tàu VNTT đang ngập tràn những dòng người từ khắp nơi đổ về. Hai vợ chồng em gái lên tàu trước. Tôi và ba chần chờ sửa soạn lên sau.

 

LÊ VĂN KHOA : "Một Nhà Tiên Tri, Một Nhạc Sĩ Viết Ái Quốc Ca Quốc Tế"?

E-mail Print

Năm 2005 khi nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA cùng phu nhân NGỌC-HÀ (ca sĩ) mang một số sáng tác phẩm âm nhạc của mình trong đó có SYMPHONY VIETNAM 1975 để dàn nhạc giao hưởng KYIV SYMPHONY ORCHESTRA & CHORUS (UKRAINA) trình tấu, ông đâu có biết một vài năm sau đó ông được một người ái mộ gọi ông “một nhà tiên tri”, “một nhạc sĩ viết “ái quốc ca quốc tế”?

Last Updated ( Tuesday, 21 April 2015 14:36 )
 

Ông Nội và Cháu Nội

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Ông nội là cựu đại úy Việt Nam Cộng Hòa, con trai là đại úy không quân Hoa kỳ, mấy người quen thân gọi đùa cháu là Captain junior. Có hôm buổi sáng ông nội ngủ dậy khệnh khạng bước ra phòng khách, thằng con đang ăn điểm tâm đứng phắt lại giơ tay lên chào "Good morning, Sir!". Ông nội giật mình đứng lại, không suy nghĩ ông nghiêm túc giơ tay lên chào. Miệng lẩm bẩm "Morning Sir!". Cả nhà cùng cười, thằng cháu nội cũng cười.

Last Updated ( Saturday, 14 March 2015 14:59 )
 

Tản Mạn Du Xuân Little Saigon 2015

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Khi mùa xuân về trên phố Bolsa, bát bộ du xuân từ góc Bolsa và Magnolia, vào Vân's Bakery hay những tiệm bán hoa hay bán trái cây, Tết đã về thật sự từ các cây mang mùa xuân về, mai tứ quý, hồng đào sắc thắm, cúc vàng óng ả, thủy tiên, hoa tím (violet), hải đường, hướng dương,... đi xuôi về hướng thương xá Phước Lôc Thọ, trời se chút lạnh tiết xuân gợi nhớ chút Đà Lạt ngày xưa. Bà chủ nhà trao tôi chiếc jacket da Milan, rồi khoác vào cổ tôi chiếc navy blue scarf, bà sợ mấy con RSV (respiratory syncytial virus) đe dọa tôi. Tôi suy nghĩ bâng quơ mấy bùa linh dược Claritin D, Loratadine, Pseudoephedrine, hay Sudafed để làm gì nhỉ.

 

BÁNH CHƯNG MÙA XUÂN CŨ

E-mail Print

Ngày thường cũng có bánh chưng bán ngoài đường ngoài chợ, nhưng bánh chưng ngày tết đối với chị Bông vẫn là miếng ngon miếng thèm dù rằng ăn thì chóng chán.

 

KÝ SỰ DU LỊCH CACÚN (Tiếp theo và hết)

E-mail Print
User Rating: / 6
PoorBest 

Sau khi dùng cơm trưa ở khách sạn bên cạnh về, từ Ông Ngoại 1 đến Ông Bà Ngoại 2 cũng như con cháu của cả hai gia đình đều uể oải, mệt mỏi nên ai nấy đánh một giấc ngủ trưa đến xế chiều mới thức giấc. Khoảng 04giờ00 chiều lúc tôi đang ngồi xem phim trên TV thì điện thoại trong phòng reo. Nhấc điện thoại lên nghe đầu dây có người hỏi :

Last Updated ( Monday, 12 January 2015 15:32 )
 

HOẠN THƯ: Ý THỨC PHẢN KHÁNG ĐÒI QUYỀN SỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

 

Tôi còn nhớ Bà cụ thân sinh tôi lúc đương thời đã có lần được tin của một ông chú họ cho biết, xông thẳng vào lễ dạm hỏi của cụ thân sinh tôi với một thiếu nữ ngoài độ trăng tròn tại ngôi đền Mõ thuộc quê hương của cụ, phá nát mâm ngũ qủa và lễ vật trước sự chứng kiến bất động của hàng trăm người khách mời tham dự. Sự việc chỉ ngã ngũ khi Bố tôi rút súng bắn chỉ thiên, bà mới nhượng bộ rút lui. Chuyện nhờ vậy đã không thành. Sau này cụ vẫn hãnh diện khoe với con cháu là “làm cho rõ mặt con nhà Hoạn Thư

Mặc dù cụ là một trong những người đàn bà Việt đảm lược, một tay chèo chống gia đình hai bên nội ngoại trong suốt thời kỳ chiến tranh Việt-Pháp, nhưng hoàn toàn “một chữ bẻ làm đôi” cụ cũng không được biết, vì ông bà ngoại tôi sợ cho đi học “ biết chữ sẽ viết thư cho trai”! Tuy vậy động mở miệng ra là cụ nói “tập Kiều” hay nói đến ghen tuông là phải dẫn đến Hoạn Thư! Ngay cả hành động đánh ghen cụ làm ở trên cũng phản ánh tác dụng mẫu người “thần tượng” ấy.

 

Vậy Hoạn Thư là ai ? ý thức phản kháng và sự khôn ngoan mẫu mực nào đã khiến người bình dân đến giới học thức trong xã hội ta đã chọn làm chuẩn mực?

 

Trước hết nói về cái tên Hoạn Thư. Tên này đúng ra chỉ là họ (Hoạn) người Tàu dùng để gọi con nhà danh gia vọng tộc, viết tắt của chữ Hoạn tiểu thư. Trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà cụ Nguyễn Du mượn cốt truyện viết Truyện Kiểu cũng gọi nhân vật nổi tiếng đánh ghen là Hoạn tiểu thư (宦小姐),nghĩa là gọi bằng tên họ. Nhưng đến cụ Nguyễn Du chữ Thư viết tắt từ Hoạn tiểu thư này lại được tái sinh thành tên cô Thư (first name) nhà họ Hoạn ( surname)--Hoạn Thư--chỉ thiếu chữ lót thị nữa là hoàn toàn thành tên cô gái Việt:

 

Vốn dòng họ Hoạn danh gia (1333)(1)

Con quan lại bộ tên là Hoạn Thư (1334)

 

Cụ Nguyễn Du giới thiệu gia thế Hoạn Thư là con cùa một gia đình danh gia vọng tộc, thân sinh là vị quan họ Hoạn, quan thượng thư bộ lại, tức là một bộ trong lục bộ (Binh, Hình, Hộ, Lễ, Công, Lại). Đây là một cơ quan hành chánh đứng đầu một nước quân chủ, chuyên trách về bổ nhậm, bãi nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển, bổ xung quan chức thời xưa... Tóm lại là bộ máy hành chánh lo việc tổ chức điều hành nhân sự trong triều đình và ngoài xã hội. Một vị quan xét về mặt quyền uy gần như trùm cả nước, chỉ sau vua.

Chồng nàng nguyên từ Kim Vân Kiều Truyện cũng chỉ được gọi bằng chàng họ Thúc-- Thúc thủ. Nhưng qua Truyên Kiều cũng được Nguyễn Du cho một cái tên đầy đủ, tức chàng người họ Thúc, tên là Kỳ Tâm vốn dòng dõi con nhà nho học, mặc dù ta không biết rõ chàng đèn sách đến đâu:

 

Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương (1123)

 

Qua hai cái tên của hai nhân vật phụ từng làm điêu đứng cuộc đời ba chìm bảy nổi của nàng Kiều, ta cũng thấy phần nào ý thức cách mạng và tinh thần ái quốc của Nguyễn Du thông qua việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc-- xưng hô bằng tên thay vì bằng họ-- khác với người Tàu. Dù là sơ đẳng nhưng là cá tính và lòng tự hào dân tộc. Như vua Quang Trung đã từng truyền hịch đánh quân Thanh: “Đánh cho để răng đen, đánh cho để tóc dài, đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ)

Với Nguyễn Du, Hoạn Thư có thể chỉ là mặt phản diện của Thúy Kiều-- làm nhân vật phụ tạo thêm điêu đứng cho nàng Kiều trong mười lăm năm luân lạc-- nhưng là một mẫu nữ nhân vật đầy cà tính được cụ khai sinh ra với đầy đủ vẻ khôn ngoan lịch lãm và và bản lãnh hơn người mà chính kẻ tình địch là nàng Kiều cũng phải thừa nhận:

 

Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời (2374)

 

Nhân vật Hoạn thư dù cụ Nguyễn Du có chủ ý hay không, đứa con tinh thần mang tinh huyết của mình tự nó trưỏng thành, đủ khôn ngoan và bản lãnh tạo làn sóng phẫn nộ, gây xáo trộn nền tảng xã hội bất bình đằng nam nữ đương thời dù chỉ trong ý thức và trong phạm vi gia đình. Một ý thức vùng lên phá bỏ một trật tự gông cùm mà những người “cai ngục” dù biết đấy nhưng đành thúc thủ, mà tiêu biểu là Thúc sinh chồng nàng và cả Thúc ông cha chồng. Không biết có phải vì vậy mà xã hội Tàu còn gọi chàng là Thúc thủ (束守)? (2)

 

Điểm thứ hai đề cập đến tình duyên gia đạo và cá tính của Hoạn Thư:

 

Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa (1531)

Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày

Ở ăn thì nết cũng hay

Nói điều giàng buộc thì tay cũng gìa (1534)

 

Theo Vân Hạc Văn Hòe trong Truyện Kiều Chú Giải (3) thì Duyên Đằng tức là duyên may, do câu thơ cổ “ Thời lai phong tống Đằng Vươnng Các.” Nghĩa là vận may tới gió đưa lên gác Đằng Vương. Nhắc tích Vương Bột một thi hào thời Sơ Đường (618-713) đi thăm cha, dọc đường nghe tin thi nhân được mời hội ngộ tại lầu Đằng Vưong. Khi ấy đường còn qúa xa, may nhờ một thần nhân giúp sức, tạo gió đẩy thuyền đến kịp thời. Do đó ông mới có bài phú “Đằng Vương Các Tự,” trong đó có hai câu thơ tuyệt vời lưu lại đời sau:

.........................................................

 

Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (4)

.........................................................

 

Với giới bình dân, “Duyên Đằng” dù là gì không cần biết, họ chỉ hiểu là dịp may do duyên trời run rủi: Hoạn Thư được may mắn kết duyên cùng Thúc Sinh. Dù là ai đi nữa trong trường hợp này cũng phải thắc mắc: dòng dõi con quan lại bộ như Hoạn Thư, giàu sang quyền uy tuyệt đỉnh, tài tử giai nhân, anh hùng cái thế thiếu gì người rấp ranh bắn sẻ, sao lại được cho là may mắn lọt vào tay gia đình họ Thúc thương gia? ngay cả khi Thúc sinh là “con nhà giàu đẹp trai học giỏi” đi chăng nữa?

Chính tác gỉa Truyện Kiều Chú Giải cũng phải thừa nhận sự kiện này qủa là nghịch lý !(P324), dù rằng bài phú Đằng Vương Các Tự của thi Hào Vương Bột có làm gìới đọc sách bị thu hút phân tâm.

Vậy phải hiểu thế nào về ý nghĩa cố tình này?

Nàng bị điều thị phi gì nên may mắn được gả bán ép duyên để bảo vệ danh gía gia đình? Nàng qúa xấu xí và lớn tuổi không người hoài đoái? Nàng bị hai bên cha mẹ họ Hoạn và họ Thúc lúc hàn vi thân thiết hứa gả con cho nhau khi còn trong bụng mẹ? Nàng bị tiếng sét ái tình kiểu như Kiều? hay nàng may mắn vớ được thằng chồng “phải gió” nhờ vậy trở thành nổi tiếng (ghen tuông) tương tự như Vương Bôt và Đằng Vương Các?

Tất cả những gỉa thuyết này và còn nhiều nữa có thể không đúng như sự thực của đời nàng. Nhưng chắc chắn một điều khi hạ bút “ Duyên Đằng” mà không phải duyên “Ông tơ bà nguyệt,” cụ Nguyễn Du phải nhận trách nhiệm đã đặt vận mệnh và cuộc đời của Hoạn Thư trước những thách đố bất bình đẳng của xã hội mà ít nhiều cụ cũng ảnh hưởng hay thấm nhuần với tư cách là một nho sĩ đương thời.

Về điều ăn nết ở trong việc điều hành gia sự, Nguyễn Du với chỉ hai câu lục bát ngắn gọn đã nói lên vai trò đảm lược làm chủ gia đình mà ta thường gọi là nội tướng, quán xuyến giao dịch êm thắm mọi việc trong ngoài; từ việc cư xử phải đạo với cha mẹ chồng, bà con dòng họ đến việc điều hành gia nhân ăn ở trong nhà, đâu đấy nghiêm mimh trên thuận dưới hoà. Đặc biệt lời ăn tiếng nói không những “khôn ngoan rất mực” mà còn lý luận rạch ròi như “ ràng” như“buộc, những tay mơ kiểu Thúc sinh dễ dầu gì qua mặt? Điểm này cũng nói lên bản lãnh, tài ăn nói, và khả năng quán xuyến, lèo lái gia đình và sau này thể hiện nơi việc giàn dựng mưu cao để giằn mặt Thúc sinh và cô lập nàng Kiều.

 

Điểm thứ ba đề cập đến ý thức và hành động phản kháng của Hoạn Thư xuyên qua những mưu lược đánh ghen, mà các đấng mày râu phải e dè ngao ngán và giới quần hồng càng tôn phục nể vì.

Chúng ta đã biết Thúc sinh là con một thương gia giàu có, hẳn cũng có học đòi làm dân đọc sách, nhưng tính tình phóng đãng và bản lãnh dưới mức tầm thường so với Hoạn Thư. Chàng tìm cách theo cha là Thúc ông đi buôn bán phương xa (Lâm truy) để dễ bề hành lạc:

 

Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm truy (1278)

 

Khi gặp Kiều ở lầu xanh, chàng khởi đầu chỉ là quen thói hành lạc mua vui, nhưng sau bị thu hút bời nhan sắc, tài năng và tính tình hồn hậu của Thùy Kiều nên đã kết thành vàng đá:

 

Sớm đào tối mận lân la (1289)

Trước còn trăng gío, sau ra đá vàng (1290)

 

Sự việc đến tai thân phụ chàng. Thúc ông tìm cách cản ngăn nhưng chàng đã lún sâu vào biển tình không thoát ra được nữa. Thúc ông phải nhờ đến cửa quan để chia cách hai người, nhưng quan phủ khi biết được Kiều có tài thơ văn lại ăn nói khôn ngoan khí khái, hiểu chuyện trên dưới trước sau, nên cũng động lòng trắc ẩn, thiên vị khuyên thân phụ chàng dẹp nỗi bất bình, chấp nhận cho chàng nhận Kiều làm vợ lẽ:

 

Đã đưa đến trước cửa công (1461)

Ngoài thì là lý, song trong là tình

Dâu con trong đạo gia đình

Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong (1464)

 

Sự việc đã đến nước này nhưng Hoạn Thư tại quê nhà không hề được hỏi ý kiến hay thông báo sự tình, nên nàng lửa giận bừng bừng mà vẫn dằn lòng chịu đựng, tìm cách êm thắm nhưng bẽ bàng để báo thù người chồng bội bạc:

 

Từ nghe vườn mới thêm hoa (1555)

Miệng người đã lắm, tin nhà thì không

Lửa tâm càng giập càng nồng

Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa (1558)

 

Thời ấy đàn ông đa thê lắm thiếp là sự thường tình. Không những vậy còn được luật pháp, phong tục, lễ giáo gia đình và xã hội đương thời nhìn nhận. Nhưng với Hoạn Thư, người đàn bà bản lãnh quyền uy, sâu sắc nước đời, thì chẳng phải là chuyên bình thường! Người đàn bà có máu lạnh này đã thể hiện uy quyền, sự lọc lõi đến đáng sợ qua cái cách hành xử khôn ngoan mẫn tiệp của nàng.

Khi nghe phong thanh chồng có vợ bé, người phụ nữ nào chẳng nổi tam bành?  nhưng Hoạn Thư bề ngoài vẫn lịch lãm, văn vẻ nhẹ nhàng “trách người đen bạc ra lòng trăng hoa”. Bề trong? lửa hận bừng bừng, căm giận anh chồng đốn mạt phản bội tình xưa nghiã cũ, làm tổn hại tới uy phong, danh dự cá nhân và thế gia dòng họ Hoạn. Nguyễn Du đã để lộ tâm can, gan ruột Hoạn Thư bằng một đoạn độc thoại nội tâm bậc thầy, trong đó hứa hẹn một pha đầy kịch tính:

                                       

Ví bằng thú thật cùng ta (1559)

Cũng dong kẻ dười mới là lượng trên

Dại chi chẳng giữ lấy nền

Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?

Lại còn bưng bít dấu quanh

Làm chi những thói trẻ ranh nức cười!

Tính rằng cách mặt khuất lời

Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!

Lo gì việc ấy mà lo

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?

Làm cho nhìn chẳng được nhau

Làm cho đầy đoạ cất đầu chẳng lên!

Làm cho trông thấy nhãn tiền

Cho người thăm ván, bán thuyền biết tay (1572)

 

Nghĩ vậy, nhưng “Buồng đào khuya sớm thành thơi, ra vào một mực nói cười như Không.” Khi người ăn kẻ ở lẻo mép tâng công, Hoạn Thư vẫn ra vẻ nổi giận đùng đùng:

Chồng tao nào phải như ai (1560)

Điều này hẳn miệng những người thị phi

 

Lấy cớ rằng chúng thêu dệt chuyên thị phi để nói xấu chồng, lập tức lôi ra đánh đòn ( đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng), khiến trong ngoài kín mít như bưng. Kịp khi Thúc sinh trở về, Hoạn Thư vẫn đon đả mở tiệc mừng chào đón ( Lời tan hợp nỗi hàn huyên- Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng- Tẩy trần vui chén thong dong). Vẻ mặt tươi cười vồn vã tỉnh bơ khiến chàng họ Thúc tưởng nàng chưa biết gì nên nhát gan ém nhẹm chuyện vợ lẽ được cha cho phép. ( Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình lại xưng). Trong khi Hoạn Thư vẫn đẩy đưa, buông những lời bóng gió xa xôi, nhằm củng cố niềm tin ngây thơ của chàng hầu mưu đồ một điều gì bí hiểm về sau:

 

Rằng : Trong ngọc đá vàng thau(1583)

Mười phần ta đã tin nhau cả mười

Khen cho những miệng dông dài

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia!

Thiếp dù vụng chẳng hay suy

Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười!(1588)

 

Thúc Sinh nông cạn, đớn hèn làm sao có thể hiểu được ẩn ý sâu xa trong những lời bóng gió của nàng. Anh chàng hí hửng khi được vợ dẫn dụ đường mật nên trở lại Lâm Truy. Nàng vẽ đường cho hưu chạy! Thật đúng là “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay.”

Sau khi Thúc sinh đi, Hoạn Thư về nhà mẹ đẻ để hỏi ý kiến mẹ về kế hoạch trừng trị Thúc sinh và Thúy Kiều ( Thưa nhà huyên hết mọi tình- Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen ). Cái cách đánh ghen của Hoạn Thư thật lạ lùng và thâm độc:

 

Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen(1609)

Xấu chàng mà có ai khen chi mình!

Vậy nên nghảnh mặt làm thinh

Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày...

Lâm Truy đường bộ tháng chầy

Mà đường hải đạo sang ngay thì gần

Dọn thuyền lựa mặt gia nhân

Hãy đem dây xích buộc chân nàng về

Làm cho cho mệt cho mê

Làm cho đau đớn ê chề cho coi!

Trước cho bõ ghét những người

Sau cho để một trò cười về sau !(1620)

Đây cũng chính là điều đi ngược lại lẽ thường được ghi nhận trong câu tục ngữ dân gian: cả giận mất khôn. Nhưng Hoạn Thư càng giận lại càng tỉnh táo sáng suốt; đánh ghen nhưng không ai biết mình ghen.

Tiếp đó là màn lập hiện trường giả, đốt nhà với xác trôi sông, bắt cóc Thuý Kiều về nhà tra khảo…, qua mặt được cả bố chồng lẫn người chồng ngờ nghệch, khiến mọi người cứ tưởng như Kiều đã chết. Mưu mô được thực hiện vô cùng hoàn hảo, không để lại một dấu vết gì, ngay cả quan lại điều tra xét xử thời ấy cũng phải bó tay. 

Công việc tiến hành song suốt nhưng không dừng ở đấy! Hoạn Thư còn gìàn dựng cảnh bắt Kiều gẩy đàn, hầu rượu Thúc sinh khi chàng buồn nản trở về để chàng phải ngạc nhiên, dở cười dở khóc. Đúng là: “Cùng trong một tiếng tơ đồng, người ngoài cười nụ người trong khóc thầm!”

Đây là đoạn đầu của màn kịch đánh ghen mà Hoạn Thư vừa là tác giả kịch bản, vừa là đạo diễn kiêm diễn viên. Trong đó ba nhân vật chính: Hoạn Thư, Thúc sinh và Thuý Kiều, ai cũng là người trong cuộc, và ai cũng là khán gỉa bàng quan; ai cũng cười nụ, ai cũng khóc thầm. Hoạn Thư cười nụ vì đã thoả mãn với sự trả thù. Thuý Kiều và Thúc sinh cườì nụ vì gỉa vờ không quen biết nhau, lấy nhạc làm vui... Nhưng đúng ra là cả hai Thúc sinh và Thúy Kiều không ai đủ can đảm dám đối diên với sự thực trước mắt! Cả ba người đều đau khổ bẽ bàng! Tuy nhiên, Hoạn Thư không phải là người đàn bà cố chấp, đã cạn nhân tình. Trong tình huống nghe Kiều gảy đàn chan hoà nước mắt, nàng đã có phần càm động và nhẹ nhàng nói với Thúc sinh:Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương!” Ngoài ra, nàng còn nói lời chia xẻ và thông cảm với số phận đào hoa:

 

Bể trần chìm nổi thuyền quyên(1903)

Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời

 

sau đó Hoạn Thư còn gia ân cho Thuý Kiều ra tu ở Quan Âm Các sau nhà. Tuy nhiên để hai người bặt đường dan díu, nàng cho hoa nô theo dõi bắn tiếng trước là chính nàng cũng đang xoi mói. Thúc sinh và Kiều vật vã thở than... Rồi thình lình ỡm ở xuất hiện, xởi lởi ngọt ngào làm hai người bẽn lẽn không dám tìm dịp gặp lại nhau:

Tiểu thư đâu đã rẽ hoa lối nào(1982)

Cười cưòi nói nói ngọt ngào

Hỏi:” Chàng mới ở chốn nào lại chơi ?”…

 

Hoạn Thư biết hết mà coi như chẳng biết chút gì. Quả là cao thủ võ lâm ! không trách gì họ Thúc phải bó tay, dù xã hội và gia đình đã tạo mọi điều thuân lợi:

 

Người đâu sâu sắc nước đời(2007)

Mà chàng Thúc phải ra người bó tay !

 

Kết qủa đánh ghen của Hoạn Thư và mối tình Kiều-Thúc là Kiều đuợc bật đèn xanh ôm chuông vàng bỏ trốn trước sự toàn thắng vẻ vang về mặt trận ghen của nàng họ Hoạn:

Cất minh theo ngọn tường hoa(2027)

Lần đường theo bóng trăng tà về tây.

 

Qua biến cố này ta thử lượng gía về mặt cá nhân, chiến thuật đánh ghen và chiến lợi phẩm hạnh phúc mà Hoạn Thư đạt được ở mức độ nào ? Những thành qủa của đấu tranh giành quyền bình đẳng nam nữ về mặt gia đình và xã hội đã dẫn đến đâu qua sự đấu tranh sắc nét khôn ngoan của người kiệt nữ Hoạn Thư?

Khi nhắc tới Hoạn Thư người ta chỉ nhắc đến tuyệt xảo của đòn ghen, Ít ai nghĩ đến mục đích và đối tượng của đánh ghen ở đây là quyền của người phụ nữ đấu tranh với tình địch, chồng và xã hội để gìành hạnh phúc cho cá nhân mình. Hoạn Thư đã xua đuổi được Thúy Kiều và làm chồng phải ngao ngán rời xa người bạn tình, nhưng nàng có thực sự tìm lại được hạnh phúc gia đình? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải khảo sát những yếu tố vằ điều kiện tạo thành hạnh phúc của hai người:

 

Về mặt văn hoá và xã hội, tác gỉa Võ Thu Tịnh trong bài Đòn Ghen Của Hoạn Thư (5) đã nêu ra những thế kẹt của Hoạn Thư mà Luật Hồng Đức đã ghi:

 

Thứ nhất, cha Thúc sinh và quan trên đã chính thức cho phép Thúc sinh cưới Kiều rồi. May mà Thúc sinh hèn nhát, quen thói sợ vợ, nên chưa dám nghĩ đến việc cùng cha đưa Kiều về nhà ra mắt nàng. Rơi vào hoàn cảnh ấy, nàng cũng khó mà từ chối.

 

Thứ hai, nàng không có con. Đó là một cớ trong thất xuât (không con, dâm đẵng và biếng nhác, bất hiếu với cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật) để người đàn ông ly dị vợ.

 

Thứ ba, bất hiếu. Không cho chồng lấy vợ lẽ để có con nối dõi tông đường (Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại)

 

Thứ tư, ghen tuông lỗ mãng, gây gỗ hành hung không cho chồng giao du với phụ nữ (thất xuất).

 

Cũng theo Võ Thu Tịnh, Hoạn Thư phải khôn ngoan, úp mở làm cho Thúc Sinh tiếp tục giấu, tức là chàng không mở miệng xin lấy Kiều, Hoạn Thư sẽ có thời gian dùng tình cảm lôi kéo chồng, làm cho chồng quên Kiều mà trở lại với nàng.

 

Hoạn thư là người khôn ngoan rất mực và hiểu biết sắc nét mọi điều. Chắc hẳn nàng hiểu và ý thức được hoàn cảnh tế nhị của mình nên đã thực hành kế hoạch đánh ghen trong điều kiện hết sức giữ kín trong ngoài, tuyệt đối thâm nghiêm kín cổng. Nạn nhân được cài răng lược, kiềm chế lẫn nhau, không ai biết trước và khi biết cũng không dám hé răng như ta đã nhìn thấy sự việc diễn ra…

Có thể nàng đã đạo diễn vở bi hài kịch thành công để bảo vệ bản thân và giáng trả những đòn đớn đau thích đáng cho người chông bội bạc, cho Thúy Kiều cho cả Thúc ông, và những đối tượng thù nghịch tiêu biểu cho quyền uy xã hôi đương thời. Nhưng còn hạnh phúc tình cảm của nàng với Thúc sinh sẽ đi về đâu? vấn đề không đơn giản vói nụ cười hả hê vô tư của mọi người!

Có thể nói nàng có máu lạnh thích đấu đá ghen tuông gai góc để thoả mãn uy quyền và tự ái cá nhân hơn là tự vấn đấu tranh đi tìm sự êm ấm, hoà hợp yêu thương trong tình chồng vợ. Nàng không nặng lời thô lậu như nhiều người đàn bà khác khi ghen tuông với chồng và đánh ghen với với tình địch. Nhưng những thủ đoạn và sự khôn ngoan sắc sảo của nàng đã làm người đàn ông thúc thủ bất động, đồng thời cũng trở nên nguội lạnh e dè, hay lãnh cảm nói theo ngôn ngữ thời nay, khi gần gũi với nàng: Than ôi ! Thiên thần hạnh phúc đã vỗ cánh bay đi…Sự đấu tranh giành hạnh phúc đã vượt qúa biên giới của sự thuyết phục đối tượng yêu thương về với hạnh phúc gia đình, và chính kẻ đấu tranh là Hoạn Thư cũng bước vào ngõ cụt không lối thoát trong cơ chế xã hội đương thời. Có thể nói Hoạn Thư đã chết đứng từ đây gìống như Từ Hải khi rơi vào bẫy tình của Hồ Tôn Hiến. Chì khác là,Từ Hải chết đứng như một kẻ chiến bại, còn Hoạn thư chết đứng như một kẻ chiến thắng!!!

Nghĩ cho cạn tình cạn lý, đứa con tinh thần của Nguyễn Du đã được hoài thai thiếu hoàn chỉnh. Mặc dù so với phiên bản văn xuôi Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, thi sĩ có châm chước đôi điều, trong đó có sự tha bổng Hoạn Thư khi Kiều trả ơn báo oán. Nhưng điều căn bản nhất là hạnh phúc có con cái và được thương yêu trong tình chồng vợ, không một ai, kể cả tác gỉa Truyện Kiều để ý đoái hoài. Một ngườì đàn bà đảm lược khôn ngoan chỉ được xử dụng vào việc quán xuyến gia đình và trở thành câu chuyện mua vui trong những dịp trà dư tửu hậu, phỏng có phải là hạnh phúc? Trách nhiệm ấy ở ai? nếu không muốn nói là xã hội, chồng nàng và cả độc gỉa lẫn tác gỉa có dự phần trong đó?

Hoạn Thư rất cô đơn, ngoài bà mẹ già thương con, nhắm mắt ủng hộ con trong việc đánh lừa xã hội, còn có Thúy Kiều dù là tình địch, nhưng cũng là măt phải của đời nàng, còn giữ được tình người, cảm thông và tha bổng cho về. Một người dám phản kháng lại xã hội bất công với tham quan ô lại như Kiều bằng hành động ơn trả nghĩa đền, vẫn giành một khoảng trống trong tâm hồn riêng cho người đồng điệu.

Tóm lại, Hoạn thư là một phụ nữ bản lãnh và khôn ngoan tột bực. Một nhân vật kiệt xuất về đấu tranh về quyền con người của phụ nữ Việt, nổi lên từ những nghịch lý của xã hội bất công. Nàng đã ý thức được hoàn cảnh ngặt nghèo của cá nhân và đã vận dụng thành công tài sức của riêng mình--không phải thế lực bất công đương thời của cha là Thượng thư bộ lại--Một mình chống trả lại những bất công của gia đình và xã hội ràng buộc người phụ nữ vào những lề thói phi nhân bản. Tuy nhiên, nàng thật dũng cảm và cũng thật đáng thương! đã trở thành một con thiêu thân trong một xã hội khắc nghiệt bất công và trong môi trường vô hạnh phúc của đời mình. Người ta khiếp phục, ca tụng, tán dương nàng như những mẫu mực tuyệt vời của nghệ thuật đánh ghen để phục vụ khát vọng uy quyền và lòng tự ái ích kỷ cá nhân; Ít ai cảm thông chia xẻ với những bất hạnh của đời nàng…

 

Phạm đức Khôi

 

California 27/8/2014

 

CHÚ THÍCH

 

1-    Tất cả số câu thơ Kiều trích dẫn trong bài lấy từ Tự Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh do Đông Anh-Hà Nội xuất bản 1989; và Truyện Kiều Chú Giải của Vân Hạc Văn Hòe, Ziên Hồng, 1959

 

2-    Wikipedia, ngày 24 tháng 6 năm 2013

 

3-    Vân Hạc Văn Hoè, Truyện Kiều Chú Gỉai, Ziên Hồng, 1959, p323)

 

4-    http//w.w.w thivien.net

 

Vietsciences-vo Thu Tinh (12/11/2

 

 

 

 

 

Hồi Ức Giáng Sinh

E-mail Print

Thêm một mùa Giáng Sinh đến khắp nơi, riêng Toronto thành phố tôi đang cư ngụ là xứ lạnh nhưng năm nay không một hạt tuyết rơi, ngược lại mưa âm ỷ suốt ngày 24th. Có lẽ nhiều người Canadian thất vọng vì ai cũng mong sẽ có một “White Christmas” (Giáng Sinh Trắng) để mùa lễ được thêm ý nghĩa!

Last Updated ( Saturday, 03 January 2015 16:37 )
 

NỖI LÒNG CỦA NGƯỜI THIẾU NỮ VIỆT CỔ THỜI QUA BÀI CA DAO “ĐÊM QUA RA ĐỨNG BỜ AO”

E-mail Print
User Rating: / 4
PoorBest 

 

(Kính tặng GS. Dương Mạnh Thường, vị thày đã hướng dẫn chúng tôi những bước đầu bước vào hành trình văn học dân gian)

Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian. Ca có nghĩa là giọng ngân dài; dao là hát không cần nhạc đệm. Ca dao là loại văn chương bình dân được truyền khẩu, thêm bớt lưu truyền trong dân gian theo thời gian, nên hoàn toàn không biết tác giả là ai. Nội dung bài hát mô tả tình cảm nam nữ, tính tình, phong tục tập quán, sinh hoạt địa phương, thấm đậm màu sắc và tình yêu quê hương. Do đó ca dao còn được gọi là phong dao như cuốn “Tục Ngữ Phong Dao” của Ôn Như Nguyễn văn Ngọc.(1) Một đặc điểm nữa là ca dao không có đầu đề, nên ngươi ta hay lấy câu đầu bài hát làm đề bài. Bài “Đêm Qua Ra Đứng Bờ Ao” chúng ta chọn phân tích hôm nay, cũng không ra ngoài thông lệ ấy:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch Sai Mai

Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà

Mối sầu Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ...

Trước khi tìm hiểu tâm tình của người thiếu nữ (?) như đề bài đã dẫn, chúng ta cần xác định một vài chi tiết làm nền tảng cho việc phân tích.

Nhìn vào kết cấu của bài hát theo thể thơ lục bát, chúng ta thấy có sự tách bạch về hình thức thật rõ rệt, mang văn phong của hai tác gỉa ở vào hai giai tầng xã hội khác nhau: Một đằng ngôn ngữ thuộc giới bình dân mộc mạc nhưng trữ tình. Mặt khác, trong bốn câu sau, là lối văn đài các của con nhà quyền quí có học. Chỉ với bốn câu đã chứa đựng đến ba điển tích của giới văn chương bác học đương thời, như “Ngân Hà, Tinh Đẩu, Tào Khê...”

Dù có sự khác biệt về văn phong, nhưng nội dung của hai phần lại có sự kết hợp nhuần nhuyễn, làm bài ca trở nên phong phú về thanh điệu và sâu đậm về tình cảm. Hơn nữa dù gì sự thêm bớt vốn là đặc tính của ca dao để được mọi giới đồng bào chấp nhận và truyền tụng.

Điểm thứ hai trong câu tám, có phiên bản viết:

“Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn”

Phần khảo dị “Chuôi sao Tinh Đẩu” đi với “ ba năm tròn” không có nghĩa. Tinh Đẩu đây chính là sao Bắc Đẩu hay Đẩu Tinh đã có từ ngàn xưa, dù nội dung có ý nghĩa gì chăng nữa cũng không thể giới hạn thời gian ở “ba năm tròn” với một thiên thể còn rất mơ hồ với sự hiểu biết của con người Việt thuở ấy.

Điểm thứ ba được coi như trọng tâm của bài phân tích hôm nay, đó là nội dung tâm tình của người thiếu nữ được gỉa định trong đề bài, hay của người nam như một số tác gỉa quá dễ dãi trong tư duy, mặc dù nội dung tác gỉa bài ca dao không hề minh định phái tính?

Căn cứ vào phong cách ăn nói, tâm lý, phong tục tập quán ảnh hưởng đến phong thái của mỗi giới nam hay nữ trong xã hội Việt cổ thời, người ta có thể khẳng định bài ca dao trên là tâm tình của người thiếu nữ Việt.

Có ba chi tiết có thể biện minh cho luận cứ này: Tâm tình của người thiếu nữ Việt thường được dấu kín, không dám bộc lộ với ai nên ban đêm mới “ra đứng bờ ao” để tâm hồn giao hoà bộc lộ với đất trời. Một phưong cách mà nam giới ít khi nào thể hiện. Chi tiết thứ hai “ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai”. Giăng tơ ra mà chờ đợi không phải là bản năng của phái nam. Người nam luôn năng động và chủ động đi tìm đối tượng yêu đương, ít khi nào ngồi chờ sung rụng như phái nữ, dù là có “giăng tơ”. “Chờ mối ai” chính là quan niệm thụ động của phái nữ thường được ghi nhận qua: “ Thân em như giọt mưa rào, giọt rơi xuống giếng, giọt vào vườn hoa.”

Chi tiết thứ ba và cũng là điểm then chốt của luận cứ này. Người con gái xưa ít khi nào ra khỏi nhà lâu ngày, trừ khi xuất gia lấy chồng. Vậy làm sao đôi tình nhân lại có sự chia lìa xa cách tới những “ ba năm tròn”, hoạ chăng là người nam đi “lính thú” (tương tự như quân dịch) với “ Ba năm trấn thủ lưu đồn...” và nàng là ý trung nhân của chàng?

Ba yếu tố trên khiến ta có thể đi đến kết luận: Tâm tình bộc lộ trong bài ca dao trên phải là của người thiếu nữ Việt cổ thời.

Sau khi đã xác định một số chi tiết gỉa định, tiếp theo đây chúng ta đi sâu vào nội dung của khúc hát:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ

Bối cảnh mà tác gỉa bài ca dao xây dựng cho phép chúng ta tưởng tượng: Đây là tâm tình của người thiếu nữ đang yêu, đang gắn bó với một “ý trung nhân đã thề non hẹn biển,” nhưng nay không hiện diện để cùng nàng luyến ái yêu đương.

Bờ ao là khoảng không gian yên tĩnh của một gia đình trung lưu ngoài Bắc, có thể được bao phủ bởi cây khế, vườn cau hay bờ tre nước. Nơi đây chắc hẳn có nuôi cá, thả bèo và tất nhiên phải có cầu ao, một địa điểm sinh hoạt và thông tin của mỗi gia đình như tắm rửa giặt giũ, vo gạo, rửa bát; cũng có thể là nơi trao đổi tin tức với xóm giềng về con gà mất cắp, hay thằng cháu lên sởi khóc nhè...Cầu ao là dạng diễn đàn thông tin cỡ nhỏ khác với ao làng, nhưng cũng đủ giải toả sự cô lập của đơn vị gia đình sau lũy tre xanh khi hữu sự. Người miền Bắc với ao cá cầu ao cũng giống người miền Trung, Nam với giếng nước cần vọt. Sự khác biệt bởi người Bắc còn mê tín dị đoan, đào giếng sợ động “long mạch,” gây mất an nguy cho sự thịnh vượng của gia đình.

Người con gái đã chọn “bờ ao” mà không chọn “cầu ao” bởi sự kín đáo của câu chuyện lòng không biết ngỏ cùng ai; bởi sự quan hệ luyến ái giữ gái trai thời xưa không được xã hội khuyến khích nếu không muốn nói lá cấm đoán. Nàng đã kín đáo trao gởi tâm hồn cho trăng gió, cho mặt nước ngàn sao, một ngoại cảnh phù hợp với tâm tình lãng mạn trong quay quắt nhớ thương của người thiếu nữ đang độ trăng tròn. Nhưng than ôi! Tất cả đều ngoảnh mặt lại với nàng: Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ...

Thiên nhiên không đáp ứng chia xẻ được gì với tâm sự hắt hiu của lòng nàng, vì chính tim nàng đang có sự không vui.

Tâm trạng này ta cũng tìm thấy nơi nàng Kiều của Nguyễn Du khi bị rơi vào chốn lầu xanh. Trong cái cảnh “gió trúc mưa mai,” “mưa Sở, mây Tần” mà Kiều chỉ thấy lạnh lẽo đơn côi:

Vui thì vui gượng kẻo là

Ao tri âm ấy mặn mà với ai

Từ đó cụ Nguyễn đã rút ra một định luật tâm lý:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Không bằng lòng với sự ruồng rẫy của thiên nhiên, người thiếu nữ trẻ không chịu đầu hàng, nàng xoay qua tìm sự cảm thông của nhện:

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

Hoàn cảnh của nhện có cùng hoàn cảnh với nàng: cùng chờ đợi một niềm hy vọng trong hạnh phúc đoàn tụ. Nhện giăng tơ cũng như nàng gởi mối tơ lòng cho người bạn tình ngoài ngàn dặm và chờ ngày tương hợp. Nàng bắt tâm sự với nhện nhưng nhện vẫn vô cảm, im lìm...

Một sự kiện chúng ta ghi nhận ở đây là vấn đề thời gian tâm lý. Nàng thiếu nữ khởi đầu tâm sự từ “Đêm qua”. Tức cảnh đêm tối trời sao lấp lánh, không có ánh trăng soi rọi, cớ sao nàng có thể nhìn được “con nhện giăng tơ”? Muốn hiểu được điều này chúng ta phải đi sâu vào thời gian tâm lý.

Khi nàng xác định thời điểm qúa khứ “hôm qua ra đứng bờ ao” ta phải hiểu là “ hôm nay” là thời gian hiện tại nàng đang nhìn “con nhện giăng tơ.” Nhưng hai thực trạng tâm lý là một thực tế sinh động không giới hạn ở thời điểm qúa khứ, hiện tại, hay tương lai. Cá lặn, sao mờ và con nhện giăng tơ có thể ở thời gian và không gian vật lý khác nhau, nhưng trong tâm thức sinh động của nàng những thời điểm ấy luôn quyện lẫn vào nhau như bóng với hình. Thời gian tâm lý không được đo bằng những khoảng khắc của tiếng tích tắc đồng hồ mà đo bằng sự cảm ứng của nội tâm, nó có thể rất ngắn, rất dài hay chỉ là một khái niêm mơ hồ không phân biệt trước sau, tất cả tùy thuộc tâm trạng vui buồn của mỗi người trong cuộc. Do đó cổ nhân mới có câu “nhất nhật bất kiến như tam thu hề,” một ngày hai người yêu nhau không gặp mặt như thể ba năm! Hay “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Đấy chính là tâm trạng của người thiếu nữ trong bài ca dao, nàng dường như không phân biệt được thời gia không gian vật lý, chỉ cảm nhận sư giao đông của con tim chứa hình ảnh yêu dấu thoắt ẩn, thoắt hiện của người tình xa cách.

Buồn trông chênh chếc sao Mai

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ

Có thể sao Mai cảm thông va chia xẻ được với tâm sự của nàng chăng? Vì sao Mai, sao Hôm là hai vì sao sáng nhất vào buổi sáng sớm và chiều tối bỗng mờ đi trước cái nhìn đồng cảm nhớ thương da diết của nàng?

Để hiểu thấu tâm trạng của nàng thiếu nữ hướng về vì sao Mai, ta phải am hiểu cặn kẽ thực tế và ý nghĩa văn vẻ của vì sao quen thuộc này đối với dân gian.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Sao Hôm, Sao Mai chính là sao Kim gọi theo từ Hán-Việt. Sao Kim hay Kim tinh (金星), còn có tên là sao Thái Bạch (太白) hay Thái Bạch Kim tinh (太白金星) (từ thường được dùng khi xem tướng mệnh). Nó tự quay quanh mình với chu kỳ 224,7 ngày. Nếu xếp sau mặt trăng về độ sáng, sao Mai là thiên thể tự nhiên sáng nhất trong bầu trời tối, với cấp sao biểu kiến bằng −4.6, đủ sáng để tạo bóng trên mặt nước. Bởi vì Sao Mai là hành tinh phía trong tính từ Trái Đất, nó không bao giờ xuất hiện trên bầu trời quá xa Mặt Trời: góc đạt cực đại bằng 47,8°. Sao Mai đạt độ sáng lớn nhất ngay sát thời điểm hoàng hôn hoặc bình minh. Do vậy mà  nó còn được gọi là sao Hôm, khi hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn; và sao Mai, khi hành tinh này mọc lên lúc rạng đông.

Tương tự như thế, Giáo sư Nguyễn Quang Riệu, người đứng đầu ngành khảo cứu của Đài Thiên văn Paris của Pháp, trong công trình tham khảo lấy tên “Lang thang trên giải Ngân hà, ” ông đã mở đầu cuốn sách tưởng như rất khô khan này bằng những vần thơ trữ tình lai láng trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn (Bản dịch tương truyền là của Bà Đoàn Thị Điểm):

Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Nhìn xem trông vẻ Thiên chương thẫn thờ.
Áng Ngân hà khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê triền khi có khi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài
.

Nếu chúng ta đặc biệt để ý đến hai câu cuối, sẽ nhận ra “Chuôi sao Bắc Đẩu” đây cũng lại là sao Hôm, sao Mai xuất hiện trong bài ca dao của nàng thiếu nữ mang dáng dấp “vị-chinh-phụ” gần gũi với người chinh phụ của nữ sỹ họ Đoàn.

Các bạn hẳn đã biết rằng Trái Đất tự quay quanh trục Bắc-Nam theo chiều Tây sang Đông một vòng là 24 giờ, vì thế khi nhìn lên trời, ta thấy có vẻ như là bầu trời quay ngược lại từ Đông sang Tây một vòng cũng là 24 giờ (đây là ta chỉ nói cho những người ở Bắc bán cầu – còn ở Nam bán cầu, người ta thấy bầu trời quay ngược lại). Chuyển động biểu kiến đó của bầu trời gọi là nhật động (diurnal motion), vì thế vào lúc chập tối nếu ta thấy chuôi sao Bắc Đẩu (hay sao Hôm) nằm ở phía Đông, thì sau đó vào lúc gần sáng ta sẽ thấy nó (sao Mai) đã “quay“ sang phiá Tây rồi!

Ông Bà ta còn lầm lẫn sao Hôm, sao Mai là sao Sâm và sao Thương (2). Do đó khi Kiều được Từ Hải cho ơn trả nghĩa đền, khi gọi đến tình lang là Thúc Sinh đã được Kiều của Nguyễn Du dùng đến ý niệm cách trở của sao Sâm, Thương để viện dẫn sự cảm thông:

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?

Hai sao không thể nào gặp nhau bởi vì thực chất nó chỉ là một!  Đó là hai tên gọi khác nhau của một “ngôi sao“ (thực chất đó là một hành tinh gọi là Kim tinh -Venus).  Trình độ Thiên văn học của người xưa còn hạn chế nên họ mới lầm tưởng đó là hai ngôi sao tượng trưng cho sự vĩnh viễn chia phôi!(3)

Người thiếu nữ trong ca dao ở vào thời điểm xa xưa ấy cũng không vượt ra ngoài được trình độ giới hạn của khoa thiên văn học đương thời. Do đó nàng phần nào nhận được sự cảm thông an ủi trong cách phản hồi “mờ ảo” của sao Mai.

Tuy nhiên, nỗi nhớ nhung hiu quạnh cứ triền miên theo tháng ngày, sao Mai lạnh lẽo không đủ ấp ủ nỗi lòng trinh nữ, nàng lại hướng tâm hồn mỗi đêm về với ngàn sao thuộc dải Ngân Hà:

Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà

Mối sầu Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Có thể nói tất cả nỗi lòng u uẩn của người trinh nữ được gói gém trọn vẹn trong hai câu thơ ngắn ngủi nhưng súc tích này.

Điệp từ “đêm đêm” cho thấy, kể từ dạo ấy khi người tình vắng bóng, nỗi nhớ thương của người thiếu nữ đã được thử thách với thời gian. Đợi cho chuỗi ngày dài không dứt qua đi, nàng ngóng chờ đêm tới để gởi hồn cho dải Ngân Hà. Câu chuyện tình lâm ly bí ẩn của nàng có lẽ phát xuất từ đây? Nàng thấy gì trong dải tinh vân xa vời nhưng gần gũi ấy?

Để khai mở mối tình éo le này, ta cùng bước vào điển tích Ngưu Lang-Chức Nữ và dải Ngân Hà:

Theo Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia, Ngân Hà, còn gọi là sông Ngân hay Thiên Hà (galaxy), trong đó có Hệ Mặt Trời . Nó xuất hiện trên bầu trời như một dải sáng trắng kéo dài từ chòm sao Thiên Hậu (Cassiopeia) ở phía bắc, đến chòm sao Thập Tự ( South Crux) ở phía nam. Dải Ngân Hà sáng hơn về phía chòm sao Nhân Mã (Sagittarius), tức trung tâm của Ngân Hà. Một dữ kiện thực tế là dải Ngân Hà chia bầu trời thành hai phần xấp xỉ bằng nhau. Điều này chứng tỏ hệ Mặt Trời nằm rất gần với mặt phẳng của thiên hà này.

Theo khảo sát của các nhà thiên văn học qua kính viễn vọng, Ngân Hà là một thiên hà xoán ốc chặn ngang. Theo phân loại  của Hubble, đó chính là dạng thiên hà hình đĩa có các nhánh liên kết không chặt chẽ và có phần gần trung tâm lồi hẳn lên, với khối lượng xấp xỉ 1012 khối lượng của Mặt Trời (M), gồm khoảng từ 200 tới 400 tỷ ngôi sao . Dải Ngân Hà có đường kính khoảng 100.000 năm ánh sáng và khoảng cách từ Mặt Trời đến trung tâm dải Ngân Hà cũng ước chừng khoảng 27.700 năm (ánh sáng)!

Thực ra các tên gọi Ngân Hà, sông Ngân hay Thiên Hà trong tiếng Việt bắt nguồn từ Trung Quốc. Vào những đêm trời quang nhìn lên bầu trời ta có thể thấy một dải màu trắng bạc kéo dài do rất nhiều ngôi sao tạo thành. Nó được người Trung Quốc hình tượng hoá thành hình ảnh một dòng sông chảy trên trời với màu bạc trắng và gọi nó là Ngân Hà : 銀河) hoặc Ngân Hán (銀漢), hay Thiên Hà (天河), Thiên Hán (天漢), Vân Hán (雲漢), Tinh Hà (星河).

Nhưng dưới mắt của người Đông phương chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, hai đầu Sông Ngân còn có câu chuyện tình lâm ly không có hồi kết thúc, đó là mối tình xuyên không gian vượt thời gian: Ngưu Lang  (牛郎) và Chức Nữ (織女) hay Ông Ngâu, Bà Ngâu. Câu chuyện cổ tích này có hai phiên bản với nhiều khác biệt, một của Việt Nam và một của Tàu. Truyện có liên quan đến các “Sao Chức Nữ (Vega), “Sao Ngưu Lang” (Altair), dải “Ngân Hà và hiện tượng “Mưa ngâu” diễn ra vào đầu tháng Bảy âm lịch ở Việt Nam.

Với tâm tình của một thiếu nữ thuần Việt trong bài ca dao và ý thức kiêu hùng bất khuất của con cháu vua Hùng, chúng ta tiếp nhận phiên bản Việt dưới đây như di sản hoa văn hoá thoát thai hay tinh lọc từ văn hoá nước ngoài nhưng vẫn mang sắc thái văn hoá Việt tộc.

Phiên bản Việt kể rằng:

Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của “Ngọc Hoàng Thượng Đế,” vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê việc chăn trâu, khiến trâu tràn vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc canh cửi. Ngọc Hoàng nổi giận bắt cả hai phải ở xa nhau, người đầu sông, kẻ cuối sông Ngân.

Sau đó nghĩ lại thương tình, Ngọc Hoàng gia ân cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng Bảy Âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần tạo thành cơn mưa và được người trần đặt tên là Mưa Ngâu.

Thời bấy giờ Sông Ngân trên Thiên đình không có cầu, nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời tiến hành sứ mạng. Vì mạnh ai nấy làm, chẳng ai bảo được ai. Họ cãi nhau ỏm tỏi nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn chưa hoàn thành. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm “qụa”, chụm đầu lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Do vậy có từ “bắc cầu ô thước”. Từ đó cứ tới tháng Bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc “Ô kiều”.

Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân lấy làm ghê sợ, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu phải nhổ sạch lông đầu. Vì vậy, cứ tới tháng Bảy thì loài quạ đầu rụng hết lông, cánh đuôi xơ xác.

Tuy nhiên sau một thời gian Ngọc Hoàng vốn tính nhân từ, cảm thương cho sự chia lìa của cặp vợ chồng Ngâu, đã trả lại hình hài cho những người thợ mộc và ra lệnh họ phải làm một cây cầu thật vững để Ngưu Lang và Chức Nữ có thể gặp nhau.Từ đó về sau Ngưu Lang và Chức Nữ được chung sống bên nhau trọn đời.

Có lẽ do tích này mà ở Bình Định thuộc miền Trung Việt Nam có từ "quạ làm xâu", nói về sự vắng bóng của những con quạ một khoảng thời gian rồi trở về với cái đầu trọc lóc, trông rất khôi hài.

Có dị bản khác cho rằng tên gọi Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.(4)

Với sự tích nêu trên ta thấy nàng thiếu nữ “đêm đêm tưởng dải Ngân Hà”, hẳn nghĩ đến thân phận hẩm hiu của đời mình: nghịch cảnh ngang trái chia lìa hai kẻ yêu nhau! Lý do không phải vì “ mẹ em tham thúng sôi dền, tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng” mà vì nghĩa vụ làm dân một nước thường trực chiến tranh: “ Ba nam trấn thủ lưu đồn”, chàng đi lính thú ngăn chặn kẻ cựu thù truyền kiếp phương Bắc.

Có thể nàng cũng ước ao được gặp lại tình lang, dù mỗi năm chỉ một lần như Ngưu Lang Chức Nữ. Nàng mơ về một viễn tượng xum vầy dù chỉ thoáng qua với đầy nước mắt như vợ chồng Ngâu... Là một thôn nữ đang độ xuân thì với đầy ắp những huyễn tưởng yêu đương, dù nàng chưa thực sự là một chinh phụ với phân vân trước tình nhà nợ nước và những trách nhiệm làm con, làm vợ, làm mẹ như người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn, nhưng nàng vẫn có quyền sống trong tưởng tượng và mơ ước của một người thường... vì ước mơ xưa nay vẫn là một phần quan trọng của đời sống con người và của chính đời nàng.

Chúng ta còn nhớ trong cuốn “Người Đàn Bà Ngoại Tình” (La Femme Adultère) của triết gia Hiện Sinh Albert Camus người Pháp sinh tại Algeria. Ông miêu tả hình ảnh hai vợ chồng người lái buôn (Janine và Marcel)-- người Tây phương (Pháp) sinh ra và lớn lên tại Algeria-- trong một cuộc hành trình xuyên sa mạc bằng xe ngựa. Giữa sa mạc nắng cháy da người, khô cằn sự sống ở Algeria, người đàn bà tức Janine vốn chịu đựng cuộc hôn nhân không tình yêu với người chồng chỉ biết kinh doanh và coi trọng đồng tiền. Trong cảnh bi đát khô cằn sự sống của sa mạc và người chồng vô cảm ấy, nàng luôn mơ về một đồng cỏ xanh rờn với sông nước và mùa xuân bất tận... Ban đêm nàng bị cuốn hút vào sự đam mê đắm đuối với ánh sáng lung linh kỳ diêu của những vì sao... Đây chính là biểu tượng khát vọng tự do, biểu tượng của cuộc hôn nhân chính trị (polictical marriage) giữa những người Âu di dân đến Algeria (Pieds-Noirs) và người Hồi giáo Arab trước khi Algeria giành được độc lập (1962). Những đam mê của nàng là ước muốn giải thoát khỏi sự cô đơn, một thứ ngoại tình tư tưởng hướng về một viễn ảnh đẹp, trái với thực tại vô lý, bất công của đời sống.(5)

Bỏ ra ngoài những màu sắc chính trị và phân biệt chủng tôc của câu chuyện “ Người đàn bà ngoại tình”, nếu chỉ nhìn về mặt tâm hồn và bản năng phụ nữ, chúng ta ghi nhận: “người đàn bà ngoại tình” đã có sự đồng điệu với người thiếu nữ Việt trong bài ca dao “Đêm qua ra đứng bờ ao”. Hai người cùng ước mơ một tình yêu tươi mát và lãng mạn; cả hai cùng đam mê ở những vì sao, một phương cách giải phóng tâm hồn, phá vỡ những gò ép của xã hội, một thực tại sơ cứng trái với ước mơ của đời sống để tìm về một mối tình thủy chung và tương cảm.

Ngân Hà và Tinh Đẩu là hai tập hợp tinh hệ khác nhau nhưng rất có ý nghĩa đối với người thiếu nữ. Một đằng nó gỉai phóng óc tưởng tượng và tình yêu đắm đuồi của nàng, một đằng khêu gợi sự chia xa phải có với người yêu trong bổn phận và nghĩa vụ của con dân với quê hương đất nước.

Như ta đã biết Tinh Đẩu hay Đẩu tinh chính là sao Bắc Đẩu. Sự đảo ngữ chỉ để tương hợp với luật bằng trắc của thơ lục bát. Tinh Đẩu chính là mảng sao nằm trong chùm Đại Hùng Tinh (Ursa Major) ở hướng Bắc địa cầu. Bắc Đẩu là từ Hán Việt có nghĩa là chùm sao giống hình cái đấu để đong lúa gạo, gồm bảy ngôi chạy dài cong như cái muỗng cơm, nên người Mỹ còn gọi là Big Dipper.

Sao Bắc Đẩu dưới mắt người việt cũng là sao Hôm, sao Mai xuất hiện ở phương Đông, chiều có mặt ở phương Tây (Đoài), biểu tượng của sự cách biệt chia phôi như hai câu cuối đã dẫn trong Chinh phụ Ngâm Khúc:

Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài

Tại sao không phải là mỗi năm như Ngưu Lang, Chức Nữ vào đầu tháng Bảy? Tại sao lại là “ba năm” mang nặng mối sầu ly biệt?

Tìm vào kho tàng tục ngữ phong dao, chúng ta ghi nhận: “Ba năm” đây chính là thời gian ba năm nghĩa vụ của người lính thú, “trấn thủ lưu đồn” mà ngày nay chúng ta gọi là quân dịch trong bài ca dao dưới đây:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan

Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc măng mai

những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng

Nước suối trong, con cá nó vẫy vùng

Hai câu “Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” và câu cuối “Nước suối trong con cá nó vẫy vùng” nói lên ý chí yêu tự do và ý thức trách nhiệm trong thân phận làm người của chàng lính thú, của cả một dân tộc kiên cường lớp lớp tiếp tay nhau vùng lên chống ách thống trị ngàn năm của kẻ thù truyền kiếp.

Câu ca dao trên có nghĩa, kể từ ngày xa cách tình lang ( mối sầu Tinh Đẩu), đáp lời sông núi đi lính thú đồn trú ngoài biên ải, ngăn chặn quân thù từ vùng rừng núi biên thùy ( trên ngàn). Đến nay đã trọn ba năm làm xong nghĩa vụ vẫn chưa thấy chàng về, nhưng nàng vẫn một lòng thủy chung chờ đợi:

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ...

Có người cho rằng Tào Khê là tên một dòng sông ở Đông Nam huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi có ngôi chùa cổ Bảo Lâm, còn gọi là Nam Hoa, từng là đạo tràng lớn của Đại sư Huệ Năng (638-713), vị Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Quốc. Tào Khê còn là một danh lam thắng cảnh gắn liền với thiền môn.(6)

Tào khê cũng có thể là tên một con sông trước chảy qua làng Đình Bảng (Bắc Ninh) nay đã cạn; một hiện thực mang tên một dòng sông đã minh chứng cho lòng son sắt của người thôn nữ xứ “địa linh nhân kiệt,” vốn là nơi sinh trưởng của tác gỉa bài ca dao trữ tình và thủy chung kia?

Lòng trung trinh của nàng thôn nữ đầy tình yêu dào dạt, nói lên tính lãng mạn thủy chung của người thiếu nữ Việt, đồng thời cũng là điểm tựa nức lòng cho những người trai đất Việt, xứ sở của ngàn năm chinh chiến.

Nói đến đây ta lại nhớ tới hình ảnh của người thôn nữ thời Tây Sơn, mơ về dáng dấp hào hùng của Quang Trung Nguyễn Huệ cỡi voi đại phá quân Thanh:

 

Em ao ước được là người thục nữ

Hát véo von trong mộng Bắc Bình Vương...

 

Niềm hạnh phúc lứa đôi và ước mơ xã hội đã quyện vào giòng sinh mệnh của một dân tộc biết yêu tự do, thà “chết vinh hơn sống nhục”, đã tạo nên ý chí quyết thắng: “Đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Vinh quang thay và cũng kiêu hãnh thay là dân của một đất nước hào hùng, mọi người dân trẻ gìa gái trai, sẵn sàng nằm gai nếm mật hy sinh hạnh phúc cá nhân, gia đình để bảo vệ biển đảo và mảnh đất thân yêu với ý chí bất khuất quật cường. Một dân tộc với truyền thống bất khuất kiêu hùng ấy, đã biết yêu quê hương hơn chính hạnh phúc bản thân mình, chắc chắn bất cứ thế lực thù địch nào cũng phải e dè khiếp phục.

 

Tóm lại đọc xong bài ca dao “Đêm qua ra đứng bờ ao”chúng ta thấy phấn khởi bắt gặp một mẫu người thiếu nữ Việt cổ thời với con tim đầy nhựa sống, dạt dào tình yêu với hy sinh và dâng hiến. Sau bóng dáng yêu kiều thục nữ này, phảng phất hình bóng người lính thú chinh nhân trấn thủ lưu đồn, nắm chắc ngọn giáo giữ gìn giang sơn bờ cõi. Hoàn cảnh chiến tranh thường trực chống kẻ Bắc phương xâm lược, khiến đôi trẻ tạm thời phải chia lìa, nhưng tâm khảm lúc nào cũng gắn bó đợi chờ một ngày đoàn tụ khi đất nước vắng quân quân thù. Nơi đây, tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã đắp đổi sắt son, tạo thành dòng sinh mệnh trường tồn của tổ quốc Việt Nam dấu yêu với những con tim cuồn cuộn máu kiêu hùng...

 

California ngày 17 tháng 7 năm 2014

 

Phạm Đức Khôi

 

 

 

 

GHI CHÚ

 

1- Tục Ngữ Phong Dao, Ôn Như Nguyễn văn Ngọc, nhà xuất bản Mặc Lâm, 1967

 

2-Sao Sâm ở giữa chòm sao Orion cũng gọi là sao Cày. Sao Thương là mấy sao sắc đỏ ở đuôi chòm Scorpien còn gọi là sao Thần Nông, ở cách biệt nhau 180 độ nên mang biểu tượng của chia lìa cách trở. Theo Tự Điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh, P395)

 

3-Nguyễn Thành Tương, Tản mạn về Bầu Trời Đêm, 5- 2012,
http://hongoccan56-63.com/ntt_tanman.html

4-Ngưu Lang, Chức Nữ, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

5-Albert Camus, La Femme Adultère, Sex, Book Reviews, Short Story, January 29, 2006

 

6- Giác Ngộ Online, https://giacngo.vn/PrintView.aspx

 

 

MÙA VỌNG

E-mail Print

Vinh danh Thiên Chúa trên trời,2.advent-0001

bình an dưới thế cho người thiện tâm“

Từ thuở xa xưa con người tin theo chu kỳ hằng năm vào ngày 25.12 là ngày mặt trời trở lại vòng luân chuyển. Người Ai Cập với nền văn hóa Isis tin là sinh nhật của Horu vào ngày này, người Ấn Độ mừng Thần Ánh Sáng. Người Roma bắt đầu lễ kính thần Mặt Trời Sarturnalien và thần Thổ Tinh Saturn, người Germanen từ vùng Bắc Đức đến các nước Bắc Âu cử hành lễ “Giữa Đông” (Mittwinterfest) hay Julfest. Người Roma cũng như Á Châu hay Ai Cập đều tổ chức những ngày lễ hội dân gian khác nhau. Về niên lịch và Thánh kinh không ghi rõ ngày nào Thiên Chúa xuống thế làm người, bởi vậy ngày Chúa giáng sinh có nhiều khác biệt, Cơ Đốc giáo dựa theo lịch Gregory là ngày 7 tháng Giêng.

daiTừ năm 353, Hoàng đế La Mã Constantintius II chọn ngày 25.12 làm lễ Gíang sinh và năm 354, Đức Giáo Hoàng thứ 26 là Liberius (trị vì từ 17.5.352 đến 24.9.366) Ngài chính thức mừng lễ Giáng sinh vào ngày 25.12. Công đồng Konstantinopel quyết định công khai vào năm 381. Dựa vào lời Kinh cựu ước loan báo Đấng cứu độ là “Mặt Trời Công Chính” (Mal 3,20), Chúa Giêsu cũng tự ví mình là “Ánh sáng trần gian” (Ga 8,12), là “ánh sáng thật soi chiếu mọi người” (Ga 1,9) đã đến trần gian. Ngày Giáng sinh của Chúa là lễ “Thần mặt trời bách chiến bách thắng”. Người Kitô cũng muốn loan báo cho người khác biết: Mặt trời thì tốt, và chúng tôi cũng vui như các bạn về chiến thắng của mặt trời. Nhưng mà mặt trời tự nó không có ánh sáng, nó chỉ có ánh sáng là do Thiên Chúa tạo dựng và ban cho. Qua đó mặt trời báo cho chúng ta ánh sáng thật, ánh sáng từ Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của mọi loài thụ tạo. Ngài là nguồn của tất cả ánh sáng, không như mặt trời chỉ là công trình tạo dựng của Thiên Chúa, vì nó chỉ là một vật không có sự sống nếu không có Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa của ngày lễ Giáng sinh. Ngày sinh của Chúa Kitô, ngày mặt trời đổi vòng luân chuyển trong mùa đông của lịch sử thế giới, ngày cho chúng ta tin tưởng trong những bước thăng trầm của lịch sử quyền lực của tối tăm. Ngay từ thời Cựu ước, nhân loại mong đợi Đấng Cứu Thế ra đời..Đức Chúa Cha để con một của ngài là Chúa Giêsu Kitô xuống thế làm người tại Belem cách đây hơn 2000 năm. Ngài đến trong mầu nhiệm Giáng sinh của Giáo hội. Ngài đến để xét xử kẻ sống và kẻ chết ban cho chúng ta những ân sủng.

Vòng hoa Mùa vọng

1-advent-0001Mùa Giáng sinh bắt đầu với 4 tuần mùa vọng từ ngày Chúa nhật Adventsonntag ngày 30.11.2014 và chấm dứt vào đêm 24-12 Heiligen Abend. Danh từ Mùa Vọng bắt nguồn từ tiếng La Tinh “Adventus“/Ankunft”, có nghĩa là đến. Theo tài liệu, mùa vọng đầu tiên được tổ chức tại thành phố Ravenna Ý vào thế kỷ thứ 5. Đến thế kỷ thứ 6 thời Đức Giáo Hoàng Gregor, mùa vọng có 6 Chúa nhật đến lễ ba Vua, nhưng đến thời ĐGH. Pius V, mùa vọng chỉ còn 4 Chúa nhật.

Mỗi quốc gia có phong tục khác nhau. Ở Đức, Chúa nhật Mùa vọng thứ nhất (Adventsonntag) thường treo giữa nhà Thờ, hoặc để trên bàn cái vòng hoa gọi là vòng hoa mùa vọng (Adventkranz). Theo tài liệu Mục sư Tin lành Johann Heinrich Wichern (1808-†1881) ở Hamburg, giúp cho các em mồ côi, lang thang ngoài đường phố ăn xin, ông sửa lại căn nhà của mình gọi là „Rauhe Haus/Roughens house“ đem nhiều em từ ngoài đường trong mùa đông giá lạnh về nuôi dưỡng, cho học nghề, trở thành thợ làm giầy, thợ sơn nhà cửa, thợ may hoặc làm vườn. Từ đó các em thoát khỏi kiếp ăn xin có thể tự lập được.

Mùa Vọng đầu tiên ở Đức năm 1839 sử dụng „Advantkranz“ trong phòng lớn nhà „Rauhe Haus“ của mục sư Johann, mỗi ngày thắp một cây nến, trên khung gỗ hình tròn có 4 cây nến lớn màu đỏ, và 19 cây nến nhỏ. Cho đến đêm Giáng sinh căn phòng rực sáng, ánh sáng nến tượng trưng cho Chúa Kitô, ánh sáng trần gian. Những năm sau người ta trang trí thêm những nhánh thông xanh, từ năm 1860 có sự thay đổi vòng hoa hình tròn là những nhánh thông xanh, 23 cây nến gom lại còn 4 cây tượng trưng cho 4 tuần cho sự chờ đợi ngày Chúa ra đời. Vì thế vòng hoa mùa vọng ra đời lần đầu tiên được treo trong nhà thờ ở Köln năm 1925 cho đến năm 1935 phổ biến rộng rãi khắp nơi. Vòng hoa đường kính lớn nhỏ khác nhau, phần trong làm bằng rơm khô, chung quanh bọc lá thông xanh tượng trưng cho sự sống muôn đời. Nhiều gia đình gắn thêm trái hồ đào trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại và những hoa trái tiêu biểu cho lương thực dồi dào của đời sống Kito hữu. Bốn cây nến này được lần lượt thắp lên mỗi tuần ý nghiã hướng chúng ta về với ánh sáng tránh xa tội lỗi. 4 cây nến được thắp lên mỗi ngọn nến với biểu tượng Hy vọng, Hòa bình, Tình yêu, và Niềm Vui. Mùa vọng nói lên niềm vui như Thánh Phao lô kêu gọi: Hãy vui lên… vì Chúa đang đến!

Chợ Giáng Sinh maerchen-weihnachtsmaerkte-800px-533pxTừ đầu tháng 12, tại Ðức có chợ (Weihnachtsmarkt/ Christkindlmarkt). Theo truyền thống lâu đời, từ năm 1434 thời Trung cổ ở thành phối Dresden tổ chức chợ đầu tiên ngày nay có 250 quầy hàng, mùa Giáng sinh hơn 2,5 triệu du khách người đến. Tiểu bang Bayern (Bavaria) thành phố Munich cuối tháng 11, trước tòa thị chính dựng cây thông tươi cao 30 m, trang trí hơn 2500 bóng màu rực rỡ, chợ Marienplatz có 140 gian hàng, thu hút khoảng 3 triệu du khách. Thành phố Nürnberg có dòng sông thơ mộng, từ năm 1628 có chợ Giáng sinh là ngày lễ hội nổi tiếng của Bayern, khai mạc ngày thứ Sáu trước mùa Vọng, Thiên thần xuất hiện là những thiếu nữ từ 16-19 tuổi hoá trang…180 quầy hàng giống như những chợ khác, bán thông xanh cao đến 2m50, (Weihnachtsbaum/ Christmas tree), nhiều loại bánh, trái cây, hàng thủ công nghệ, trái châu để trang điểm cho cây thông, đặc biệt bán rượu nho đỏ „Christkindl Glühwein“ hâm nóng bốc khói mùi thơm ngon. Về chiều 16 giờ trời đã tối, chợ rực rỡ ánh đèn màu rất đẹp, các cửa hàng bán qùa tặng đều có người gói hàng rất nghệ thuật, đẹp mắt miễn phí.

Hình ảnh quen thuộc nhất trong mùa Giáng sinh là ông già Noel trẻ em rất thích và mong đợi. Ông mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ kiểu xứ lạnh, đi giầy đen, tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết. Theo truyền thuyết, ông già Noel xuất hiện từ thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Ông chào đời tại quận Patara thuộc phần đất của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi được phong Thánh có tên là Nikolaus. Ngày 6 tháng 12 đi phát qùa cho trẻ em, nhưng phải phân biệt Nikolaus và Weihnachtsmann/ Santa Claus. Thế kỷ thứ 10 đời nữ Hoàng Thephanu gốc Hy Lạp, là vợ Hoàng Ðế Otto II của Ðức để nhớ thánh Nikolaus nên từ năm 1555 tại Ðức nguời ta may áo quần màu đỏ, đội tóc trắng, mang râu, giả làm Nikolaus, hình ảnh Nikolaus xuất hiện trở lại với ý nghiã mang tình thương đến với mọi người. Weihnachtsmann xuất hiện từ năm 1933 do quảng cáo của hãng Coca Cola. Hình ấy được thấy trên màn ảnh Tivi suốt muà Giáng sinh.

023_blondieÔng già Noel theo tiếng Pháp là Père de Noel, tiếng Anh là Nicholas, tiếng Hòa-Lan là Sinterklass. Theo tài liệu, trước khi được phong thánh, ông Nikolaus là người giàu có lòng nhân từ, đêm Giáng sinh ông được Thiên chúa mặc khải, đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người nghèo khổ và trẻ con. Ông biến những giấc mơ của họ thành sự thực, bằng cách mua qùa bánh để biếu những kẻ nghèo khổ, mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.

Có tài liệu khác cho biết ông già Noel được phong Giám mục vào thế-kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Khi được phong thánh, Nikolaus trở thành người đỡ đầu của các thương nhân, thủy thủ và trẻ con. Ông qua đời vào ngày 6/12 không nhớ năm. Ngày 6/12 hàng năm để tưởng nhớ lại hình ảnh người đạo đức, giàu lòng nhân từ bác ái, hình ảnh người mặc áo màu đỏ của Nikolaus thuở nào, đến từng nhà có trẻ con thăm viếng, chia bánh kẹo trong đêm Giáng sinh. Ông già Noel trở lại trần gian, theo đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình, để đồng tiền hay bánh kẹo vào trong chiếc vớ hay chiếc giày cho trẻ con treo gần giường ngủ hay lò sưởi, đem lại giấc mơ đẹp với tuổi thơ. Bởi thế Cha mẹ thường mua qùa bỏ vào đôi vớ để cạnh lò sưởi, lúc trẻ con thức dậy vui mừng với món quà của ông già Noel tặng. Phong tục này khuyến khích trẻ em nên làm điều thiện để được ông già Noel tặng qùa.

Ðêm Thánh vô cùng / Heiligabend /silent night

weihnachten_0307Chúa sinh ra trong máng cỏ nghèo hèn, để lại cho nhân loại lịch sử suy niệm, từ đó hàng năm tín đồ Thiên Chúa Giáo cử hành lễ Giáng sinh rất long trọng khắp nơi trên thế giới, để tưởng nhớ ngày Chúa ra đời ở thành Bêlem/Bethelem. Sự nhập thế của Chúa Hài đồng có những hiện tượng lạ theo sự hướng dẫn của ngôi sao kỳ diệu, Vua các vùng lân cận đã tìm đến là ngày lễ ba Vua mùng 6 tháng Giêng. Tín đồ trên thế giới đều thờ kính con một của Chúa Cha, xuống thế làm người và chịu chết trên cây Thánh giá. Thánh lễ Giáng sinh đêm 24 tháng 12 hàng năm có vô số những bài ca, người ta còn nhắc nhở đến những bài thánh ca bất hủ, trở thành những bài ca quốc tế, dịch ra nhiều thứ tiếng.

Jingle Bells (Chuông Reo Vang)

Jingle Bells có lẽ là nhạc phẩm nhiều người biết, không thể thiếu được trong mùa lễ Giáng sinh. Nhạc phẩm nầy được nhạc sĩ Nguyễn Duy đặt lời Việt trở thành một bài hát với tiếng lục lạc leng keng trên cổ ngựa, tiếng chuông giáo đường vang vang.

https://www.youtube.com/watch?v=XylCCSIMlSA

Một trời sáng trong an lành, và một vùng tuyết ôm cây cành, một ngày sáng bao la tình, một nỗi sướg vui hồi sinh. Mừng ngày Chúa sinh ra đời, người người đó đây vui cười, rộn ràng hỉ hoan chào đón Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh cho đời. Chuông mênh mông, chuông mênh mông, chuông giáo đường ấm cúng. Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh, tiếng chuông xe chạy nhanh (ớ). Chuông vang vang, chuông vang vang, chuông báo mừng đêm thánh. Chuông ngân ngân, chuông ngân ngân, ôi tiếng chuông trong tim mình.

Bài thánh ca “Đêm Thánh Vô Cùng” tác giả là Cha xứ Joseph Mohr (1792 † 1848) viết lời và nhạc do thầy giáo Franz Xaver Gruber (1787-†1863) soạn. Lần đầu tiên bản thánh ca này được hát vào ngày 24.12.1818. Cha Mohr sinh tại Salzburg Áo. Sau khi chịu chức linh mục năm 1815, cha về làm việc tại nhà thờ St. Nikolaus Oberndorf Đức. Bài thánh ca Weihnachtslied “‘Stille Nacht! Heilige Nacht! Silent Night/ Đêm Thánh Vô Cùng” ra đời và được hợp ca với một cây đàn nhỏ phụ họa, đó là bài thánh ca bất hủ.

http://www.youtube.com/watch?v=9T4WB2zfmps

„ Đêm thánh vô cùng giây phút tưng bừng. Đất với trời xe chữ đông; Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa, ơn châu báu không bờ bến, Biết tìm kiếm của chị đến. Ôi Chúa Thiên đàng cam mến cơ hàn, nhấp chén phiền vương phong trần,Than ôi Chúa thương người đến quên mình bỏ vô chốn quê nhà lúc sinh thành. Ai ham sống trong lạc thú. Nhớ rằng chuá đang đền bù. Tinh tú trên trời. Sông nuí trên đời với Thánh Thần mau kết lời, Cao rao Hóa công đã khéo an bài. Sai con hiến thân mong cứu nhân loại. Hang chiên máng rêu tạm trú bốn bề tuyết sương mịt mù „

Chọn đêm 24/12 vui mừng ngày Chúa ra đời. Người Việt Nam mừng Giáng sinh như người Tây phương, sau khi dự thánh lễ, gia đình công giáo Việt Nam vẫn giữ tục ăn “Réveillon” nửa đêm. Thời tiết ở Việt Nam ấm áp nên Thánh lễ đêm 24 đông người tham dự, người không theo Thiên chúa cũng ra đường vui chơi, từ nhà Thờ, trên phố đông người „dập dìu tài tử giai nhân, ngưạ xe như nước áo quần như nêm“.

Ở Huế khu Phú Cam, nhà Thờ cao với ngôi sao lộng lẫy, hang đá sáng trưng tỏa ra từ những cây nến trắng. Đà Nẵng khu Thanh Bồ, Đức Lợi phần lớn người Bắc di cư tổ chức Giáng sinh rất lớn. Thánh lễ cử hành trước nhà Thờ Chánh tòa đường Độc Lập rất trang nghiêm. Sài Gòn từ Vương cung Thánh Đường nhà thờ Đức Bà đến Dòng Chúa Cứu Thế, nơi nào cũng đông người tham dự. Ngày xưa (1975) thời chiến tranh trên lý thuyết hai bên đều ngưng bắn mừng Giáng sinh. Ở Đức đêm 24 là đêm của gia đình, đường phố vắng lặng dưới bầu trời lạnh buốt cùng tuyết trắng. Người Tây phương mừng Giáng sinh trong 3 ngày từ chiều 24 và ngày 25, 26 tháng 12, ngoại trừ Hy Lạp Griechenland/ Greece theo Cơ Đốc Giáo làm lễ Giáng sinh ngày 6 tháng giêng, ở Hy Lạp không có Nikolaus nhưng có Thánh Vassilius. Đêm mùng Một tết, Vassilius để qùa tặng trên giường ngủ cho trẻ em. Xứ Armenien/ Armenia thì lễ Giáng sinh ngày 18/19 tháng giêng.

Ở Đức ngày 24 làm việc buổi sáng, 14 giờ các siêu thị đóng cửa, hãng xưởng nghỉ việc, đường phố về chiều yên lặng cho đến tối silent night. Phần lớn miền nam Đức theo Thiên Chúa giáo, đi đâu cũng thấy nóc nhà thờ hình giống như củ hành, nhiều Giáo đường theo kiến trúc cổ, đồ sộ trải qua hàng ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 8 người Ðức đã mừng lễ Giáng sinh, tối 24 các nhà Thờ đều có thánh lễ, sau Thánh lễ họ về nhà gia đình vui chơi bên cây thông, hang đá nhấp nháy đèn màu, dưới gốc thông là những gói qùa để tặng nhau. Tiệc đêm Giáng sinh „Reveillon.“ theo truyền thống gia đình Đức thường ăn ngỗng quay, tiếng Đức gọi là „Weihnachtsgans“, họ ít ăn gà tây nướng như lễ Tạ ơn „Thanhsgiving“ của người Mỹ. Ngoài ra có các lọai bánh hình ngôi sao, các tượng Thiên thần, hình ông già Noel và những thứ bánh gọi là Weihnachtstollen, Weihnachtgebäck .. và rượu nho, giống như Tết của người Việt Nam phải có các loại mứt hạt dưa, bánh chưng, bánh tét…

6047678-blume-der-stern-von-bethlehemTuy nhiên ở vùng quê người Đức họ giữ tập quán, dù tuyết rơi giá lạnh nhưng nhà Thờ làm lễ lúc 22 giờ cho đến khuya, nhiều nhà không ăn tiệc nửa đêm, nhưng ngày 25 và 26 đại gia đình đoàn tụ trong những bữa tiệc không riêng gì ngỗng quay, còn những món khác do các bà khéo tay trổ tài trong dịp nầy. Những người lớn tuổi như ông bà nội, bà ngọai phát qùa cho các cháu (giống như tục „lì xì“ của người Việt trong dịp tết) sau đó mọi người trao quà cho nhau. Người Đức vui chơi tiệc tùng suốt ngày 25 và 26 thời gian nầy gặp nhau người ta thường chúc „Frohe Weihnachten und ein gutes Neues Jahr“ chúc mừng Giáng sinh và năm mới tốt đẹp.. Người Đức trọng ngày Giáng sinh hơn tết, ngược lại người Việt trọng ngày Mùng Một Tết. Đó cũng là sự khác biệt về quan niệm sống giữa Đông phương và Tây phương.

Miền New England dân chúng ăn tiệc mừng Giáng sinh theo người Anh. Trong bữa tiệc “Réveillon” luôn luôn tổ chức trọng thể có một loại rượu đặc biệt, chế bằng nước trái cây ép với vài hương liệu Đông Phương như đinh hương đậu khấu và rượu nho. Thứ rượu đặc biệt trên phải hâm nóng, uống như rượu saké của Nhật. Người Island mùa Vọng từ ngày 12 đến 24, mỗi ngày thường bỏ những món quà nhỏ trong chiếc giày tượng trưng qùa của Nikolaus dành cho trẻ con. Chiều 24 bắt đầu bữa tiệc mừng Giáng Sinh, sau đó họ đi thăm nghiã trang mang đến những tràng hoa và đốt nến trên mộ phần người thân. Ở Ý Italy họ không dùng cây thông trang điểm cho mùa Giáng sinh, nhưng họ làm hang đá và ăn tiệc đêm 24. cho đến lễ Ba Vua 6 tháng Giêng, họ bỏ kẹo bánh vào chiếc vớ hay giày làm qùa cho trẻ con. Người Tây Ban Nha Spanien/Spain và Bồ Đồ Nha/Portugal chỉ tặng qùa vào lễ Ba vua. Hòa Lan Niederlande/Netherlands từ 6/12 hàng năm họ tổ chức rước lễ lớn ở hải cảng Amsterdame và trong đêm Giao Thừa, các gia đình mang ra đường đốt những cây thông (Christbäume) cùng với tiếng pháo tống cưụ nghinh tân. Vùng Đông âu giá lạnh như Schweden/Sweden mùa Giáng sinh cũng là ngày chí điểm (Sonnenwende/solstice) khởi điểm muà Đông và Jul-Fest. Chiều 24 sau 15 giờ trời sẩm tối, qùa tặng Giáng sinh là các con dê đực bằng rơm và lò sưởi họ đốt than củi từ 24-12 đến 6 tháng Giêng chấm dứt Giáng sinh vào ngày 13 cũng là ngày Thánh Knut. Họ ném những cây thông qua cửa sổ; đó cũng là một phong tục.

Người Mỹ đoàn tụ gia đình ngày thứ Năm cuối tháng 11 mừng Thanksgiving/ Danke schöne hàng năm, để tạ Thượng Đế, tạ ơn đời và ơn người cùng ân phúc của trời đất, trong đêm Giáng sinh mọi gia đình cũng tổ chức ăn uống, trao đổi qùa tặng cùng những lời chúc tốt đẹp.

Hạt Dẻ

hatde3Một dĩa đầy màu sắc với những hạt dẻ và bánh giáng sinh thì không thể thiếu trong bầu khí lễ Giáng sinh tại Đức. Những hạt dẻ Walnuesse được nhập cảng từ Pháp, Haselnuesse từ Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ, từ Ba Tây có những hạt dẻ Paranuss ba cạnh. Dù là hạt dẻ nào chăng nữa, chúng có chung một đặc điểm có vỏ cứng và nhân ngọt bùi. Những hạt dẻ cho chúng ta nhận ra biểu tượng: Chúa ban cho chúng ta đời sống, nhiều khi vỏ của đời sống thật cứng, nhưng muốn nếm được sự ngọt bùi bên trong của đời sống, mỗi người phải tự mở ra, phải bẻ chiếc vỏ cứng đó ra. Hạnh phúc thay ai có kềm để bẻ hột dẻ trong tay.

Bánh Stollen

Dù với tên gọi Stolle hay là Stollen có từ năm 1330, bánh này không thể thiếu trong các loại bánh của mùa GiángStollen sinh. Hình thức của bánh ngày nay nhắc lại những trẻ nhỏ đã bị giết tại Bethlehem và cuốn trong khăn. Vì lý do này mà trong thời trung cổ người ta không cắt bánh trước ngày 28 .12.

Lễ Hiển Linh

“Hiển linh” là ý nghĩa từ chữ Hy Lạp “Epiphanias”, nói lên ý nghĩa sự hiển linh của Thiên Chúa. Lễ Chúa Hiển Linh là lễ lớn thứ hai trong mùa Giáng sinh. Lễ Hiển Linh còn được gọi là lễ ba vua, lễ của ba nhà đạo sĩ hay ba nhà thông thái từ phương Đông đã theo ánh sao tìm đến thờ lạy Chúa. Ba nhà đạo sĩ: Caspar, Melchior và Balthasar vì đã trải qua một đoạn đường dài từ phương Đông đến Bethlehem nên được chọn làm bổn mạng của những người du hành. Hài cốt ba vua đã được chuyển từ Phương Đông đến Koeln năm 1163 và nhà nhờ chính toà tại Koeln xây dựng để kính các ngài. Hài cốt các ngài trở thành động lực cho nhiều vở kịch về Ba Vua trong các xứ đạo và tu viện. Từ đó cũng phát sinh ra Sternsinger, những thanh thiếu niên hóa trang thành ba vua và đi hát từ nhà này sang nhà khác vào dịp lễ Ba Vua để quyên tiền cho các trẻ em nghèo trên thế giới.

Cây thông

weihnachten_b615eb5df3286ac8c642d1c9ff6a3b35Mùa đông giá lạnh, cây cối đều rụng lá trơ trọi đọng lại những cánh hoa tuyết trắng, chỉ có các loại thông cành lá vẫn còn xanh đẹp. Để có sự hòa hợp con người và thiên nhiên, hơn 500 năm trước trong mùa Giáng sinh, người ta dùng thông làm cây Christbaum, thông xanh tươi, có mùi thơm, màu xanh biểu tượng cho sự sống. Nến mang đến ánh sáng hy vọng. Lần đầu tiên ở Đức năm 1419 trước tiệm bánh ở Freiburg dựng cây thông trên cành treo nhiều trái cây, bánh cho tới ngày Tết trẻ em có thể lấy ăn. Cuối thế kỷ thứ 16 cây thông được trang trí trong phòng khách treo nhiều trái cây, kẹo bánh. Cho đến năm 1730 trên cây thông có thêm những cây nến, năm 1830 treo thêm những trái châu „Christbaumkugeln“.

Thành phố Berlin năm 1785, thủ đô Wien năm 1816 dựng những cây thông trong mùa Giáng sinh. Thế kỷ thứ 18 cây thông càng được phổ biến rộng rãi khắp nơi, bắt đầu năm 1819 ở nhà trắng „Weißen Haus“ Hoa Kỳ có cây thông trong mùa Giáng sinh tươi đẹp rực rỡ ánh đèn màu, cho đến thế kỷ thứ 19 được thế giới biết đến. Sau nầy người ta còn sử dụng cây có lá xanh đỏ, trang điểm cho đẹp mắt.

Hang đá và máng cỏ. Die Weihnachtskrippe

Hình thức diễn tả cảnh Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ bắt nguồn từ những vở kịch tôn giáo từ thời Trung Cổ. Ngay từ những thế kỷ đầu sau khi Chúa giáng sinh có những vở kịch về hang đá, nhưng sau đó bị đi vào quên lãng. Thánh Phanxicô Assisi trong lần dâng lễ Giáng sinh ngày 24-12-1223 ở gần Roma, ngài đã làm cái máng cỏ với các tượng Chúa Hài đồng, tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua, một số Thiên thần, thánh Giuse. Trên mái nhà có ánh sáng từ một ngôi sao.

Những khu nhà thờ ở Đức dù có truyền thống lâu đời, nhưng họ không xây hang đá như những nhà thờ ở Việt 3089135_75b17ea1ed_oNam. Năm 1807 thành phố München/ Munich làm hang đá, chưng bày chỉ trong ngày lễ Giáng sinh, để mọi người đều hướng về Chúa nhân từ, cầu nguyện Chúa cứu rỗi cho nhân loại tránh bớt chiến tranh nghèo đói và độc tài.

Hát khen mừng Chúa giáng sinh ra đời Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa. Trong hang Belem ánh sáng tỏa lan tưng bừng nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng. Ðàn hát (réo rắt tiếng hát) xướng ca dư âm vang xa. Ðây Chuá Thiên Toà Giáng sinh vì ta..Người hỡi (hãy kíp bước tới) Đến xem nơi hang Be Lem). Ôi Chúa Giáng sinh khó khăn thấp hèn. Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn gian trần. Người đem ơn phúc xuống cho muôn dân lầm than…“

Bí ẩn về ngôi sao Bethlehem:

Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ mầu sắc trong mùa Giáng sinh, các nhà thờ đều có treo vô số ngôi sao 5 cánh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.

11376487-silhouette-darstellung-der-heiligen-drei-konige-aus-dem-morgenlandTrong tất cả các tranh ảnh Chúa giáng sinh, trên bầu trời bao giờ cũng có một ngôi sao sáng, rực rỡ, thánh kinh gọi đó là ngôi sao Bethlehem đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao giáng sinh, một supernova, từ lâu đã là mối tranh cãi của các nhà thiên văn học. Mới đây Nibel Henbest, một khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo trong thái dương hệ, để giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngội sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được. Theo Nibel thì vào năm 1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời Chúa giáng sinh, cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm Song Ngư vào năm thứ 7 trước tây lịch, có nghĩa là sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào tháng 8 năm 3 trước tây lịch, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ là một ngôi sao sáng. Ngày 17-6 năm 2 trước tây lịch, hai sao trên lại gặp nhau nhưng không va chạm, như tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Đông mà thánh kinh đã gọi là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra với người Ky tô giáo xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức là sao Hôm mọc trước bình minh, được coi là biểu tượng của Đấng Cứu thế, còn sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là Đấng bổn mạng. Đây là hai ngôi sao sáng nhất trong thái dương hệ và cái hiện tượng hội ngộ giao thoa chỉ xảy ra một lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, đưọc xem là giả thuyết hợp lý về ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.

Người Việt định cư ở Đức khoảng trên 100 ngàn, ở rải rác khắp nơi. Tại các thành phố lớn, người Việt đông nên sinh hoạt có tổ chức. Giáo dân người Việt cũng như các dân tộc khác định cư tại Đức, nếu có Cộng đồng sinh hoạt được Tòa Tổng Giám mục cấp nhà lớn làm trung tâm sinh hoạt riêng, có văn phòng làm việc, nhà nguyện và thánh lễ chiều trong ngày để các cụ đến đọc kinh. Thành phố Munich thuộc tiểu bang Bavaria miền Nam Đức. Munich và các vùng phụ cận như Preising, Ausburg sinh hoạt chung thành một Cộng đoàn gọi là giáo xứ Nữ Vương Hoà Bình cho trang trọng, nhưng thật ra người Việt mình đâu có đất có nhà Thờ để thành một giáo xứ riêng biệt. Tín đồ Thiên Chúa Giáo khoảng trên dưới một ngàn người. Những thánh lễ lớn, người Việt phải nhờ các nhà Thờ của giáo xứ người Đức. Sau Thánh lễ là văn nghệ mừng Giáng sinh rất vui và hấp dẫn qua các tiết mục ca hát, vũ múa, kịch. Trong dịp nầy cũng như Tết đều có các quầy bán thức ăn đủ loại với hương vị quê hương, số tiền thu được đều giúp cho trẻ em nghèo bên quê nhà.

Người Việt Nam (thuyền nhân) định cư ở Đức hơn 35 năm „nhập gia tuỳ tục“ nên ảnh hưởng ít nhiều văn hóa phong tục Đức. Những gia đình không theo đạo Thiên Chúa Giáo cũng mua thông tươi, hang đá và những gói qùa tặng cho con cháu trong ngày Giáng sinh, mời bạn bè đến ăn Reveillon không ngỗng quay thì vịt quay vv…Những người ngoại đạo đến dự lễ Giáng sinh, xem văn nghệ hòa mình với đời sống cộng đồng trong tình đồng hương để sưởi ấm lòng nhau trong những ngày xa quê hương. Kính chúc quý độc giả mùa Giáng sinh được tràn đầy Hồng Ân Thiên Chúa.

Mời độc giả xem hình Noel ở Đức

http://bit.ly/1253zGg

Nguyễn Qúy Đại

Tài liệu, hình trên internet

 

Tài liệu đọc thêm „Truyền Thống Giáng sinh tại Âu Châu“

Ý nghĩa của mùa Giáng sinh rất khác nhau trong tâm niệm của người châu Âu. Đối với người Anh và người Đức, thì Noel trước hết là một Đêm Thánh. Còn theo phong tục của người Bulgari, lễ mừng Chúa giáng trần chỉ thực sự bắt đầu khi đồng hồ điểm 12 tiếng chuông nửa đêm 24.

Truyền thống Giáng sinh đối với người châu Âu trước hết là một dịp đoàn tụ gia đình, để mỗi người nói lên tình yêu của mình với những người thân với bạn bè, hàng xóm. Trong Liên Hiệp Châu Âu, truyền thống và phong tục đón mừng Noel của 27 nước thành viên có rất nhiều khác biệt.

Khác biệt đầu tiên liên quan đến ngày lễ Giáng sinh : nếu như ở Pháp đỉnh điểm của mùa Noel là đêm 24 và ngày 25 tháng 12 kỷ niệm Chúa giáng trần thì ở phần lớn các nước Bắc Âu như Phần Lan, Thụy Điển … ngày 13 tháng 12 tức lễ thánh Lucie, nữ thánh đem lại ánh sáng cho muôn loài, được coi như là lễ chính. Đúng ngày 13, người Phần Lan bầu ra một nữ thánh Lucie. Mặc áo đầm trắng, đội vương miện bằng đèn nến, nữ thánh Lucie này có trọng trách đem ánh sáng, niềm vui và hy vọng đến cho những thiếu may mắn, cho người già yếu, bệnh tật. Còn đối với con trẻ ở những quốc gia như Bỉ hay Đức, Áo thì lễ thánh Nicolas 6 tháng 12 được coi là một ngày đặc biệt, vì thánh Nicolas là người đem quà tặng cho những đứa bé ngoan suốt cả năm.

Tại Tây Ban Nha mùa Giáng sinh kéo dài cho đến hết ngày 6 tháng Giêng, khi Ba Vua tìm đến được hang đá Bêlem và người đem quà đến cho trẻ con không phải là ông già áo đỏ, râu tóc trắng như tuyết như ở Pháp mà lại chính là ba vua Melchior, Balthazar et Gaspard.

Ý nghĩa của mùa Giáng sinh cũng rất khác nhau trong tâm niệm của người châu Âu. Đối với người Anh và người Đức, thì Noel trước hết là một Đêm Thánh và quan trọng hơn cả là Thánh lễ nửa đêm. Còn theo phong tục của người Bulgari, lễ mừng Chúa giáng trần chỉ thực sự bắt đầu khi đồng hồ điểm 12 tiếng chuông nửa đêm 24, và Giáng sinh còn là mùa để cho những đôi trai gái đến tuổi lập gia đình tìm đến với nhau.

Người Đan Mạch xem mùa Giáng sinh như một chiếc « bánh xe » lăn tròn từ năm cũ sang năm mới. Noel là lễ hội của mặt trời, của ánh sáng, gieo mầm cho sự sống và hạnh phúc. Vì thế mỗi gia đình đều phải đốt một khúc gỗ sồi để giữ được ngọn « lửa thiêng ».

Phong tục “hang đá sống” ở Ý

Về tập tục dựng hang đá, ôn lại chuyện xưa mừng Chúa hài đồng, nên biết rằng hang đá đầu tiên của nhân loại đã xuất hiện trên đất Ý. Theo truyền thống thì người Ý dựng hang đá 9 ngày trước đêm Thánh, và một nét đặc thù khác nữa là truyền thống dựng hang đá sống đã trở thành rất phổ biến trên toàn quốc.

Thông tín viên Huê Đăng từ Roma cho biết thêm về tập tục đặc biệt này của người dân Ý: “Ở Ý hàng năm, cứ vào khoảng cuối tuần đầu của tháng Giêng, rất nhiều làng mạc hay thành phố có tục lệ tổ chức “hang đá sống”. Đó là cảnh dàn dựng lại Hang đá Bêlem. Theo truyền thuyết Công Giáo thì Đức Chúa sinh ra trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bêlem. Gọi là “hang đá sống” bởi vì trong dịp này các nhân vật trong truyền thuyết đều được tái diễn bằng người thật: người thì đóng vai Thánh Joseph, dưỡng phụ của Đức Chúa, người thì thủ vai Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Cả hai quỳ bên một cái máng rơm trong đó người ta để một đứa bé sơ sinh đóng vai Đức Chúa mới ra đời. Chung quanh máng rơm có ba người sắc phục uy nghiêm thủ vai Ba Vua mang theo châu báu ngọc ngà, trầm hương loại quý giá đến để dâng tặng Đức Chúa. Chung quanh là các thiên thần ca hát. Trong hang đá sống người ta còn để chung quanh những chú lừa, chiên và trâu bò để làm sống lại cảnh Chúa ra đời trong hang đá bên máng lừa.

Không chỉ dừng lại cảnh tái dựng của hang đá nơi Chúa giáng trần, nhân dịp này người ta còn dàn dựng lại nguyên cảnh của một góc thành phố Bêlem với những cửa tiệm thủ công thời đó: tiệm làm nông cụ, tiệm làm giày, quầy bán tơ lụa, quầy bán hàng hóa thực phẩm và những trẻ chăn chiên dẫn thú đi quanh làng … tất cả với những nhân vật vận theo trang phục thời đó.

Để làm sống động thêm truyền thuyết, có người được thủ vai làm quan chức hay lính La Mã vì theo lịch sử thì ở vào thời điểm Đức Chúa ra đời vùng đất Bêlem thuộc quyền cai trị của đế quốc La Mã. Đây cũng là những dịp để các làng mạc hay thành phố thi đua nhau xem nơi nào tổ chức “hang đá sống” hay nhất. Du khách các nơi cũng đổ xô về dự các buổi lễ hang đá sống này. Người ta kể rằng “hang đá sống” đầu tiên là do sáng kiến của ông Thánh San Francesco D’Assisi, một nhà chân tu sinh năm 1182 ở vùng Umbria (Trung Ý), và là người lập ra dòng tu Francescano, một dòng tu khổ hạnh với mục tiêu đi làm nhiệm vụ tông đồ.

Năm 1223, trên đường đi hành đạo, khi đến làng Greccio dưới chân núi Lacerone (thuộc thành phố Rieti, Trung Ý), San Francesco muốn làm sống lại hình ảnh Giáng sinh của Chúa Hài Đồng nên nẩy ra sáng kiến dàn dựng lại trong một hang đá cảnh Giáng sinh với những con người thật đóng vai Thánh Giuse, Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, máng cỏ với Chúa Hài Đồng và Ba Vua với các thiên thần cùng các thú vật như lừa, chiên vây quanh máng đồng.

Từ đó, cứ hàng năm đến mùa Giáng sinh là người ta dàn dựng hang đá với cảnh Đức Chúa ra đời. Theo đúng tục lệ, hang đá được lập lên vào ngày lễ Thánh San Nicola (khoảng 5 hay 6 tháng 12), nhưng lúc đó thì máng đồng để trống cho đến đêm 25 là đêm Giáng sinh thì mới có tượng Chúa Hài Đồng trong máng cỏ.

Trong khi đó, vẫn theo truyền thuyết, thì có Ba Vua biết tin Chúa giáng trần, nhưng không biết ở đâu, may nhờ có một vì sao sáng dẫn đường, Ba Vua cứ theo ánh sao và mãi đến ngày 6 tháng giêng Ba Vua mới đến được hang đá, dâng lên Chúa Hài Đồng châu báu ngọc ngà trầm hương quý giá. Đấy cũng là lý do vì sao mãi khi ra Giêng, ăn Tết xong rồi người ta mới tổ chức tục làm “hang đá sống”, bời vì lúc đó mới có Chúa Hài Đồng và có đủ Ba Vua.

Giáng sinh Hungary và vị vua lập quốc

Noel là lễ trọng đại nhất trong năm của Hungary và người dân xứ này tỏ ra rất mê tín trong công việc sửa soạn bữa tiệc Giáng sinh. Mùa Giáng sinh với ngày lễ chính vào 24-25/12 hàng năm luôn là dịp lễ quan trọng nhất đối với người dân Hungary, một đất nước có chừng 75% cư dân theo Kitô giáo. Đặc biệt, nó gắn liền với tên tuổi István Đệ nhất, vị vua lập quốc của nước này, “lưỡng thánh” của cả hai giáo hội Công giáo và Chính thống giáo.

Noel có lẽ là ngày lễ cổ xưa nhất của Hungary vì nó có cùng niên đại với sự ra đời của quốc gia Hung. Vốn là một dân tộc mang tính du mục nay đây mai đó, sau những cuộc di cư vĩ đại từ Châu Á sang vùng Đông Âu, vào năm 896, các bộ lạc Hung cắt máu ăn thề dừng lại và định cư tại mảnh đất nay gọi là Hungary.

Tuy nhiên, phải tới mốc thời gian 01/01/1001, khi István Đệ nhất được nhận chiếc “vương miện thiêng liêng” từ Đức Giáo hoàng Sylvester Đệ nhị và đăng quang như vị vua đầu tiên, đồng thời cũng là người sáng lập Giáo hội Công giáo Hungary, thì Giáng sinh mới trở thành ngày lễ chính thức ở nước này, trước hết là đối với các tín hữu Công giáo.

Giáng sinh ở đâu trên thế giới cũng mang những đặc điểm và tập tục chung, như tặng quà gửi thiếp cho bạn bè, người thương, trang trí cây thông Noel, dọn dẹp trang hoàng cửa nhà, đi lễ nhà thờ, v.v… Bên cạnh đó, Hungary có thêm một số phong tục ít nhiều khác biệt và khá đặc sắc, được duy trì từ đời này qua đời khác và bảo tồn tới ngày nay.

Như đã biết, ở các nước, Mùa vọng (Advent) được khởi đầu từ ngày Chủ nhật bốn tuần trước ngày lễ cho đến ngày 24 tháng 12. được coi là khoảng thời gian để ăn chay, cầu nguyện và tĩnh tại tinh thần trước lễ Giáng sinh. Nhưng tại Hungary, có thể coi mùa Giáng sinh còn kéo dài tới ngày mồng 1 năm mới, với tên gọi Tiểu Giáng sinh, để phân biệt với Đại Giáng sinh vào 25/12.

Tất nhiên, điểm sáng của cả mùa Noel tại Hungary là dịp Lễ thánh Giáng sinh, tổ chức vào đêm 24 (lễ vọng), hoặc trong ngày 25/12 (lễ chính ngày). Các gia đình Hung bao giờ cũng tập trung vào tối 24, Đêm Thánh vô cùng.

Bàn tiệc của người Hungary

Theo truyền thống, trong ngày 24/12, các gia đình Hung vẫn ăn chay và bữa chay tối hết sức được coi trọng với các món táo, hạnh nhân, mật và tỏi, kèm xúp đậu nấu với bơ nhưng không có thịt. Về sau, khi những tập tục chay không còn quá bó buộc, thêm món cá hoặc bắp cải nhồi thịt được đặt lên bàn tiệc. Tập tục Hungary cho rằng bàn tiệc Noel đóng vai trò rất quan trọng trong dịp lễ, việc trang trí bàn bà trình tự các món ăn phải được tuân thủ một cách ngặt nghèo. Những món ăn trong lễ Giáng sinh được coi là có sức mạnh kỳ diệu và huyền bí.

Trước đây, tại Hungary, chiếc khăn trải bàn trong dịp Giáng sinh được dùng để gói hạt ngũ cốc đề chờ gieo hạt vào mùa xuân với niềm tin là sẽ được mùa màng bội thu. Cụ thể, sau khi trải khăn ra bàn, các bà nội trợ đặt hạt ngũ cốc lên trên, rồi đem cho gia cầm ăn để chúng đẻ nhiều trứng. Ngoài ra, rơm thì được đặt dưới bàn để tưởng nhớ sự tích Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ. Sau đó, rơm này được đặt trong chuồng gia súc đề chúng khỏe mạnh, chống được bệnh tật và hay ăn chóng lớn. Rơm cũng còn được buộc lên cây ăn quả để có nhiều trái ngọt.

Bữa tối 24/12 bắt đầu khi sao Hôm hiện trên bầu trời. Bà chủ nhà, sau khi bày biện các món ăn lên bàn, sẽ không được rời bàn trong suốt bữa ăn để lũ gà để được nhiều trứng. Hơn thế nữa, cả gia đình sẽ phải đứng ăn từ đầu đến cuối. Bánh mì, bánh kalács (làm từ bột, sữa, bơ và rồi đan xoắn vào nhau và nướng trong lò) được đặt nguyên lên bàn tiệc với hy vọng năm mới sẽ no đủ. Mùa chay kết thúc vào đêm 24/12 nên trong bữa trưa và bữa tối Giáng sinh 25/12, thịt và cá đã xuất hiện. Theo tập tục dân gian, dân Hung thích thịt lợn quay trong ngày lễ vì lợn được coi là biểu tượng của sự no đủ, sung túc, trong khi gia cầm thì bị coi là trì trệ vì luôn vẫy cánh về phía sau và như thế, hạnh phúc sẽ bay đi.

Tuy nhiên, truyền thống này những năm gần đây không còn được tuân thủ: ảnh hưởng của Âu – Mỹ, nhiều người dân Hung cũng ăn đùi vịt rán, hoặc gà tây bỏ lò, bên cạnh món xúp cá “quốc hồn quốc túy” (halászlé), niềm tự hào của nghệ thuật ẩm thực Hungary.

Cho đến nay, trong lễ Giáng sinh, rất nhiều người dân Hung vẫn ưa ăn các loại đỗ, đậu, đậu ván, hạt anh túc… là những loại ngũ cốc được coi là mang lại tiền tài, tài lộc. Bên cạnh đó, táo được xem như biểu hiện của sự mật thiết, gắn bó giữa các thành viên trong gia đình.

Sau các bữa ăn, chủ gia đình đếm xem có bao nhiêu thành viên thì bổ táo theo đúng từng ấy miếng. Mỗi người nhận được một lát với hy vọng trong năm mới, cả gia đình sẽ gắn bó với nhau như trái táo tròn, các thành viên sẽ tìm lại được nhau và được đường về gia đình, dù có lang bạt nơi đâu đi nữa. Tất nhiên, Giáng sinh không chỉ là ngày hội ẩm thực. Phong tục Noel quan trọng bậc nhất tại Hungary – tới nay vẫn được diễn ở rất nhiều nơi – là một trò trơi được trẻ em rất thích thú, khi các em diễn lại sự tích Chúa Giêsu chào đời tại Bethlehem, thoạt tiên diễn trong nhà thờ, sau đó đến từng gia đình trong làng. Sau khi diễn trò, các em sẽ được gia chủ thết đãi và trao quà tặng.

NGUYỄN QUÝ ĐẠI

 

Last Updated ( Sunday, 07 December 2014 08:06 )
 
Page 6 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account