CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA

E-mail Print

 NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

 

Last Updated ( Saturday, 02 May 2015 10:16 )
 

Tôi, Đứa Con Người Tù Học Tập Cải Tạo - Hồi Ức Về Cha

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Những ngày cuối tháng tư 1975, Sài gòn đắm chìm trong cơn hỗn loạn. Tin tức về một cuộc chiến kết thúc bi thảm được truyền đi kéo theo một dòng người tìm mọi cách vượt thoát khỏi quê hương. Không nhận được tin người đến đưa toàn bộ gia đình ra đi như đã hứa, tôi cùng ba và gia đình người em gái trên chiếc xe jeep hối hả đi về Bến Bạch Đằng nơi con tàu VNTT đang ngập tràn những dòng người từ khắp nơi đổ về. Hai vợ chồng em gái lên tàu trước. Tôi và ba chần chờ sửa soạn lên sau.

 

LÊ VĂN KHOA : "Một Nhà Tiên Tri, Một Nhạc Sĩ Viết Ái Quốc Ca Quốc Tế"?

E-mail Print

Năm 2005 khi nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA cùng phu nhân NGỌC-HÀ (ca sĩ) mang một số sáng tác phẩm âm nhạc của mình trong đó có SYMPHONY VIETNAM 1975 để dàn nhạc giao hưởng KYIV SYMPHONY ORCHESTRA & CHORUS (UKRAINA) trình tấu, ông đâu có biết một vài năm sau đó ông được một người ái mộ gọi ông “một nhà tiên tri”, “một nhạc sĩ viết “ái quốc ca quốc tế”?

Last Updated ( Tuesday, 21 April 2015 14:36 )
 

Ông Nội và Cháu Nội

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Ông nội là cựu đại úy Việt Nam Cộng Hòa, con trai là đại úy không quân Hoa kỳ, mấy người quen thân gọi đùa cháu là Captain junior. Có hôm buổi sáng ông nội ngủ dậy khệnh khạng bước ra phòng khách, thằng con đang ăn điểm tâm đứng phắt lại giơ tay lên chào "Good morning, Sir!". Ông nội giật mình đứng lại, không suy nghĩ ông nghiêm túc giơ tay lên chào. Miệng lẩm bẩm "Morning Sir!". Cả nhà cùng cười, thằng cháu nội cũng cười.

Last Updated ( Saturday, 14 March 2015 14:59 )
 

Tản Mạn Du Xuân Little Saigon 2015

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

Khi mùa xuân về trên phố Bolsa, bát bộ du xuân từ góc Bolsa và Magnolia, vào Vân's Bakery hay những tiệm bán hoa hay bán trái cây, Tết đã về thật sự từ các cây mang mùa xuân về, mai tứ quý, hồng đào sắc thắm, cúc vàng óng ả, thủy tiên, hoa tím (violet), hải đường, hướng dương,... đi xuôi về hướng thương xá Phước Lôc Thọ, trời se chút lạnh tiết xuân gợi nhớ chút Đà Lạt ngày xưa. Bà chủ nhà trao tôi chiếc jacket da Milan, rồi khoác vào cổ tôi chiếc navy blue scarf, bà sợ mấy con RSV (respiratory syncytial virus) đe dọa tôi. Tôi suy nghĩ bâng quơ mấy bùa linh dược Claritin D, Loratadine, Pseudoephedrine, hay Sudafed để làm gì nhỉ.

 

BÁNH CHƯNG MÙA XUÂN CŨ

E-mail Print

Ngày thường cũng có bánh chưng bán ngoài đường ngoài chợ, nhưng bánh chưng ngày tết đối với chị Bông vẫn là miếng ngon miếng thèm dù rằng ăn thì chóng chán.

 

KÝ SỰ DU LỊCH CACÚN (Tiếp theo và hết)

E-mail Print
User Rating: / 6
PoorBest 

Sau khi dùng cơm trưa ở khách sạn bên cạnh về, từ Ông Ngoại 1 đến Ông Bà Ngoại 2 cũng như con cháu của cả hai gia đình đều uể oải, mệt mỏi nên ai nấy đánh một giấc ngủ trưa đến xế chiều mới thức giấc. Khoảng 04giờ00 chiều lúc tôi đang ngồi xem phim trên TV thì điện thoại trong phòng reo. Nhấc điện thoại lên nghe đầu dây có người hỏi :

Last Updated ( Monday, 12 January 2015 15:32 )
 

HOẠN THƯ: Ý THỨC PHẢN KHÁNG ĐÒI QUYỀN SỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

 

Tôi còn nhớ Bà cụ thân sinh tôi lúc đương thời đã có lần được tin của một ông chú họ cho biết, xông thẳng vào lễ dạm hỏi của cụ thân sinh tôi với một thiếu nữ ngoài độ trăng tròn tại ngôi đền Mõ thuộc quê hương của cụ, phá nát mâm ngũ qủa và lễ vật trước sự chứng kiến bất động của hàng trăm người khách mời tham dự. Sự việc chỉ ngã ngũ khi Bố tôi rút súng bắn chỉ thiên, bà mới nhượng bộ rút lui. Chuyện nhờ vậy đã không thành. Sau này cụ vẫn hãnh diện khoe với con cháu là “làm cho rõ mặt con nhà Hoạn Thư

Mặc dù cụ là một trong những người đàn bà Việt đảm lược, một tay chèo chống gia đình hai bên nội ngoại trong suốt thời kỳ chiến tranh Việt-Pháp, nhưng hoàn toàn “một chữ bẻ làm đôi” cụ cũng không được biết, vì ông bà ngoại tôi sợ cho đi học “ biết chữ sẽ viết thư cho trai”! Tuy vậy động mở miệng ra là cụ nói “tập Kiều” hay nói đến ghen tuông là phải dẫn đến Hoạn Thư! Ngay cả hành động đánh ghen cụ làm ở trên cũng phản ánh tác dụng mẫu người “thần tượng” ấy.

 

Vậy Hoạn Thư là ai ? ý thức phản kháng và sự khôn ngoan mẫu mực nào đã khiến người bình dân đến giới học thức trong xã hội ta đã chọn làm chuẩn mực?

 

Trước hết nói về cái tên Hoạn Thư. Tên này đúng ra chỉ là họ (Hoạn) người Tàu dùng để gọi con nhà danh gia vọng tộc, viết tắt của chữ Hoạn tiểu thư. Trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà cụ Nguyễn Du mượn cốt truyện viết Truyện Kiểu cũng gọi nhân vật nổi tiếng đánh ghen là Hoạn tiểu thư (宦小姐),nghĩa là gọi bằng tên họ. Nhưng đến cụ Nguyễn Du chữ Thư viết tắt từ Hoạn tiểu thư này lại được tái sinh thành tên cô Thư (first name) nhà họ Hoạn ( surname)--Hoạn Thư--chỉ thiếu chữ lót thị nữa là hoàn toàn thành tên cô gái Việt:

 

Vốn dòng họ Hoạn danh gia (1333)(1)

Con quan lại bộ tên là Hoạn Thư (1334)

 

Cụ Nguyễn Du giới thiệu gia thế Hoạn Thư là con cùa một gia đình danh gia vọng tộc, thân sinh là vị quan họ Hoạn, quan thượng thư bộ lại, tức là một bộ trong lục bộ (Binh, Hình, Hộ, Lễ, Công, Lại). Đây là một cơ quan hành chánh đứng đầu một nước quân chủ, chuyên trách về bổ nhậm, bãi nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển, bổ xung quan chức thời xưa... Tóm lại là bộ máy hành chánh lo việc tổ chức điều hành nhân sự trong triều đình và ngoài xã hội. Một vị quan xét về mặt quyền uy gần như trùm cả nước, chỉ sau vua.

Chồng nàng nguyên từ Kim Vân Kiều Truyện cũng chỉ được gọi bằng chàng họ Thúc-- Thúc thủ. Nhưng qua Truyên Kiều cũng được Nguyễn Du cho một cái tên đầy đủ, tức chàng người họ Thúc, tên là Kỳ Tâm vốn dòng dõi con nhà nho học, mặc dù ta không biết rõ chàng đèn sách đến đâu:

 

Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương (1123)

 

Qua hai cái tên của hai nhân vật phụ từng làm điêu đứng cuộc đời ba chìm bảy nổi của nàng Kiều, ta cũng thấy phần nào ý thức cách mạng và tinh thần ái quốc của Nguyễn Du thông qua việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc-- xưng hô bằng tên thay vì bằng họ-- khác với người Tàu. Dù là sơ đẳng nhưng là cá tính và lòng tự hào dân tộc. Như vua Quang Trung đã từng truyền hịch đánh quân Thanh: “Đánh cho để răng đen, đánh cho để tóc dài, đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ)

Với Nguyễn Du, Hoạn Thư có thể chỉ là mặt phản diện của Thúy Kiều-- làm nhân vật phụ tạo thêm điêu đứng cho nàng Kiều trong mười lăm năm luân lạc-- nhưng là một mẫu nữ nhân vật đầy cà tính được cụ khai sinh ra với đầy đủ vẻ khôn ngoan lịch lãm và và bản lãnh hơn người mà chính kẻ tình địch là nàng Kiều cũng phải thừa nhận:

 

Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời (2374)

 

Nhân vật Hoạn thư dù cụ Nguyễn Du có chủ ý hay không, đứa con tinh thần mang tinh huyết của mình tự nó trưỏng thành, đủ khôn ngoan và bản lãnh tạo làn sóng phẫn nộ, gây xáo trộn nền tảng xã hội bất bình đằng nam nữ đương thời dù chỉ trong ý thức và trong phạm vi gia đình. Một ý thức vùng lên phá bỏ một trật tự gông cùm mà những người “cai ngục” dù biết đấy nhưng đành thúc thủ, mà tiêu biểu là Thúc sinh chồng nàng và cả Thúc ông cha chồng. Không biết có phải vì vậy mà xã hội Tàu còn gọi chàng là Thúc thủ (束守)? (2)

 

Điểm thứ hai đề cập đến tình duyên gia đạo và cá tính của Hoạn Thư:

 

Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa (1531)

Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày

Ở ăn thì nết cũng hay

Nói điều giàng buộc thì tay cũng gìa (1534)

 

Theo Vân Hạc Văn Hòe trong Truyện Kiều Chú Giải (3) thì Duyên Đằng tức là duyên may, do câu thơ cổ “ Thời lai phong tống Đằng Vươnng Các.” Nghĩa là vận may tới gió đưa lên gác Đằng Vương. Nhắc tích Vương Bột một thi hào thời Sơ Đường (618-713) đi thăm cha, dọc đường nghe tin thi nhân được mời hội ngộ tại lầu Đằng Vưong. Khi ấy đường còn qúa xa, may nhờ một thần nhân giúp sức, tạo gió đẩy thuyền đến kịp thời. Do đó ông mới có bài phú “Đằng Vương Các Tự,” trong đó có hai câu thơ tuyệt vời lưu lại đời sau:

.........................................................

 

Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (4)

.........................................................

 

Với giới bình dân, “Duyên Đằng” dù là gì không cần biết, họ chỉ hiểu là dịp may do duyên trời run rủi: Hoạn Thư được may mắn kết duyên cùng Thúc Sinh. Dù là ai đi nữa trong trường hợp này cũng phải thắc mắc: dòng dõi con quan lại bộ như Hoạn Thư, giàu sang quyền uy tuyệt đỉnh, tài tử giai nhân, anh hùng cái thế thiếu gì người rấp ranh bắn sẻ, sao lại được cho là may mắn lọt vào tay gia đình họ Thúc thương gia? ngay cả khi Thúc sinh là “con nhà giàu đẹp trai học giỏi” đi chăng nữa?

Chính tác gỉa Truyện Kiều Chú Giải cũng phải thừa nhận sự kiện này qủa là nghịch lý !(P324), dù rằng bài phú Đằng Vương Các Tự của thi Hào Vương Bột có làm gìới đọc sách bị thu hút phân tâm.

Vậy phải hiểu thế nào về ý nghĩa cố tình này?

Nàng bị điều thị phi gì nên may mắn được gả bán ép duyên để bảo vệ danh gía gia đình? Nàng qúa xấu xí và lớn tuổi không người hoài đoái? Nàng bị hai bên cha mẹ họ Hoạn và họ Thúc lúc hàn vi thân thiết hứa gả con cho nhau khi còn trong bụng mẹ? Nàng bị tiếng sét ái tình kiểu như Kiều? hay nàng may mắn vớ được thằng chồng “phải gió” nhờ vậy trở thành nổi tiếng (ghen tuông) tương tự như Vương Bôt và Đằng Vương Các?

Tất cả những gỉa thuyết này và còn nhiều nữa có thể không đúng như sự thực của đời nàng. Nhưng chắc chắn một điều khi hạ bút “ Duyên Đằng” mà không phải duyên “Ông tơ bà nguyệt,” cụ Nguyễn Du phải nhận trách nhiệm đã đặt vận mệnh và cuộc đời của Hoạn Thư trước những thách đố bất bình đẳng của xã hội mà ít nhiều cụ cũng ảnh hưởng hay thấm nhuần với tư cách là một nho sĩ đương thời.

Về điều ăn nết ở trong việc điều hành gia sự, Nguyễn Du với chỉ hai câu lục bát ngắn gọn đã nói lên vai trò đảm lược làm chủ gia đình mà ta thường gọi là nội tướng, quán xuyến giao dịch êm thắm mọi việc trong ngoài; từ việc cư xử phải đạo với cha mẹ chồng, bà con dòng họ đến việc điều hành gia nhân ăn ở trong nhà, đâu đấy nghiêm mimh trên thuận dưới hoà. Đặc biệt lời ăn tiếng nói không những “khôn ngoan rất mực” mà còn lý luận rạch ròi như “ ràng” như“buộc, những tay mơ kiểu Thúc sinh dễ dầu gì qua mặt? Điểm này cũng nói lên bản lãnh, tài ăn nói, và khả năng quán xuyến, lèo lái gia đình và sau này thể hiện nơi việc giàn dựng mưu cao để giằn mặt Thúc sinh và cô lập nàng Kiều.

 

Điểm thứ ba đề cập đến ý thức và hành động phản kháng của Hoạn Thư xuyên qua những mưu lược đánh ghen, mà các đấng mày râu phải e dè ngao ngán và giới quần hồng càng tôn phục nể vì.

Chúng ta đã biết Thúc sinh là con một thương gia giàu có, hẳn cũng có học đòi làm dân đọc sách, nhưng tính tình phóng đãng và bản lãnh dưới mức tầm thường so với Hoạn Thư. Chàng tìm cách theo cha là Thúc ông đi buôn bán phương xa (Lâm truy) để dễ bề hành lạc:

 

Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm truy (1278)

 

Khi gặp Kiều ở lầu xanh, chàng khởi đầu chỉ là quen thói hành lạc mua vui, nhưng sau bị thu hút bời nhan sắc, tài năng và tính tình hồn hậu của Thùy Kiều nên đã kết thành vàng đá:

 

Sớm đào tối mận lân la (1289)

Trước còn trăng gío, sau ra đá vàng (1290)

 

Sự việc đến tai thân phụ chàng. Thúc ông tìm cách cản ngăn nhưng chàng đã lún sâu vào biển tình không thoát ra được nữa. Thúc ông phải nhờ đến cửa quan để chia cách hai người, nhưng quan phủ khi biết được Kiều có tài thơ văn lại ăn nói khôn ngoan khí khái, hiểu chuyện trên dưới trước sau, nên cũng động lòng trắc ẩn, thiên vị khuyên thân phụ chàng dẹp nỗi bất bình, chấp nhận cho chàng nhận Kiều làm vợ lẽ:

 

Đã đưa đến trước cửa công (1461)

Ngoài thì là lý, song trong là tình

Dâu con trong đạo gia đình

Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong (1464)

 

Sự việc đã đến nước này nhưng Hoạn Thư tại quê nhà không hề được hỏi ý kiến hay thông báo sự tình, nên nàng lửa giận bừng bừng mà vẫn dằn lòng chịu đựng, tìm cách êm thắm nhưng bẽ bàng để báo thù người chồng bội bạc:

 

Từ nghe vườn mới thêm hoa (1555)

Miệng người đã lắm, tin nhà thì không

Lửa tâm càng giập càng nồng

Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa (1558)

 

Thời ấy đàn ông đa thê lắm thiếp là sự thường tình. Không những vậy còn được luật pháp, phong tục, lễ giáo gia đình và xã hội đương thời nhìn nhận. Nhưng với Hoạn Thư, người đàn bà bản lãnh quyền uy, sâu sắc nước đời, thì chẳng phải là chuyên bình thường! Người đàn bà có máu lạnh này đã thể hiện uy quyền, sự lọc lõi đến đáng sợ qua cái cách hành xử khôn ngoan mẫn tiệp của nàng.

Khi nghe phong thanh chồng có vợ bé, người phụ nữ nào chẳng nổi tam bành?  nhưng Hoạn Thư bề ngoài vẫn lịch lãm, văn vẻ nhẹ nhàng “trách người đen bạc ra lòng trăng hoa”. Bề trong? lửa hận bừng bừng, căm giận anh chồng đốn mạt phản bội tình xưa nghiã cũ, làm tổn hại tới uy phong, danh dự cá nhân và thế gia dòng họ Hoạn. Nguyễn Du đã để lộ tâm can, gan ruột Hoạn Thư bằng một đoạn độc thoại nội tâm bậc thầy, trong đó hứa hẹn một pha đầy kịch tính:

                                       

Ví bằng thú thật cùng ta (1559)

Cũng dong kẻ dười mới là lượng trên

Dại chi chẳng giữ lấy nền

Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?

Lại còn bưng bít dấu quanh

Làm chi những thói trẻ ranh nức cười!

Tính rằng cách mặt khuất lời

Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!

Lo gì việc ấy mà lo

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?

Làm cho nhìn chẳng được nhau

Làm cho đầy đoạ cất đầu chẳng lên!

Làm cho trông thấy nhãn tiền

Cho người thăm ván, bán thuyền biết tay (1572)

 

Nghĩ vậy, nhưng “Buồng đào khuya sớm thành thơi, ra vào một mực nói cười như Không.” Khi người ăn kẻ ở lẻo mép tâng công, Hoạn Thư vẫn ra vẻ nổi giận đùng đùng:

Chồng tao nào phải như ai (1560)

Điều này hẳn miệng những người thị phi

 

Lấy cớ rằng chúng thêu dệt chuyên thị phi để nói xấu chồng, lập tức lôi ra đánh đòn ( đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng), khiến trong ngoài kín mít như bưng. Kịp khi Thúc sinh trở về, Hoạn Thư vẫn đon đả mở tiệc mừng chào đón ( Lời tan hợp nỗi hàn huyên- Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng- Tẩy trần vui chén thong dong). Vẻ mặt tươi cười vồn vã tỉnh bơ khiến chàng họ Thúc tưởng nàng chưa biết gì nên nhát gan ém nhẹm chuyện vợ lẽ được cha cho phép. ( Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình lại xưng). Trong khi Hoạn Thư vẫn đẩy đưa, buông những lời bóng gió xa xôi, nhằm củng cố niềm tin ngây thơ của chàng hầu mưu đồ một điều gì bí hiểm về sau:

 

Rằng : Trong ngọc đá vàng thau(1583)

Mười phần ta đã tin nhau cả mười

Khen cho những miệng dông dài

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia!

Thiếp dù vụng chẳng hay suy

Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười!(1588)

 

Thúc Sinh nông cạn, đớn hèn làm sao có thể hiểu được ẩn ý sâu xa trong những lời bóng gió của nàng. Anh chàng hí hửng khi được vợ dẫn dụ đường mật nên trở lại Lâm Truy. Nàng vẽ đường cho hưu chạy! Thật đúng là “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay.”

Sau khi Thúc sinh đi, Hoạn Thư về nhà mẹ đẻ để hỏi ý kiến mẹ về kế hoạch trừng trị Thúc sinh và Thúy Kiều ( Thưa nhà huyên hết mọi tình- Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen ). Cái cách đánh ghen của Hoạn Thư thật lạ lùng và thâm độc:

 

Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen(1609)

Xấu chàng mà có ai khen chi mình!

Vậy nên nghảnh mặt làm thinh

Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày...

Lâm Truy đường bộ tháng chầy

Mà đường hải đạo sang ngay thì gần

Dọn thuyền lựa mặt gia nhân

Hãy đem dây xích buộc chân nàng về

Làm cho cho mệt cho mê

Làm cho đau đớn ê chề cho coi!

Trước cho bõ ghét những người

Sau cho để một trò cười về sau !(1620)

Đây cũng chính là điều đi ngược lại lẽ thường được ghi nhận trong câu tục ngữ dân gian: cả giận mất khôn. Nhưng Hoạn Thư càng giận lại càng tỉnh táo sáng suốt; đánh ghen nhưng không ai biết mình ghen.

Tiếp đó là màn lập hiện trường giả, đốt nhà với xác trôi sông, bắt cóc Thuý Kiều về nhà tra khảo…, qua mặt được cả bố chồng lẫn người chồng ngờ nghệch, khiến mọi người cứ tưởng như Kiều đã chết. Mưu mô được thực hiện vô cùng hoàn hảo, không để lại một dấu vết gì, ngay cả quan lại điều tra xét xử thời ấy cũng phải bó tay. 

Công việc tiến hành song suốt nhưng không dừng ở đấy! Hoạn Thư còn gìàn dựng cảnh bắt Kiều gẩy đàn, hầu rượu Thúc sinh khi chàng buồn nản trở về để chàng phải ngạc nhiên, dở cười dở khóc. Đúng là: “Cùng trong một tiếng tơ đồng, người ngoài cười nụ người trong khóc thầm!”

Đây là đoạn đầu của màn kịch đánh ghen mà Hoạn Thư vừa là tác giả kịch bản, vừa là đạo diễn kiêm diễn viên. Trong đó ba nhân vật chính: Hoạn Thư, Thúc sinh và Thuý Kiều, ai cũng là người trong cuộc, và ai cũng là khán gỉa bàng quan; ai cũng cười nụ, ai cũng khóc thầm. Hoạn Thư cười nụ vì đã thoả mãn với sự trả thù. Thuý Kiều và Thúc sinh cườì nụ vì gỉa vờ không quen biết nhau, lấy nhạc làm vui... Nhưng đúng ra là cả hai Thúc sinh và Thúy Kiều không ai đủ can đảm dám đối diên với sự thực trước mắt! Cả ba người đều đau khổ bẽ bàng! Tuy nhiên, Hoạn Thư không phải là người đàn bà cố chấp, đã cạn nhân tình. Trong tình huống nghe Kiều gảy đàn chan hoà nước mắt, nàng đã có phần càm động và nhẹ nhàng nói với Thúc sinh:Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương!” Ngoài ra, nàng còn nói lời chia xẻ và thông cảm với số phận đào hoa:

 

Bể trần chìm nổi thuyền quyên(1903)

Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời

 

sau đó Hoạn Thư còn gia ân cho Thuý Kiều ra tu ở Quan Âm Các sau nhà. Tuy nhiên để hai người bặt đường dan díu, nàng cho hoa nô theo dõi bắn tiếng trước là chính nàng cũng đang xoi mói. Thúc sinh và Kiều vật vã thở than... Rồi thình lình ỡm ở xuất hiện, xởi lởi ngọt ngào làm hai người bẽn lẽn không dám tìm dịp gặp lại nhau:

Tiểu thư đâu đã rẽ hoa lối nào(1982)

Cười cưòi nói nói ngọt ngào

Hỏi:” Chàng mới ở chốn nào lại chơi ?”…

 

Hoạn Thư biết hết mà coi như chẳng biết chút gì. Quả là cao thủ võ lâm ! không trách gì họ Thúc phải bó tay, dù xã hội và gia đình đã tạo mọi điều thuân lợi:

 

Người đâu sâu sắc nước đời(2007)

Mà chàng Thúc phải ra người bó tay !

 

Kết qủa đánh ghen của Hoạn Thư và mối tình Kiều-Thúc là Kiều đuợc bật đèn xanh ôm chuông vàng bỏ trốn trước sự toàn thắng vẻ vang về mặt trận ghen của nàng họ Hoạn:

Cất minh theo ngọn tường hoa(2027)

Lần đường theo bóng trăng tà về tây.

 

Qua biến cố này ta thử lượng gía về mặt cá nhân, chiến thuật đánh ghen và chiến lợi phẩm hạnh phúc mà Hoạn Thư đạt được ở mức độ nào ? Những thành qủa của đấu tranh giành quyền bình đẳng nam nữ về mặt gia đình và xã hội đã dẫn đến đâu qua sự đấu tranh sắc nét khôn ngoan của người kiệt nữ Hoạn Thư?

Khi nhắc tới Hoạn Thư người ta chỉ nhắc đến tuyệt xảo của đòn ghen, Ít ai nghĩ đến mục đích và đối tượng của đánh ghen ở đây là quyền của người phụ nữ đấu tranh với tình địch, chồng và xã hội để gìành hạnh phúc cho cá nhân mình. Hoạn Thư đã xua đuổi được Thúy Kiều và làm chồng phải ngao ngán rời xa người bạn tình, nhưng nàng có thực sự tìm lại được hạnh phúc gia đình? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải khảo sát những yếu tố vằ điều kiện tạo thành hạnh phúc của hai người:

 

Về mặt văn hoá và xã hội, tác gỉa Võ Thu Tịnh trong bài Đòn Ghen Của Hoạn Thư (5) đã nêu ra những thế kẹt của Hoạn Thư mà Luật Hồng Đức đã ghi:

 

Thứ nhất, cha Thúc sinh và quan trên đã chính thức cho phép Thúc sinh cưới Kiều rồi. May mà Thúc sinh hèn nhát, quen thói sợ vợ, nên chưa dám nghĩ đến việc cùng cha đưa Kiều về nhà ra mắt nàng. Rơi vào hoàn cảnh ấy, nàng cũng khó mà từ chối.

 

Thứ hai, nàng không có con. Đó là một cớ trong thất xuât (không con, dâm đẵng và biếng nhác, bất hiếu với cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật) để người đàn ông ly dị vợ.

 

Thứ ba, bất hiếu. Không cho chồng lấy vợ lẽ để có con nối dõi tông đường (Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại)

 

Thứ tư, ghen tuông lỗ mãng, gây gỗ hành hung không cho chồng giao du với phụ nữ (thất xuất).

 

Cũng theo Võ Thu Tịnh, Hoạn Thư phải khôn ngoan, úp mở làm cho Thúc Sinh tiếp tục giấu, tức là chàng không mở miệng xin lấy Kiều, Hoạn Thư sẽ có thời gian dùng tình cảm lôi kéo chồng, làm cho chồng quên Kiều mà trở lại với nàng.

 

Hoạn thư là người khôn ngoan rất mực và hiểu biết sắc nét mọi điều. Chắc hẳn nàng hiểu và ý thức được hoàn cảnh tế nhị của mình nên đã thực hành kế hoạch đánh ghen trong điều kiện hết sức giữ kín trong ngoài, tuyệt đối thâm nghiêm kín cổng. Nạn nhân được cài răng lược, kiềm chế lẫn nhau, không ai biết trước và khi biết cũng không dám hé răng như ta đã nhìn thấy sự việc diễn ra…

Có thể nàng đã đạo diễn vở bi hài kịch thành công để bảo vệ bản thân và giáng trả những đòn đớn đau thích đáng cho người chông bội bạc, cho Thúy Kiều cho cả Thúc ông, và những đối tượng thù nghịch tiêu biểu cho quyền uy xã hôi đương thời. Nhưng còn hạnh phúc tình cảm của nàng với Thúc sinh sẽ đi về đâu? vấn đề không đơn giản vói nụ cười hả hê vô tư của mọi người!

Có thể nói nàng có máu lạnh thích đấu đá ghen tuông gai góc để thoả mãn uy quyền và tự ái cá nhân hơn là tự vấn đấu tranh đi tìm sự êm ấm, hoà hợp yêu thương trong tình chồng vợ. Nàng không nặng lời thô lậu như nhiều người đàn bà khác khi ghen tuông với chồng và đánh ghen với với tình địch. Nhưng những thủ đoạn và sự khôn ngoan sắc sảo của nàng đã làm người đàn ông thúc thủ bất động, đồng thời cũng trở nên nguội lạnh e dè, hay lãnh cảm nói theo ngôn ngữ thời nay, khi gần gũi với nàng: Than ôi ! Thiên thần hạnh phúc đã vỗ cánh bay đi…Sự đấu tranh giành hạnh phúc đã vượt qúa biên giới của sự thuyết phục đối tượng yêu thương về với hạnh phúc gia đình, và chính kẻ đấu tranh là Hoạn Thư cũng bước vào ngõ cụt không lối thoát trong cơ chế xã hội đương thời. Có thể nói Hoạn Thư đã chết đứng từ đây gìống như Từ Hải khi rơi vào bẫy tình của Hồ Tôn Hiến. Chì khác là,Từ Hải chết đứng như một kẻ chiến bại, còn Hoạn thư chết đứng như một kẻ chiến thắng!!!

Nghĩ cho cạn tình cạn lý, đứa con tinh thần của Nguyễn Du đã được hoài thai thiếu hoàn chỉnh. Mặc dù so với phiên bản văn xuôi Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, thi sĩ có châm chước đôi điều, trong đó có sự tha bổng Hoạn Thư khi Kiều trả ơn báo oán. Nhưng điều căn bản nhất là hạnh phúc có con cái và được thương yêu trong tình chồng vợ, không một ai, kể cả tác gỉa Truyện Kiều để ý đoái hoài. Một ngườì đàn bà đảm lược khôn ngoan chỉ được xử dụng vào việc quán xuyến gia đình và trở thành câu chuyện mua vui trong những dịp trà dư tửu hậu, phỏng có phải là hạnh phúc? Trách nhiệm ấy ở ai? nếu không muốn nói là xã hội, chồng nàng và cả độc gỉa lẫn tác gỉa có dự phần trong đó?

Hoạn Thư rất cô đơn, ngoài bà mẹ già thương con, nhắm mắt ủng hộ con trong việc đánh lừa xã hội, còn có Thúy Kiều dù là tình địch, nhưng cũng là măt phải của đời nàng, còn giữ được tình người, cảm thông và tha bổng cho về. Một người dám phản kháng lại xã hội bất công với tham quan ô lại như Kiều bằng hành động ơn trả nghĩa đền, vẫn giành một khoảng trống trong tâm hồn riêng cho người đồng điệu.

Tóm lại, Hoạn thư là một phụ nữ bản lãnh và khôn ngoan tột bực. Một nhân vật kiệt xuất về đấu tranh về quyền con người của phụ nữ Việt, nổi lên từ những nghịch lý của xã hội bất công. Nàng đã ý thức được hoàn cảnh ngặt nghèo của cá nhân và đã vận dụng thành công tài sức của riêng mình--không phải thế lực bất công đương thời của cha là Thượng thư bộ lại--Một mình chống trả lại những bất công của gia đình và xã hội ràng buộc người phụ nữ vào những lề thói phi nhân bản. Tuy nhiên, nàng thật dũng cảm và cũng thật đáng thương! đã trở thành một con thiêu thân trong một xã hội khắc nghiệt bất công và trong môi trường vô hạnh phúc của đời mình. Người ta khiếp phục, ca tụng, tán dương nàng như những mẫu mực tuyệt vời của nghệ thuật đánh ghen để phục vụ khát vọng uy quyền và lòng tự ái ích kỷ cá nhân; Ít ai cảm thông chia xẻ với những bất hạnh của đời nàng…

 

Phạm đức Khôi

 

California 27/8/2014

 

CHÚ THÍCH

 

1-    Tất cả số câu thơ Kiều trích dẫn trong bài lấy từ Tự Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh do Đông Anh-Hà Nội xuất bản 1989; và Truyện Kiều Chú Giải của Vân Hạc Văn Hòe, Ziên Hồng, 1959

 

2-    Wikipedia, ngày 24 tháng 6 năm 2013

 

3-    Vân Hạc Văn Hoè, Truyện Kiều Chú Gỉai, Ziên Hồng, 1959, p323)

 

4-    http//w.w.w thivien.net

 

Vietsciences-vo Thu Tinh (12/11/2

 

 

 

 

 

Hồi Ức Giáng Sinh

E-mail Print

Thêm một mùa Giáng Sinh đến khắp nơi, riêng Toronto thành phố tôi đang cư ngụ là xứ lạnh nhưng năm nay không một hạt tuyết rơi, ngược lại mưa âm ỷ suốt ngày 24th. Có lẽ nhiều người Canadian thất vọng vì ai cũng mong sẽ có một “White Christmas” (Giáng Sinh Trắng) để mùa lễ được thêm ý nghĩa!

Last Updated ( Saturday, 03 January 2015 16:37 )
 

NỖI LÒNG CỦA NGƯỜI THIẾU NỮ VIỆT CỔ THỜI QUA BÀI CA DAO “ĐÊM QUA RA ĐỨNG BỜ AO”

E-mail Print
User Rating: / 4
PoorBest 

 

(Kính tặng GS. Dương Mạnh Thường, vị thày đã hướng dẫn chúng tôi những bước đầu bước vào hành trình văn học dân gian)

Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian. Ca có nghĩa là giọng ngân dài; dao là hát không cần nhạc đệm. Ca dao là loại văn chương bình dân được truyền khẩu, thêm bớt lưu truyền trong dân gian theo thời gian, nên hoàn toàn không biết tác giả là ai. Nội dung bài hát mô tả tình cảm nam nữ, tính tình, phong tục tập quán, sinh hoạt địa phương, thấm đậm màu sắc và tình yêu quê hương. Do đó ca dao còn được gọi là phong dao như cuốn “Tục Ngữ Phong Dao” của Ôn Như Nguyễn văn Ngọc.(1) Một đặc điểm nữa là ca dao không có đầu đề, nên ngươi ta hay lấy câu đầu bài hát làm đề bài. Bài “Đêm Qua Ra Đứng Bờ Ao” chúng ta chọn phân tích hôm nay, cũng không ra ngoài thông lệ ấy:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch Sai Mai

Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà

Mối sầu Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ...

Trước khi tìm hiểu tâm tình của người thiếu nữ (?) như đề bài đã dẫn, chúng ta cần xác định một vài chi tiết làm nền tảng cho việc phân tích.

Nhìn vào kết cấu của bài hát theo thể thơ lục bát, chúng ta thấy có sự tách bạch về hình thức thật rõ rệt, mang văn phong của hai tác gỉa ở vào hai giai tầng xã hội khác nhau: Một đằng ngôn ngữ thuộc giới bình dân mộc mạc nhưng trữ tình. Mặt khác, trong bốn câu sau, là lối văn đài các của con nhà quyền quí có học. Chỉ với bốn câu đã chứa đựng đến ba điển tích của giới văn chương bác học đương thời, như “Ngân Hà, Tinh Đẩu, Tào Khê...”

Dù có sự khác biệt về văn phong, nhưng nội dung của hai phần lại có sự kết hợp nhuần nhuyễn, làm bài ca trở nên phong phú về thanh điệu và sâu đậm về tình cảm. Hơn nữa dù gì sự thêm bớt vốn là đặc tính của ca dao để được mọi giới đồng bào chấp nhận và truyền tụng.

Điểm thứ hai trong câu tám, có phiên bản viết:

“Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn”

Phần khảo dị “Chuôi sao Tinh Đẩu” đi với “ ba năm tròn” không có nghĩa. Tinh Đẩu đây chính là sao Bắc Đẩu hay Đẩu Tinh đã có từ ngàn xưa, dù nội dung có ý nghĩa gì chăng nữa cũng không thể giới hạn thời gian ở “ba năm tròn” với một thiên thể còn rất mơ hồ với sự hiểu biết của con người Việt thuở ấy.

Điểm thứ ba được coi như trọng tâm của bài phân tích hôm nay, đó là nội dung tâm tình của người thiếu nữ được gỉa định trong đề bài, hay của người nam như một số tác gỉa quá dễ dãi trong tư duy, mặc dù nội dung tác gỉa bài ca dao không hề minh định phái tính?

Căn cứ vào phong cách ăn nói, tâm lý, phong tục tập quán ảnh hưởng đến phong thái của mỗi giới nam hay nữ trong xã hội Việt cổ thời, người ta có thể khẳng định bài ca dao trên là tâm tình của người thiếu nữ Việt.

Có ba chi tiết có thể biện minh cho luận cứ này: Tâm tình của người thiếu nữ Việt thường được dấu kín, không dám bộc lộ với ai nên ban đêm mới “ra đứng bờ ao” để tâm hồn giao hoà bộc lộ với đất trời. Một phưong cách mà nam giới ít khi nào thể hiện. Chi tiết thứ hai “ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai”. Giăng tơ ra mà chờ đợi không phải là bản năng của phái nam. Người nam luôn năng động và chủ động đi tìm đối tượng yêu đương, ít khi nào ngồi chờ sung rụng như phái nữ, dù là có “giăng tơ”. “Chờ mối ai” chính là quan niệm thụ động của phái nữ thường được ghi nhận qua: “ Thân em như giọt mưa rào, giọt rơi xuống giếng, giọt vào vườn hoa.”

Chi tiết thứ ba và cũng là điểm then chốt của luận cứ này. Người con gái xưa ít khi nào ra khỏi nhà lâu ngày, trừ khi xuất gia lấy chồng. Vậy làm sao đôi tình nhân lại có sự chia lìa xa cách tới những “ ba năm tròn”, hoạ chăng là người nam đi “lính thú” (tương tự như quân dịch) với “ Ba năm trấn thủ lưu đồn...” và nàng là ý trung nhân của chàng?

Ba yếu tố trên khiến ta có thể đi đến kết luận: Tâm tình bộc lộ trong bài ca dao trên phải là của người thiếu nữ Việt cổ thời.

Sau khi đã xác định một số chi tiết gỉa định, tiếp theo đây chúng ta đi sâu vào nội dung của khúc hát:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ

Bối cảnh mà tác gỉa bài ca dao xây dựng cho phép chúng ta tưởng tượng: Đây là tâm tình của người thiếu nữ đang yêu, đang gắn bó với một “ý trung nhân đã thề non hẹn biển,” nhưng nay không hiện diện để cùng nàng luyến ái yêu đương.

Bờ ao là khoảng không gian yên tĩnh của một gia đình trung lưu ngoài Bắc, có thể được bao phủ bởi cây khế, vườn cau hay bờ tre nước. Nơi đây chắc hẳn có nuôi cá, thả bèo và tất nhiên phải có cầu ao, một địa điểm sinh hoạt và thông tin của mỗi gia đình như tắm rửa giặt giũ, vo gạo, rửa bát; cũng có thể là nơi trao đổi tin tức với xóm giềng về con gà mất cắp, hay thằng cháu lên sởi khóc nhè...Cầu ao là dạng diễn đàn thông tin cỡ nhỏ khác với ao làng, nhưng cũng đủ giải toả sự cô lập của đơn vị gia đình sau lũy tre xanh khi hữu sự. Người miền Bắc với ao cá cầu ao cũng giống người miền Trung, Nam với giếng nước cần vọt. Sự khác biệt bởi người Bắc còn mê tín dị đoan, đào giếng sợ động “long mạch,” gây mất an nguy cho sự thịnh vượng của gia đình.

Người con gái đã chọn “bờ ao” mà không chọn “cầu ao” bởi sự kín đáo của câu chuyện lòng không biết ngỏ cùng ai; bởi sự quan hệ luyến ái giữ gái trai thời xưa không được xã hội khuyến khích nếu không muốn nói lá cấm đoán. Nàng đã kín đáo trao gởi tâm hồn cho trăng gió, cho mặt nước ngàn sao, một ngoại cảnh phù hợp với tâm tình lãng mạn trong quay quắt nhớ thương của người thiếu nữ đang độ trăng tròn. Nhưng than ôi! Tất cả đều ngoảnh mặt lại với nàng: Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ...

Thiên nhiên không đáp ứng chia xẻ được gì với tâm sự hắt hiu của lòng nàng, vì chính tim nàng đang có sự không vui.

Tâm trạng này ta cũng tìm thấy nơi nàng Kiều của Nguyễn Du khi bị rơi vào chốn lầu xanh. Trong cái cảnh “gió trúc mưa mai,” “mưa Sở, mây Tần” mà Kiều chỉ thấy lạnh lẽo đơn côi:

Vui thì vui gượng kẻo là

Ao tri âm ấy mặn mà với ai

Từ đó cụ Nguyễn đã rút ra một định luật tâm lý:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Không bằng lòng với sự ruồng rẫy của thiên nhiên, người thiếu nữ trẻ không chịu đầu hàng, nàng xoay qua tìm sự cảm thông của nhện:

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

Hoàn cảnh của nhện có cùng hoàn cảnh với nàng: cùng chờ đợi một niềm hy vọng trong hạnh phúc đoàn tụ. Nhện giăng tơ cũng như nàng gởi mối tơ lòng cho người bạn tình ngoài ngàn dặm và chờ ngày tương hợp. Nàng bắt tâm sự với nhện nhưng nhện vẫn vô cảm, im lìm...

Một sự kiện chúng ta ghi nhận ở đây là vấn đề thời gian tâm lý. Nàng thiếu nữ khởi đầu tâm sự từ “Đêm qua”. Tức cảnh đêm tối trời sao lấp lánh, không có ánh trăng soi rọi, cớ sao nàng có thể nhìn được “con nhện giăng tơ”? Muốn hiểu được điều này chúng ta phải đi sâu vào thời gian tâm lý.

Khi nàng xác định thời điểm qúa khứ “hôm qua ra đứng bờ ao” ta phải hiểu là “ hôm nay” là thời gian hiện tại nàng đang nhìn “con nhện giăng tơ.” Nhưng hai thực trạng tâm lý là một thực tế sinh động không giới hạn ở thời điểm qúa khứ, hiện tại, hay tương lai. Cá lặn, sao mờ và con nhện giăng tơ có thể ở thời gian và không gian vật lý khác nhau, nhưng trong tâm thức sinh động của nàng những thời điểm ấy luôn quyện lẫn vào nhau như bóng với hình. Thời gian tâm lý không được đo bằng những khoảng khắc của tiếng tích tắc đồng hồ mà đo bằng sự cảm ứng của nội tâm, nó có thể rất ngắn, rất dài hay chỉ là một khái niêm mơ hồ không phân biệt trước sau, tất cả tùy thuộc tâm trạng vui buồn của mỗi người trong cuộc. Do đó cổ nhân mới có câu “nhất nhật bất kiến như tam thu hề,” một ngày hai người yêu nhau không gặp mặt như thể ba năm! Hay “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Đấy chính là tâm trạng của người thiếu nữ trong bài ca dao, nàng dường như không phân biệt được thời gia không gian vật lý, chỉ cảm nhận sư giao đông của con tim chứa hình ảnh yêu dấu thoắt ẩn, thoắt hiện của người tình xa cách.

Buồn trông chênh chếc sao Mai

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ

Có thể sao Mai cảm thông va chia xẻ được với tâm sự của nàng chăng? Vì sao Mai, sao Hôm là hai vì sao sáng nhất vào buổi sáng sớm và chiều tối bỗng mờ đi trước cái nhìn đồng cảm nhớ thương da diết của nàng?

Để hiểu thấu tâm trạng của nàng thiếu nữ hướng về vì sao Mai, ta phải am hiểu cặn kẽ thực tế và ý nghĩa văn vẻ của vì sao quen thuộc này đối với dân gian.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Sao Hôm, Sao Mai chính là sao Kim gọi theo từ Hán-Việt. Sao Kim hay Kim tinh (金星), còn có tên là sao Thái Bạch (太白) hay Thái Bạch Kim tinh (太白金星) (từ thường được dùng khi xem tướng mệnh). Nó tự quay quanh mình với chu kỳ 224,7 ngày. Nếu xếp sau mặt trăng về độ sáng, sao Mai là thiên thể tự nhiên sáng nhất trong bầu trời tối, với cấp sao biểu kiến bằng −4.6, đủ sáng để tạo bóng trên mặt nước. Bởi vì Sao Mai là hành tinh phía trong tính từ Trái Đất, nó không bao giờ xuất hiện trên bầu trời quá xa Mặt Trời: góc đạt cực đại bằng 47,8°. Sao Mai đạt độ sáng lớn nhất ngay sát thời điểm hoàng hôn hoặc bình minh. Do vậy mà  nó còn được gọi là sao Hôm, khi hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn; và sao Mai, khi hành tinh này mọc lên lúc rạng đông.

Tương tự như thế, Giáo sư Nguyễn Quang Riệu, người đứng đầu ngành khảo cứu của Đài Thiên văn Paris của Pháp, trong công trình tham khảo lấy tên “Lang thang trên giải Ngân hà, ” ông đã mở đầu cuốn sách tưởng như rất khô khan này bằng những vần thơ trữ tình lai láng trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn (Bản dịch tương truyền là của Bà Đoàn Thị Điểm):

Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Nhìn xem trông vẻ Thiên chương thẫn thờ.
Áng Ngân hà khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê triền khi có khi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài
.

Nếu chúng ta đặc biệt để ý đến hai câu cuối, sẽ nhận ra “Chuôi sao Bắc Đẩu” đây cũng lại là sao Hôm, sao Mai xuất hiện trong bài ca dao của nàng thiếu nữ mang dáng dấp “vị-chinh-phụ” gần gũi với người chinh phụ của nữ sỹ họ Đoàn.

Các bạn hẳn đã biết rằng Trái Đất tự quay quanh trục Bắc-Nam theo chiều Tây sang Đông một vòng là 24 giờ, vì thế khi nhìn lên trời, ta thấy có vẻ như là bầu trời quay ngược lại từ Đông sang Tây một vòng cũng là 24 giờ (đây là ta chỉ nói cho những người ở Bắc bán cầu – còn ở Nam bán cầu, người ta thấy bầu trời quay ngược lại). Chuyển động biểu kiến đó của bầu trời gọi là nhật động (diurnal motion), vì thế vào lúc chập tối nếu ta thấy chuôi sao Bắc Đẩu (hay sao Hôm) nằm ở phía Đông, thì sau đó vào lúc gần sáng ta sẽ thấy nó (sao Mai) đã “quay“ sang phiá Tây rồi!

Ông Bà ta còn lầm lẫn sao Hôm, sao Mai là sao Sâm và sao Thương (2). Do đó khi Kiều được Từ Hải cho ơn trả nghĩa đền, khi gọi đến tình lang là Thúc Sinh đã được Kiều của Nguyễn Du dùng đến ý niệm cách trở của sao Sâm, Thương để viện dẫn sự cảm thông:

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?

Hai sao không thể nào gặp nhau bởi vì thực chất nó chỉ là một!  Đó là hai tên gọi khác nhau của một “ngôi sao“ (thực chất đó là một hành tinh gọi là Kim tinh -Venus).  Trình độ Thiên văn học của người xưa còn hạn chế nên họ mới lầm tưởng đó là hai ngôi sao tượng trưng cho sự vĩnh viễn chia phôi!(3)

Người thiếu nữ trong ca dao ở vào thời điểm xa xưa ấy cũng không vượt ra ngoài được trình độ giới hạn của khoa thiên văn học đương thời. Do đó nàng phần nào nhận được sự cảm thông an ủi trong cách phản hồi “mờ ảo” của sao Mai.

Tuy nhiên, nỗi nhớ nhung hiu quạnh cứ triền miên theo tháng ngày, sao Mai lạnh lẽo không đủ ấp ủ nỗi lòng trinh nữ, nàng lại hướng tâm hồn mỗi đêm về với ngàn sao thuộc dải Ngân Hà:

Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà

Mối sầu Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Có thể nói tất cả nỗi lòng u uẩn của người trinh nữ được gói gém trọn vẹn trong hai câu thơ ngắn ngủi nhưng súc tích này.

Điệp từ “đêm đêm” cho thấy, kể từ dạo ấy khi người tình vắng bóng, nỗi nhớ thương của người thiếu nữ đã được thử thách với thời gian. Đợi cho chuỗi ngày dài không dứt qua đi, nàng ngóng chờ đêm tới để gởi hồn cho dải Ngân Hà. Câu chuyện tình lâm ly bí ẩn của nàng có lẽ phát xuất từ đây? Nàng thấy gì trong dải tinh vân xa vời nhưng gần gũi ấy?

Để khai mở mối tình éo le này, ta cùng bước vào điển tích Ngưu Lang-Chức Nữ và dải Ngân Hà:

Theo Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia, Ngân Hà, còn gọi là sông Ngân hay Thiên Hà (galaxy), trong đó có Hệ Mặt Trời . Nó xuất hiện trên bầu trời như một dải sáng trắng kéo dài từ chòm sao Thiên Hậu (Cassiopeia) ở phía bắc, đến chòm sao Thập Tự ( South Crux) ở phía nam. Dải Ngân Hà sáng hơn về phía chòm sao Nhân Mã (Sagittarius), tức trung tâm của Ngân Hà. Một dữ kiện thực tế là dải Ngân Hà chia bầu trời thành hai phần xấp xỉ bằng nhau. Điều này chứng tỏ hệ Mặt Trời nằm rất gần với mặt phẳng của thiên hà này.

Theo khảo sát của các nhà thiên văn học qua kính viễn vọng, Ngân Hà là một thiên hà xoán ốc chặn ngang. Theo phân loại  của Hubble, đó chính là dạng thiên hà hình đĩa có các nhánh liên kết không chặt chẽ và có phần gần trung tâm lồi hẳn lên, với khối lượng xấp xỉ 1012 khối lượng của Mặt Trời (M), gồm khoảng từ 200 tới 400 tỷ ngôi sao . Dải Ngân Hà có đường kính khoảng 100.000 năm ánh sáng và khoảng cách từ Mặt Trời đến trung tâm dải Ngân Hà cũng ước chừng khoảng 27.700 năm (ánh sáng)!

Thực ra các tên gọi Ngân Hà, sông Ngân hay Thiên Hà trong tiếng Việt bắt nguồn từ Trung Quốc. Vào những đêm trời quang nhìn lên bầu trời ta có thể thấy một dải màu trắng bạc kéo dài do rất nhiều ngôi sao tạo thành. Nó được người Trung Quốc hình tượng hoá thành hình ảnh một dòng sông chảy trên trời với màu bạc trắng và gọi nó là Ngân Hà : 銀河) hoặc Ngân Hán (銀漢), hay Thiên Hà (天河), Thiên Hán (天漢), Vân Hán (雲漢), Tinh Hà (星河).

Nhưng dưới mắt của người Đông phương chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, hai đầu Sông Ngân còn có câu chuyện tình lâm ly không có hồi kết thúc, đó là mối tình xuyên không gian vượt thời gian: Ngưu Lang  (牛郎) và Chức Nữ (織女) hay Ông Ngâu, Bà Ngâu. Câu chuyện cổ tích này có hai phiên bản với nhiều khác biệt, một của Việt Nam và một của Tàu. Truyện có liên quan đến các “Sao Chức Nữ (Vega), “Sao Ngưu Lang” (Altair), dải “Ngân Hà và hiện tượng “Mưa ngâu” diễn ra vào đầu tháng Bảy âm lịch ở Việt Nam.

Với tâm tình của một thiếu nữ thuần Việt trong bài ca dao và ý thức kiêu hùng bất khuất của con cháu vua Hùng, chúng ta tiếp nhận phiên bản Việt dưới đây như di sản hoa văn hoá thoát thai hay tinh lọc từ văn hoá nước ngoài nhưng vẫn mang sắc thái văn hoá Việt tộc.

Phiên bản Việt kể rằng:

Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của “Ngọc Hoàng Thượng Đế,” vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê việc chăn trâu, khiến trâu tràn vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc canh cửi. Ngọc Hoàng nổi giận bắt cả hai phải ở xa nhau, người đầu sông, kẻ cuối sông Ngân.

Sau đó nghĩ lại thương tình, Ngọc Hoàng gia ân cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng Bảy Âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần tạo thành cơn mưa và được người trần đặt tên là Mưa Ngâu.

Thời bấy giờ Sông Ngân trên Thiên đình không có cầu, nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời tiến hành sứ mạng. Vì mạnh ai nấy làm, chẳng ai bảo được ai. Họ cãi nhau ỏm tỏi nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn chưa hoàn thành. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm “qụa”, chụm đầu lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Do vậy có từ “bắc cầu ô thước”. Từ đó cứ tới tháng Bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc “Ô kiều”.

Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân lấy làm ghê sợ, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu phải nhổ sạch lông đầu. Vì vậy, cứ tới tháng Bảy thì loài quạ đầu rụng hết lông, cánh đuôi xơ xác.

Tuy nhiên sau một thời gian Ngọc Hoàng vốn tính nhân từ, cảm thương cho sự chia lìa của cặp vợ chồng Ngâu, đã trả lại hình hài cho những người thợ mộc và ra lệnh họ phải làm một cây cầu thật vững để Ngưu Lang và Chức Nữ có thể gặp nhau.Từ đó về sau Ngưu Lang và Chức Nữ được chung sống bên nhau trọn đời.

Có lẽ do tích này mà ở Bình Định thuộc miền Trung Việt Nam có từ "quạ làm xâu", nói về sự vắng bóng của những con quạ một khoảng thời gian rồi trở về với cái đầu trọc lóc, trông rất khôi hài.

Có dị bản khác cho rằng tên gọi Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.(4)

Với sự tích nêu trên ta thấy nàng thiếu nữ “đêm đêm tưởng dải Ngân Hà”, hẳn nghĩ đến thân phận hẩm hiu của đời mình: nghịch cảnh ngang trái chia lìa hai kẻ yêu nhau! Lý do không phải vì “ mẹ em tham thúng sôi dền, tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng” mà vì nghĩa vụ làm dân một nước thường trực chiến tranh: “ Ba nam trấn thủ lưu đồn”, chàng đi lính thú ngăn chặn kẻ cựu thù truyền kiếp phương Bắc.

Có thể nàng cũng ước ao được gặp lại tình lang, dù mỗi năm chỉ một lần như Ngưu Lang Chức Nữ. Nàng mơ về một viễn tượng xum vầy dù chỉ thoáng qua với đầy nước mắt như vợ chồng Ngâu... Là một thôn nữ đang độ xuân thì với đầy ắp những huyễn tưởng yêu đương, dù nàng chưa thực sự là một chinh phụ với phân vân trước tình nhà nợ nước và những trách nhiệm làm con, làm vợ, làm mẹ như người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn, nhưng nàng vẫn có quyền sống trong tưởng tượng và mơ ước của một người thường... vì ước mơ xưa nay vẫn là một phần quan trọng của đời sống con người và của chính đời nàng.

Chúng ta còn nhớ trong cuốn “Người Đàn Bà Ngoại Tình” (La Femme Adultère) của triết gia Hiện Sinh Albert Camus người Pháp sinh tại Algeria. Ông miêu tả hình ảnh hai vợ chồng người lái buôn (Janine và Marcel)-- người Tây phương (Pháp) sinh ra và lớn lên tại Algeria-- trong một cuộc hành trình xuyên sa mạc bằng xe ngựa. Giữa sa mạc nắng cháy da người, khô cằn sự sống ở Algeria, người đàn bà tức Janine vốn chịu đựng cuộc hôn nhân không tình yêu với người chồng chỉ biết kinh doanh và coi trọng đồng tiền. Trong cảnh bi đát khô cằn sự sống của sa mạc và người chồng vô cảm ấy, nàng luôn mơ về một đồng cỏ xanh rờn với sông nước và mùa xuân bất tận... Ban đêm nàng bị cuốn hút vào sự đam mê đắm đuối với ánh sáng lung linh kỳ diêu của những vì sao... Đây chính là biểu tượng khát vọng tự do, biểu tượng của cuộc hôn nhân chính trị (polictical marriage) giữa những người Âu di dân đến Algeria (Pieds-Noirs) và người Hồi giáo Arab trước khi Algeria giành được độc lập (1962). Những đam mê của nàng là ước muốn giải thoát khỏi sự cô đơn, một thứ ngoại tình tư tưởng hướng về một viễn ảnh đẹp, trái với thực tại vô lý, bất công của đời sống.(5)

Bỏ ra ngoài những màu sắc chính trị và phân biệt chủng tôc của câu chuyện “ Người đàn bà ngoại tình”, nếu chỉ nhìn về mặt tâm hồn và bản năng phụ nữ, chúng ta ghi nhận: “người đàn bà ngoại tình” đã có sự đồng điệu với người thiếu nữ Việt trong bài ca dao “Đêm qua ra đứng bờ ao”. Hai người cùng ước mơ một tình yêu tươi mát và lãng mạn; cả hai cùng đam mê ở những vì sao, một phương cách giải phóng tâm hồn, phá vỡ những gò ép của xã hội, một thực tại sơ cứng trái với ước mơ của đời sống để tìm về một mối tình thủy chung và tương cảm.

Ngân Hà và Tinh Đẩu là hai tập hợp tinh hệ khác nhau nhưng rất có ý nghĩa đối với người thiếu nữ. Một đằng nó gỉai phóng óc tưởng tượng và tình yêu đắm đuồi của nàng, một đằng khêu gợi sự chia xa phải có với người yêu trong bổn phận và nghĩa vụ của con dân với quê hương đất nước.

Như ta đã biết Tinh Đẩu hay Đẩu tinh chính là sao Bắc Đẩu. Sự đảo ngữ chỉ để tương hợp với luật bằng trắc của thơ lục bát. Tinh Đẩu chính là mảng sao nằm trong chùm Đại Hùng Tinh (Ursa Major) ở hướng Bắc địa cầu. Bắc Đẩu là từ Hán Việt có nghĩa là chùm sao giống hình cái đấu để đong lúa gạo, gồm bảy ngôi chạy dài cong như cái muỗng cơm, nên người Mỹ còn gọi là Big Dipper.

Sao Bắc Đẩu dưới mắt người việt cũng là sao Hôm, sao Mai xuất hiện ở phương Đông, chiều có mặt ở phương Tây (Đoài), biểu tượng của sự cách biệt chia phôi như hai câu cuối đã dẫn trong Chinh phụ Ngâm Khúc:

Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài

Tại sao không phải là mỗi năm như Ngưu Lang, Chức Nữ vào đầu tháng Bảy? Tại sao lại là “ba năm” mang nặng mối sầu ly biệt?

Tìm vào kho tàng tục ngữ phong dao, chúng ta ghi nhận: “Ba năm” đây chính là thời gian ba năm nghĩa vụ của người lính thú, “trấn thủ lưu đồn” mà ngày nay chúng ta gọi là quân dịch trong bài ca dao dưới đây:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan

Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc măng mai

những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng

Nước suối trong, con cá nó vẫy vùng

Hai câu “Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” và câu cuối “Nước suối trong con cá nó vẫy vùng” nói lên ý chí yêu tự do và ý thức trách nhiệm trong thân phận làm người của chàng lính thú, của cả một dân tộc kiên cường lớp lớp tiếp tay nhau vùng lên chống ách thống trị ngàn năm của kẻ thù truyền kiếp.

Câu ca dao trên có nghĩa, kể từ ngày xa cách tình lang ( mối sầu Tinh Đẩu), đáp lời sông núi đi lính thú đồn trú ngoài biên ải, ngăn chặn quân thù từ vùng rừng núi biên thùy ( trên ngàn). Đến nay đã trọn ba năm làm xong nghĩa vụ vẫn chưa thấy chàng về, nhưng nàng vẫn một lòng thủy chung chờ đợi:

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ...

Có người cho rằng Tào Khê là tên một dòng sông ở Đông Nam huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi có ngôi chùa cổ Bảo Lâm, còn gọi là Nam Hoa, từng là đạo tràng lớn của Đại sư Huệ Năng (638-713), vị Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Quốc. Tào Khê còn là một danh lam thắng cảnh gắn liền với thiền môn.(6)

Tào khê cũng có thể là tên một con sông trước chảy qua làng Đình Bảng (Bắc Ninh) nay đã cạn; một hiện thực mang tên một dòng sông đã minh chứng cho lòng son sắt của người thôn nữ xứ “địa linh nhân kiệt,” vốn là nơi sinh trưởng của tác gỉa bài ca dao trữ tình và thủy chung kia?

Lòng trung trinh của nàng thôn nữ đầy tình yêu dào dạt, nói lên tính lãng mạn thủy chung của người thiếu nữ Việt, đồng thời cũng là điểm tựa nức lòng cho những người trai đất Việt, xứ sở của ngàn năm chinh chiến.

Nói đến đây ta lại nhớ tới hình ảnh của người thôn nữ thời Tây Sơn, mơ về dáng dấp hào hùng của Quang Trung Nguyễn Huệ cỡi voi đại phá quân Thanh:

 

Em ao ước được là người thục nữ

Hát véo von trong mộng Bắc Bình Vương...

 

Niềm hạnh phúc lứa đôi và ước mơ xã hội đã quyện vào giòng sinh mệnh của một dân tộc biết yêu tự do, thà “chết vinh hơn sống nhục”, đã tạo nên ý chí quyết thắng: “Đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Vinh quang thay và cũng kiêu hãnh thay là dân của một đất nước hào hùng, mọi người dân trẻ gìa gái trai, sẵn sàng nằm gai nếm mật hy sinh hạnh phúc cá nhân, gia đình để bảo vệ biển đảo và mảnh đất thân yêu với ý chí bất khuất quật cường. Một dân tộc với truyền thống bất khuất kiêu hùng ấy, đã biết yêu quê hương hơn chính hạnh phúc bản thân mình, chắc chắn bất cứ thế lực thù địch nào cũng phải e dè khiếp phục.

 

Tóm lại đọc xong bài ca dao “Đêm qua ra đứng bờ ao”chúng ta thấy phấn khởi bắt gặp một mẫu người thiếu nữ Việt cổ thời với con tim đầy nhựa sống, dạt dào tình yêu với hy sinh và dâng hiến. Sau bóng dáng yêu kiều thục nữ này, phảng phất hình bóng người lính thú chinh nhân trấn thủ lưu đồn, nắm chắc ngọn giáo giữ gìn giang sơn bờ cõi. Hoàn cảnh chiến tranh thường trực chống kẻ Bắc phương xâm lược, khiến đôi trẻ tạm thời phải chia lìa, nhưng tâm khảm lúc nào cũng gắn bó đợi chờ một ngày đoàn tụ khi đất nước vắng quân quân thù. Nơi đây, tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã đắp đổi sắt son, tạo thành dòng sinh mệnh trường tồn của tổ quốc Việt Nam dấu yêu với những con tim cuồn cuộn máu kiêu hùng...

 

California ngày 17 tháng 7 năm 2014

 

Phạm Đức Khôi

 

 

 

 

GHI CHÚ

 

1- Tục Ngữ Phong Dao, Ôn Như Nguyễn văn Ngọc, nhà xuất bản Mặc Lâm, 1967

 

2-Sao Sâm ở giữa chòm sao Orion cũng gọi là sao Cày. Sao Thương là mấy sao sắc đỏ ở đuôi chòm Scorpien còn gọi là sao Thần Nông, ở cách biệt nhau 180 độ nên mang biểu tượng của chia lìa cách trở. Theo Tự Điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh, P395)

 

3-Nguyễn Thành Tương, Tản mạn về Bầu Trời Đêm, 5- 2012,
http://hongoccan56-63.com/ntt_tanman.html

4-Ngưu Lang, Chức Nữ, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

5-Albert Camus, La Femme Adultère, Sex, Book Reviews, Short Story, January 29, 2006

 

6- Giác Ngộ Online, https://giacngo.vn/PrintView.aspx

 

 
Page 6 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account