CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Một Thoáng Hương Xưa Qua Nét Nhạc & Cung Đàn

E-mail Print

Sống giữa cuộc sống xô bồ, hỗn độn đến mệt nhoài, nhiều khi tôi thèm ngồi một mình trong tĩnh lặng để nghe lại những bản tình ca xưa của những nhạc sĩ tài danh ở khắp mọi miền đất nước, hầu tìm lại những âm vọng một thời bềnh bồng, phiêu lãng, nay được kết tinh thành những kỷ niệm long lanh. Chỉ thèm một chút hoài niệm nhỏ nhoi thôi, vậy mà cuối cùng, nhờ hạnh của trời và đất đã giúp cho ước muốn của tôi trở thành hiện thực.

 

KÝ SỰ DU LỊCH ALASKA (tiếp theo và hết)

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Khi đến thành phố Skagway, tài xế liền cho xe đậu tại ngã tư đường số 7 Ave và đường Broadway.

Last Updated ( Tuesday, 06 October 2015 16:01 )
 

"Ngoại Ơi Con Vịt Chết Chìm!" (Tùy bút Nguyễn Hà)

E-mail Print


Last Updated ( Friday, 11 September 2015 21:14 )
 

Ký Sự Du Lịch Alaska (Tiếp theo)

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Sau thời gian băng rừng để nhìn tuyết phủ trên núi, chúng tôi liền theo hướng dẫn viên Teresa băng qua một con đường mòn trong rừng để ra lại bến xe buýt hồi nãy. Tại đây, sau khi điểm danh lại số khách du lịch của đoàn chúng tôi, cô Teresa bảo mọi người lên xe và tài xế lái xe trực chỉ đến bờ biển để lên tàu nhỏ ra khơi xem cá voi theo chương trình đã vạch sẵn. Khi xe buýt dừng lại, chúng tôi được hướng dẫn đi băng qua một chiếc cầu tương đối ngắn và nhỏ để đến bến tàu.

Đến bờ biển được khoảng mười lăm phút thì cô Teresa đã liên lạc được ca-nô. Thế là chúng tôi nhảy ngay lên ca-nô nho nhỏ và ông tài công cho nổ máy rồi khởi hành ra biển ngay.

Tàu chạy với tốc độ nhanh làm cho sóng biển rẽ thành hai đường thật đẹp mắt. Trên tàu có một cửa kính được mở ra nên khi có cơn gió thổi mạnh, nước biển theo gió tạt vào trong tàu làm ướt áo vài du khách ngồi xem sóng biển. Cô Teresa đứng ngay bên ông tài công vừa nhìn du khách vừa giải thích và trình bày về địa điểm cũng như thời gian cá voi xuất hiện cho du khách biết. Lại chỉ có một du khách nho nhỏ có đầu óc thích tìm tòi, học hỏi và đam mê những điều mới lạ, nhất là bầy cá voi đang quậy trước cảnh đại dương bao la bát ngát, nên đã liên miên hỏi hướng dẫn viên Teresa về những điều cậu ta muốn biết. Đó là cậu David Châu, 8 tuổi, du khách đã chất vấn cô ta trong rừng thưa mấy giờ trước đây cả đoàn ai cũng biết. Dĩ nhiên cô Teresa cảm thấy rất thích thú khi có người nêu câu hỏi. Vì thế cô ta nhất định làm vừa lòng cậu du khách nho nhỏ này bằng cách từ từ trả lời những câu hỏi của cậu David Châu để làm cho cậu ta thoả mãn. Một du khác người ngoại quốc ngồi bên tôi khi thấy cậu nho nhỏ này cứ hỏi cô Teresa mãi cũng có vẻ thích thú nên nhìn tôi mỉm miệng cười hoài. Bỗng mọi người trên ca-nô la lên rồi chồm về mạn tàu bên phải để nhìn khi thấy mấy con cá voi nhảy lên trên không, lượn vòng đùa giỡn rồi lặn chìm lại xuống biển. Nhìn mấy con cá voi đang đùa giỡn trong nắng giữa biển cả bao la, tôi chợt nhớ đến một bài thơ mang tựa đề “What Whales and Infants Know” của Thi Sĩ Kim Cornwall sáng tác năm 2012:

What Whales and Infants Know

A beluga rising
from the ocean's muddy depths
reshapes its head to make a sound
or take a breath.

I want to come

at air and light like this,
to make my heart
a white arc above the muck of certain days,
and from silence and strange air

send a song

to breach the surface
where what we most need
lives.

Kim Cornwall

Tạm dịch:

Cá voi mẹ và con

 

 

 Một con cá voi nhô đầu lên

từ lòng đại dương

Tạo lại hình dáng của chiêc đầu

rồi phát thành tiếng kêu

hay là đang thở.

 

Tôi muốn đến

 

Giữa lòng đại dương đầy ánh sáng

Như thế này.

Để cho tâm hồn mình

Được uốn lượn thành hình cung màu trắng

Một vài ngày.

Từ sự tĩnh lặng và bầu không khí lạ thường.

 

Gởi một bản tình ca

Làm rối bời

khuôn mặt đại dương

Nơi đây chúng ta cần sự sống.

Kim Cornwall

alt

alt

 

Tung tăng trên mặt nước, khi thì chúng đùa giỡn bên phải, khi thì chúng giỡn đùa bên trái. Tuỳ theo vị trí cá voi xuất hiện, ông tài công cho tàu quay qua quay lại để du khách nhìn được dễ dàng. Vì tàu quay qua, quay lại, quay tới quay lui nên bị chóng mặt rồi say sóng vì chưa bao giờ đi biển cũng như tuổi còn quá nhỏ dại nên cậu David Châu, người thường xuyên làm cho cô Teresa có việc làm, đã phải đến nằm kê đầu vào bố nình vì cảm thấy buồn nôn. Du khách trên tàu vẫn mỏi mắt nhìn ra khơi. Nếu người nào thấy cá voi xuất hiện ở đằng xa thì chỉ tay cho mọi người trên tàu cùng xem. Bỗng tàu di chuyển qua lại gần mấy thùng màu đỏ làm mốc định vị cho tàu bè đi ngang qua biết, chúng tôi thấy hai con cá voi đang nằm trên mấy thùng màu đỏ đó thật vui mắt.

alt

Sau hơn một tiếng đồng hồ nhìn mấy con cá voi đùa giỡn trên biển, hướng dẫn viên Teresa báo cho ông tài công đã đến lúc rời địa điểm để trở lại du thuyền Norwegian Pearl dùng cơm trưa.

Cũng như thường lệ, mỗi lần dùng điểm tâm hay cơm trưa, tối, chúng tôi thường lên tầng 12 theo thói quen, ít khi đi địa điểm khác. Cứ mỗi lần du khách bước vào phòng ăn là có nhân viên của du thuyền đứng chờ sẵn trước cửa để xịt thuốc (alcohol) vào tay du khách hay trao một miếng giấy ẩm ướt cho du khách lau tay để khử trùng. Trưa ấy tôi tách khỏi gia đình để đi trước lên phòng ăn. Khi vừa bước vào phòng, tôi thấy một thanh niên đang đứng đánh đàn guitare ngay cửa ra vào để đón chào du khách vào dùng cơm trưa. Chàng ta vừa đàn vừa hát, bên cạnh là một nữ nhân viên đứng cầm bình xịt alcohol để khử trùng hai bàn tay cho du khách.

alt

Một du khách đang vỗ tay bên cạnh chàng guitarist.

Nhìn chàng thanh niên vừa đàn vừa hát làm cho một du khách vốn là một nghệ sĩ, cảm thấy hân hoan trong lòng nên anh du khách này liền mượn cây đàn guitare và cũng đứng ngay cửa ra vào, rồi vừa đàn vừa hát bản nhạc “ L’amour c’est pour rien” của Enrico Macias cho các du khách khác trên du thuyền Norwegian Pearl vào dùng cơm trưa nghe.

alt

Một du khách mượn đàn để đàn bản nhạc “L’amour c’est pour rien”.

L'amour c'est pour rien

Comme une salamandre, l'amour est merveilleux
Et renait de ses cendres comme l'oiseau de feu,
nul ne peut le contraindre
Pour lui donner la vie.
et rien ne peut l'eteindre
Sinon l'eau de l'oubli.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux l'acheter.
Quand ton corps se revelille,
Tu te mets a trembler.
Mais si ton coeur s'eveille,
Tu te mets a rever.
Tu reves d'un echange avec un autre aveu,
Car ces frissons etranges
Ne vivent que par deux.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux l'acheter.
L'amour, c'est l'esperance,
Sans raison et
sans loi.
L'amour comme la chance
Ne se merite pas.
Il y a sur terre un etre
Qui t'aime a la folie,
Sans meme te reconnaitre
Pret a donner sa vie.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le prendre.
L'amour, c'est pour rien.
Mais tu peux le doner.
L'amour, c'est pour rien.
L'amour, c'est pour rien.

 

Enrico Macias



 

 

Sau khi dùng cơm trưa xong chúng tôi liền thả bộ lên các tầng lầu trong du thuyền để xem. Lúc bước chân lên cầu thang, một bảng nhỏ gắn vào tay vịn của cầu thang đập vào mắt mọi người. Nội dung khuyên mọi người phải vịn vào bên cạnh lúc lên hay xuống, đề phòng trượt chân té nhào xuống dưới cầu thang.

alt

 

Đi vòng vo tam quốc trên du thuyền khoảng một giờ, chúng tôi được thấy rất nhiều địa điểm giải trí cho những du khách nào thích thể dục thể thao. Lên hết bậc thang cuối cùng để đến tầng cao nhất của du thuyền, ngay ở cuối du thuyền là một sân bóng rổ hiện ra trước mặt chúng tôi. Nơi đây, một số thanh thiếu niên đang cùng nhau đùa vui có vẻ thoả thích. Nhìn thật kỹ thì sân bóng rổ này cũng có thể chơi được bóng chày, chơi được tennis thật là tiện lợi.

alt

 

Nhớ lại lúc bước lên cầu thang khi nhìn phía bên trái, một bảng hiệu màu tròn xuất hiện trước mặt du khách. Đọc kỹ mới biết đây là địa điểm trò chơi leo trên tường đá để các du khách muốn chơi thì dừng lại mà chuẩn bị những vật dụng, dưới sự hướng dẫn của các nhân viên chuyên nghiệp của du thuyền. Thảo nào, vừa bước xong tam cấp cuối cùng của thang lên boong tàu, chúng tôi đã thấy một bảng hình tròn mang chữ Rock Climbing Wall nằm bên trái cầu thang.

 

 

Khi đi ngang qua đây thấy bức tường đá này, chúng tôi liền dừng lại để xem. Thì ra môn “leo núi” nầy người ta đứng xem cũng khá đông nhưng thỉnh thoảng mới thấy người đến tham dự. Có lẽ vì leo cao quá nên du khách ít thích cho lắm, ngoại trừ những người hiếu kỳ hay muốn thử chơi trò giải trí này xem sao mà thôi.

alt

Du khách đang xem người leo lên tường đá

Cậu David Châu, du khách 8 tuổi nầy đã từng làm cho cô Teresa hôm qua trả lời mệt nghỉ khi cậu ta nêu lên nhiều câu hỏi suốt cuộc hành trình, liền xin cha mẹ cậu ta cho phép cậu nhảy vào cuộc chơi! Sau khi cha mẹ David Châu chấp thuận, cậu ta liền đến gặp nhân viên chuyên nghiệp về trò chơi, để được nai nịt tất cả vật dụng cần thiết ngõ hầu chuẩn bị chu đáo cho vấn đề leo lên bức tường truớc mặt. Sau khi mọi việc chuẩn bị xong xuôi, David Châu bắt đầu leo lên bức tường trước mặt trước sự huớng dẫn và cầm chắc sợi dây thừng của nhân viên chuyên nghiệp. Lúc David Châu đang cố gắng leo lên cho đến đích, gia đình của David Châu đứng dưới nhìn lên hồi hộp đợi chờ. Khi David Châu đã đến được đích và kéo chuông kêu thành tiếng, mọi người đứng dưới nhìn lên vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

alt

Nhân viên chuyên nghiệp đang chuẩn bị nai nịt an toàn cho David Châu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 alt

 

David Châu đã đến được đích.

Sau đó, một vài du khách cũng nhảy vào cuộc chơi trong đó có ba của David Châu.

alt

Sau màn leo tường đá của cháu David Châu, chúng tôi liền rủ nhau đi vòng quanh trên boong tàu để xem cảnh trời chiều giữa đại dương bao la bát ngát. Mới đi khoảng vài phút thì thấy một bàn cờ đam trước mặt. Tại đây, hai du khách một nam một nữ như đang miệt mài suy nghĩ để tìm nước đi. Bàn cờ chỉ có hai màu đen trắng nổi bật, được thực hiện trên nền xi măng choán ngay cả lối đi trên boong tàu.

alt

Hết xem đánh cờ đam, chúng tôi lại vòng qua bên trái boong tàu thì thấy du khách đang chơi trong sân golf. Sân golf nho nhỏ xinh xinh được thiết lập ở một góc nhỏ trên boong tàu, chung quanh sân được bao bọc một lớp lưới để khi chơi, banh khỏi văng xuống biển.

alt

Xem sân golf xong thì trời đã về chiều. Chúng tôi liền về phòng ăn để dùng cơm tối, đặng chuẩn bị đến hội trường Summer Palace để xem những màn ảo thuật theo chương trình đã ghi trên tờ Freestyle Daily để sẵn trên giường mỗi buổi sáng. Sau đó đúng 07 giờ 30, gia đình chúng tôi đã có mặt đầy đủ để xem ảo thuật do các nhà ảo thuật của du thuyền Norwegian Pearl biểu diễn. Đặc biệt tối hôm nay, hội trường chật ních cả du khách, không còn một ghế trống. Trong đêm trình diễn này, có nhiều màn ảo thuật mọi người đã từng xem, nhưng cũng có những màn thật ngoạn mục và kỳ lạ chưa thấy bao giờ. Đặc biệt có một ảo thuật gia dáng người không cao lắm, tài diễn xuất của anh ta thật tuyệt vời. Đặc biệt hơn nữa là chàng ta chỉ xử dụng đôi tay, đôi chân và nụ cười để biến thành ngôn ngữ giải thích cho những màn ảo thuật mà không cần nói một lời nào, làm cho du khách trong hội trường đã vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Ai đã từng xem những phim do Charlot (Charles Chaplin), kịch sĩ nổi tiếng của Pháp quốc, đóng cũng biết ông hề trứ danh này đã xử dụng toàn cơ thể từ đầu đến tay, chân, cách đi đứng, quay tới, quay lui, té xuống, đứng lên, chuyển động toàn thân v v… và chỉ nở nụ cười trên môi mà không bao giờ mở miệng nói lời nào cả. Thế mà hằng ngàn khán giả từ Đông sang Tây ai ai cũng phải khâm phục và tán thưởng nhiệt liệt, đến nỗi có nhiều nhân vật suốt đời không bao giờ cười nhưng rồi khi xem phim Charlot đóng cũng phải bật cười: đó là cựu Thủ Tướng Jawaharlal Nehru của Ấn Độ!

Ảo thuật gia của rạp hát trên du thuyền nầy dù không bằng tài diễn xuất của Charlot, nhưng cũng có rất nhiều động tác rất tuyệt vời. Vì cảm kích trước tài năng tuyệt vời này cũng như những màn ảo thuật hấp dẫn, nên tôi đã xin chụp hình chung với anh ta để làm kỷ niệm lúc tình cờ thấy anh ta đứng lấy thức ăn bên cạnh tôi.

Sau màn ảo thuật của anh ta là những màn ảo thuật của chàng và một người đẹp cũng rất ngoạn mục. Có lẽ đây là một cặp chuyên lo những màn ảo thuật thường xuyên với nhau cho du thuyền trong các buổi trình diễn văn nghệ nên họ phối hợp với nhau rất nhuần nhuyễn, thuần thục và nhanh nhẹn. Thế rồi đúng hai tiếng đồng hồ thì show ảo thuật chấm dứt. Chúng tôi liền về phòng nghỉ ngơi để sáng mai lên đường đi xem tỉnh Skagway như chương trình đã được ghi sẵn trong Freestyle Daily. Trong chuyến du lịch đến tỉnh Skagway này có đoạn đường băng qua biên giới Hoa kỳ (Alaska) và Canada. Vì vậy Ban Tham Mưu du thuyền phát một mẩu khai báo để du khách khai trước rồi nộp ngay trong đêm để sáng mai lên đường cho tiện lợi.

Sáng ngày 17 tháng 06 năm 2015, sau khi dùng điểm tâm xong, chúng tôi liền đến địa điểm đã được thông báo để làm thủ tục xuống tàu đi xem phố phường trong tỉnh Skagway. Cũng giống như thủ tục xuống tàu ngày hôm qua, chúng tôi sắp hàng nối đuôi nhau rồi trao chìa khoá phòng và thẻ căn cước cho nhân viên phụ trách, sau đó bước qua máy kiểm tra toàn cơ thể như ở phi trường là xong.

alt

Tỉnh Skagway nhìn từ trên du thuyền

 

 


Khuôn dấu

Nickname(s): " Cổng vào the Klondike"


Bản đồ tỉnh Skagway (màu đen)

Skagway là một đô thị hạng nhất tại xứ Alaska ở trên vùng đất nhô ra ngoài biển của tiểu bang Alaska. Theo bảng thống kê năm 2010, dân số tại Skagway là 920 người, ước tính năm 2014 là 1,012 người. Số dân tại tỉnh này tăng gấp đôi vào mùa hè để phục vụ cho hơn 900,000 khách du lịch đến du ngoạn. Trước đây, nột thành phố được hình thành do sự hợp nhất vào năm 1900. Sau đó tái cấu trúc như là một đô thị vào ngày 25 tháng 06 năm 2007. Hải cảng Skagway là nơi cập bến của các du thuyền và các tàu buôn. Vấn đề buôn bán của các phú thương là một trong những nguồn lợi quan trọng cho nền thương mại Skagway. The White Pass and Yukon Route narrow gauge railroad (Đèo Trắng và đường xe lửa nhỏ hẹp đến đô thị Yukon), dành cho dân đi khai mỏ tìm vàng trong quá khứ, bây giờ chỉ hoạt động thuần tuý cho thương mãi trong những tháng mùa hè mà thôi. Địa danh Skagway là nguồn cảm hứng cho Nhà văn Jack London để hoàn thành tác phẩm “The Call of The Wild” và cho Tiểu thuyết gia Joe Haldeman viết nên cuốn “Guardian”. Danh từ riêng Skagway bắt nguồn từ chữ “Shgagéi”, một thành ngữ của Tlingit mang ý nghĩa biển cả đầy sóng gió ba đào trong lạch nước ở vùng Taya do những ngọn gió Bắc phương thổi về. Skagway là một tỉnh mà trước đây cả thế giới đều biết như là một vùng có rất nhiều mỏ vàng nằm trong vùng Klondile. Xứ Klondile của Skagway là nơi núi non hiểm trở có nhiều cánh đồng đầy những mỏ vàng nên chính quyền địa phương đã thiết lập một hệ thống đường xe lửa để tiện lợi cho vấn đề di chuyển. Cách đây một, hai thế kỷ, sau khi khám phá có quá nhiều mỏ vàng tại Klondile, hàng ngàn người đã đổ xô về đây để tìm vàng. Vì thế để đến cho được vùng nầy, những người đi tìm vàng phải đi bộ rất vất vả, trèo đèo vượt suối đầy giá lạnh, băng qua sa mạc mấy mươi dặm đường mới đến được mỏ vàng mà khai thác.

alt

Dân đang đổ xô đi tìm vàng

(Hình trích từ Wikipedia)

alt

Dân đang đổ xô đi tìm vàng (năm1897)

(Hình trích từ Wikipedia)

 

 

Dân chúng rời San Francisco để đến Klondile tìm vàng. (Hình trích từ Wikipedia).

Nói là đi xem thành phố của tỉnh Skagway nhưng khi đến thành phố này cũng như đến thủ phủ Juneau của tiểu bang Alaska, du khách muốn đi đâu tùy sở thích. Người thì thích đi shopping, kẻ thì thích đi xem những di tích lịch sử, người thì muốn đi xem danh lam thắng cảnh v v…Dĩ nhiên tất cả du khách đã chọn trước lúc mua vé nên khi đến các thành phố này, du khách đã chuẩn bị tâm tư để theo các hướng dẫn viên đến những nơi mình đã chọn. Cũng như lần trước, chúng tôi ra bến xe buýt để đợi xe đến. Trong lúc đợi chờ xe, tôi đến quầy báo để sẵn tặng du khách, lấy một tờ đọc để giết thì giờ. Đọc sơ qua nội dung tờ nhật báo, tôi thấy người ta đăng quảng cáo đủ thứ chuyện liên quan đến xứ Skagway này. Vừa đọc vừa liếc mắt ra ngoài canh chừng xem xe buýt khi nào đến mà lên xe đi cho kịp với mọi người trong toán

 

alt

Các tài xế xe buýt đang cầm bảng hiệu cho các du khách thấy .

alt

Nhật báo xuất bản tại Skagway.

Khoảng mười phút sau xe đến chở chúng tôi lên đường để bắt đầu cuộc hành trình. Tài xế xe buýt kiêm hướng dẫn viên đoàn chúng tôi là một thanh niên người Mỹ tên là J J, khoảng 23 tuổi, rất đẹp trai, dễ thương, hiền hoà. Ăn nói rất khiêm tốn, nhã nhặn. Lúc leo lên xe ngồi cạnh tài xế, tôi nói nhỏ như vui đùa với tài xế rằng, anh ta hãy chuẩn bị tâm tư để trả lời khoảng một nghìn câu hỏi do một cậu nho nhỏ tên là David Châu đang ngồi ở băng ghế sau sẽ hỏi. Nghe nói như vậy, anh tài xế vừa cười vừa quay mặt phía sau nhìn xem cậu nho nhỏ có tên là David Châu là cậu nào. Sau đó anh tài xế nói với tôi rằng anh ta sẽ trả lời tất cả những câu hỏi, những thắc mắc mà cháu David sẽ hỏi, khi xe dừng lại từng thắng cảnh, từng danh lam hay dọc đường lúc xe đang chuyển bánh.

alt

Anh tài xế và cậu David Châu.

Sau khi toàn thể gia đình chúng tôi đã ngồi hết trên xe, tài xế xe buýt bắt đầu cho xe chuyển bánh. Như đã sắp xếp trước những danh lam thắng cảnh lúc đến tỉnh Skagway chúng tôi sẽ đến, tài xế cứ thế mà lái xe đến từng địa điểm theo chương trình đã định sẵn. Ngồi trên xe để đến xem từng danh lam thắng cảnh của tỉnh Skagway, tài xế vừa lái xe vừa giải thích cũng như trình bày về lịch sử và địa lý của từng địa điểm cho chúng tôi nghe. Như đã nói lúc mới lên xe buýt về một nghìn câu hỏi mà cậu David Châu sẽ hỏi, khi nghe anh tài xế trình bày xong, cậu David Châu liền hỏi ngay những điều cậu ta thắc mắc mà chẳng ngại ngùng gì cả. Vĩ đã nghe tôi dặn dò từ trước nên khi nghe cậu David ngồi ở ghế sau lưng hỏi, anh tài xế liền nhìn tôi ngồi bên cạnh rồi nhoẻn miệng cười như có ý cho tôi biết tôi nói không sai. Thế là anh tài xế từ từ trả lời cho cậu David nghe trong suốt thời gian đi xem danh lam thắng cảnh của xứ Skagway này. Theo chương trình, chúng tôi vừa đến sa mạc Caross Desert thì anh tài xế cho xe dừng lại để chúng tôi xem cảnh nơi đây.

 Sau khi thăm sa mạc Caross Desert, tài xế chở chúng tôi qua xứ Yukon. Vì địa điểm này sát biên giới Canada và xứ Yukon một phần lãnh thổ thuộc phần đất Alaska, một phần thuộc phần đất của Canada nên tài xế đã lái xe qua Canada để chúng tôi thưởng ngoạn những phong cảnh hữu tình này luôn. Lúc qua Canada thì trời đã đúng ngọ. Du khách ai cũng nghĩ là đến đây chắc trời lạnh và mưa rơi. Có ngờ đâu bầu trời lúc nầy thật đẹp với trời xanh, mây trắng và nắng hồng. Chúng tôi liền vào tiệm ăn để dùng cơm trưa. Trước khi đến Alaska, người ta bảo khi nào lên xứ này nhớ gọi ngay loại thịt Caribou vì đây là đặc sản nổi tiếng của xứ này. Nhưng vì “order” trễ quá nên loại thịt đó không còn nữa. Thế là chúng tôi chỉ mua tạm vài miếng hamburger và một vài thức ăn để dùng cơm trưa thôi. Khi chủ quán thối tiền lại, cầm tờ giấy bạc trên tay nhìn qua nhìn lại mới biết đây là tiền Canada nên cũng cầm đi luôn để làm kỷ niệm.

alt

 

Vì thực khách đã ngồi chật ních trong tiệm nên chúng tôi ra dãy bàn ghế ngoài sân để ngồi ăn. Sau khi ăn qua loa cho xong bữa ăn trưa và vì thấy nhà cửa nơi đây mang nhiều hình ảnh chạm trổ, điêu khắc kỳ kạ cũng như nhiều màu sắc chói chang và hấp dẫn, nên chúng tôi đã thả bộ vòng quanh địa điểm nầy để nhìn. Toàn bộ phong cảnh nơi đây có vẻ như là trung tâm thương xá của tỉnh lẻ. Đặc biệt nơi đây có mấy cột gỗ khắc hình người và khuôn mặt người rất kỳ lạ giống như những bộ tộc sống từ mấy thế kỷ trước. Đây là những cột thờ Tôtem, biểu tượng của những nền văn hoá của một số dân tộc bản xứ. Chúng tôi sẽ thưởng ngoạn rất nhiều cột thờ Tôtem như thế này lúc đến thăm công viên Bight State History Park trong cánh rừng thưa ở thành phố Ketchikan vào những ngày sắp tới. Nơi đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu được đầy đủ khi chứng kiến trước mắt đủ loại cột Tôtem do dân bản xứ dựng lên.

alt

alt

alt

Sau một giờ nghỉ ngơi để dùng cơm trưa, tài xế liền gọi chúng tôi tập họp lên xe để tiếp tục cuộc hành trình trong ngày. Từ Canada, xe chúng tôi lại chạy vòng vo trên núi để trở về lại Alaska. Sau khi làm thủ tục giấy tờ tại biên giới Canada và Alaska, xe chúng tôi chạy khoảng một thời gian rất ngắn thì thấy tấm bảng “Welcome to Alaska” trước mặt.

alt

alt

alt

Lối vào tỉnh Skagway giữa biên giới Canada và Alaska (Hoa Kỳ)

Chúng tôi được tài xế lái xe đến xem một thác nước nổi tiếng và đẹp mắt trên núi rừng thuộc tỉnh Skagway . Tại đây chúng tôi đã chụp thêm hình làm kỷ niệm cho chuyến đi ngày hôm nay.Sau khi say sưa chụp hình thác nước tuyệt đẹp nầy làm kỷ niệm quên cả thời gian, tài xế liền thúc giục chúng tôi lên xe để trở lại du thuyền. Trên đường về lại thành phố, chúng tôi thấy phong cảnh hai bên đường thật là ngoạn mục.

Phía dưới là thành phố Skagway nằm im lìm trong thung lũng phản chiếu ánh chiều tà trông thật đẹp mắt.

alt

(Còn tiếp)

Dương Viết Điền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ký Sự Du Lich Alaska (tiếp theo)

E-mail Print

alt 

 

Du khách vừa dùng điểm tâm vừa nhìn ca-nô đang chạy dưới biển cạnh du thyền

.alt

alt

 

Du khách thuê ca-nô, thuỷ phi cơ để du ngoạn trên biển

 

 

alt

Du khách tí hon Emily ngồi thưởng thức cà phê sát cửa kính trên du thuyền

Sau khi điểm tâm xong chúng tôi bắt đầu đi dạo một vòng khắp du thuyền cho biết xứ “bồng lai tiên cảnh”, “khách sạn mấy sao” như thế nào. Nhưng rủi thay sáng nay đang trời quang mây tạnh, nắng đẹp hiền hoà bỗng dưng lại “mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ”. Đã thế, trời lại trở gió mạnh khiến tất cả du khách chỉ ngồi nhìn ra đại dương xem cảnh mưa rơi trong nắng vàng mà thôi. Mặc dầu gió thổi mưa rơi, nhưng mấy cháu nhỏ tôi lại thích tung hoành ngang dọc trên du thuyền, nên chúng đã liều lĩnh lên boong tàu chạy tung tăng qua lại, để rồi các con tôi buộc lòng phải chạy theo chúng để canh chừng. Thấy cả gia đình tôi đều lên boong tàu cả nên tôi cũng chạy theo lên quan sát đại dương lúc mưa rơi trong nắng. Vì đi ngược chiều gió thổi nên tôi đến gần địa điểm cấm trên boong tàu mà không để ý. Vì thế khi nhìn tấm bảng gắn trước mặt, tôi lại phải đi lui ngay.

alt

 

Lúc lên đứng giữa boong tàu, tôi thấy gió thổi quá mạnh, không một bóng người, mưa vẫn rơi rơi làm cho các cháu nhỏ vừa chạy vừa đùa giởn ra vẻ thích thú. Thấy tình trạng này không được tốt cho lắm vì sợ các cháu dầm nước mưa nên nhân danh là “tổng tư lệnh”, tôi bắt tất cả tìm chỗ trú mưa, không được chạy tung tăng trong mưa gió nữa.

Khoảng nửa giờ sau thì đã hết mưa, rồi trời quang mây tạnh. Gia đình chúng tôi bắt đầu đi vòng quanh du thuyền, đến các phòng ốc đặc biệt để thưởng ngoạn rồi cứ thấy phòng nào gần, chúng tôi vào trước, phòng nào xa chúng tôi sẽ đến sau. Tình cờ đang đi bỗng thấy phòng ART GALLERGY & INTERNET CAFÉ trước mặt nên chúng tôi liền vào xem phòng này trước.

alt

 

Đây là phòng trưng bày những bức ảnh do một số họa sĩ nổi tiếng sáng tác. Nhiều bức ảnh trông rất hấp dẫn, những bức khác trông thật đẹp mắt. Thôi thì đủ các trường phái như siêu thực, tượng trưng, lập thể v v…Nhiều bức ảnh có đề chữ “sold out” ở phía dưới chứng tỏ đã có người đặt cọc mua rồi. Hầu hết những bức ảnh mang nhiều màu sắc loè loẹt, chói chang làm loá mắt cả người xem. Đối diện với những bức ảnh là một vài bàn đặt computer trên đó để cho du khách ai muốn xử dụng computer thì cứ tự nhiên ngồi vào mà dùng. Dĩ nhiên phải trả tiền theo giá cả xuất hiện trên màn ảnh computer. Nếu muốn mỗi phút 50 cent thì mất 125$ trong trong 250 phút, mỗi phút 75 cent thì mất 75$ trong 100 phút và 24$99 cho một ngày không giới hạn thời gian theo ấn định của Ban Tham Mưu trên du thuyền.

 

alt

alt

alt

Du khách đang xem tranh ảnh trong Art Gallery.

Bước ra khỏi phòng Art Gallery là đến phòng trà ngay. Phòng này tương đối đẹp mắt, lãng mạn đầy nghệ sĩ tính. Một màn ảnh thật lớn trong phòng để máy chiếu khuếch đại hình ảnh của các nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu nằm trước mặt.Tại đây ban nhạc của du thuyền trình diễn thường xuyên cho du khách đến thưởng thức. Cũng như nhiều show hài hước hay trò chơi cho các trẻ nhỏ để giải trí cho du khách từng giờ.

alt

 

Một cầu thang bằng nhôm đã được thiết lập từ phòng nghe nhạc lên tầng trên, để du khách nào muốn lên ngồi nghe nhạc trên ấy thì cứ tự nhiên như người Hà nội, với những chậu cây hoa lá cành thật thơ mộng nằm cuối cầu thang. Nhiều cặp tình nhân du khách trẻ tuổi đến đây thấy phòng này có vẻ ấm cúng và lãng mạn nên ngồi nghe nhạc suốt ngày. Họ thường ngồi ở tầng trên để vừa nhâm nhi cà phê, vừa nghe nhạc cổ điển Tây phương của Mozart, Bethoveen, Strauss, Chopin, Tchaikovsky, v v…, vừa nhìn sóng biển đang xô đuổi nhau giữa lòng đại dương dưới ánh nắng vàng. Lắm lúc có nhiều trò chơi tiêu khiển dành cho giới trẻ, hay hai nhân viên thuộc ngành hoả đầu vụ biểu diễn trên sân khấu làm cho du khách ngồi uống cà phê nơi đây được nhiều phen cười đùa thoả thích. Nhiều lần khán giả vỗ tay hoan hô nhiệt liệt vang dội cả một góc du thuyền. Nhiều du khách khoái chí kêu bia hay rượu uống thay vì gọi cà phê khi thấy hai nhân vật đóng kịch quá hấp dẫn và tài tình.

alt

Sau khi rời phòng trà để đến những địa điểm giải trí khác, vừa đi khoảng một phút, tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy một cô gái ngồi uống cà phê chỉ một mình thôi giống hệt như chiều hôm qua, khi đi ngang qua đây, tôi cũng thấy cô ta chỉ ngồi một mình. Đi du lịch mà thơ thẩn một mình chắc phải có uẩn khúc gì đây về cuộc sống chăng? Hay vì tuyệt vọng về chuyện tình yêu đôi lứa? Nói đến tình tuyệt vọng, tôi bỗng nhớ đến bài thơ “Sonnet” của Thi Sĩ nổi tiếng người Pháp là Alexis Félix Arvers, sinh năm 1805, qua đời năm1850. Ông có xuất bản tập thơ “Mes heures perdues” nhưng ít người biết đến. Thi Sĩ Alexis Félix Arvers chỉ nổi tiếng nhờ bài thơ “Sonnet”mà thôi. Nhờ cảm hứng thình lình mà ông ta đã sáng tác nên bài thơ này.Thấy cô gái kia buồn bã ngồi nhìn ra biển cả bao la, tôi như cảm thông được chuyện tình buồn vời vợi của nàng, nên vừa đi vừa đọc bài thơ “Sonnet” của Thi Sĩ Alex Félix Arvers đầy cay đắng, ngậm ngùi.

alt

Cô gái buồn bã ngồi nhìn ra biển cả bao la.

 

S O N N E T

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un amour éternel en un moment conçu.
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.

Hélas ! J’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire.
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.

Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.

A l’austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle:
-“Quelle est donc cette femme?” et ne comprendra pas.

Alexis Félix Arvers

TÌNH TUYỆT VỌNG

Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi ! Người đó ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên,
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng :
“Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?”


Khái Hưng dịch

Nhìn đồng hồ đã thấy 12 giờ 00 trưa thảo nào nghe như kiến bò trong bụng. Chúng tôi liền từ giã phòng Art Gallery & Internet Café để đến phòng ăn dùng cơm trưa. Cũng như ngày hôm qua, chúng tôi cũng đến phòng ăn cũ ở tầng 12 để dùng cơm. Mấy ngày trước vì mới lên du thuyền nên ăn uống xong rồi về phòng nằm nghỉ. Hôm nay rảnh rỗi nên tôi vừa lấy thức ăn vừa quan sát khắp nơi tại phòng ăn cũng như tại địa điểm hoả đầu vụ. Thực khách đến lấy thức ăn đủ mọi thành phần chủng tộc ở khắp các lục địa: Á châu, Úc châu, Phi châu, Âu châu, Mỹ châu. Mỗi dân tộc nói một thứ tiếng khác nhau và cách ăn mặc cũng biểu lộ những nét đặc trưng của từng chủng tộc, từng quốc gia. Tại quầy thức ăn, rất nhiều nơi bày loại cá Hồi kho, canh, chiên, xào cho du khách thưởng thức vì vùng nầy là thủ đô cá Hồi của tiểu bang Alaska, coi như là đặc sản. Đến Alaska mà không ăn ca Hồi là một thiếu sót không thể tha thứ được đối với dân sành điệu về thức ăn.

Sau khi chọn bàn ăn xong, ai nấy đến nơi quầy thức ăn để lấy đồ ăn. Thôi thì tha hồ mà lựa chọn. Ai muốn ăn gì cứ lấy vá để sẵn rồi múc thức ăn vào dĩa xong qua thức ăn khác, giống như ăn theo kiểu buffet vậy. Kẻ đến người đi tới lui tấp nập, ngày nào cũng như ngày nào cứ mỗi lần đến giờ ăn cơm. Nhiều khi suýt đụng nhau rồi xin lỗi lia lịa vì người thì đông mà đường đi thì hẹp. Tại quầy lấy thức ăn, nhân viên hoả đầu vụ trang hoàng nhiều cảnh thật đẹp mắt. Nhiều trái dưa hấu, trái bí được khắc rồi đẽo gọt thành khuôn mặt con người, trên đầu đội thêm một cái mũ trông thật vui mắt. Bên cạnh, người ta đặt thêm đủ loại trái cây như cam, nho, táo, mận, đào v v… làm cho quầy thức ăn tráng miệng thêm phần linh động bên cạnh những quầy rau, trái cây, bánh v v…

alt

alt

alt

alt

Người lớn tuổi đi lấy thức ăn là chyện thường tình, nhưng các cháu nhỏ cũng rủ nhau đi lấy thức ăn rất là vui và thật dễ thương. Nhiều cháu ăn xong lại đến các quầy lấy đồ ăn tráng miệng hay xin các nhân viên tại quầy các loại kem để dùng.

 

alt

Sau khi dùng cơm trưa xong chúng tôi liền về phòng nằm nghỉ mặc dầu có nhiều chương trình văn nghệ do du thuyền tổ chức ở các phòng khác như đã thông báo trước.

Khoảng 04 giờ chiều gia đình tôi liền rủ nhau đi dạo trong du thuyền để đến xem những phòng đặc biệt khác. Riêng tôi lại nhớ đến thời gian tập thể dục mỗi buổi chiều ở nhà. Vì vậy tôi liền tách rời gia đình để vào trung tâm thể dục của du thuyền, ngồi trên máy đạp vài chục vòng cho khí huyết được lưu thông may ra kéo dài tuổi thọ thêm vài tháng nữa chăng! Vừa đến địa điểm gần vào cửa trung tâm thể dục, tôi thấy một cô gái người Mỹ đang đứng nói gì với hai ba du khách. Đến gần mới biết đây là chuyên viên hướng dẫn phương pháp làm sao để biết mình đi không đúng với trọng lượng cơ thể của mình bằng cách đứng trên một cái máy, sau đó nhấc chân của mình lên rồi dẫm trên một tờ giấy trắng. Hình dưới bàn chân của mình sẽ hiện trên tờ giấy trắng và nhìn dấu bàn chân trên giấy, cô ta sẽ giải thích cho mình nên đi như thế nào cho đúng với trọng lượng cơ thể của mình. Phụ trách việc phân tích dấu chân miễn phí này là một cặp thanh niên nam và nữ rất khả ái, dễ thương và hoạt bát. Chàng tên là Kevin, nàng tên là Elme.Cứ mỗi lần lấy dấu chân của một du khách nào, chàng và nàng chuyên viên giải thích rất rõ ràng và khuyên du khách có dấu bàn chân trên giấy, cố gắng tập tành như thế nào để vấn đề đi đứng trở lại bình thường với cơ thể của mình. Tuy nhiên không phải ai cũng muốn đến đây để “đo lường” cơ thể. Vì thỉnh thoảng mới có vài du khách đi ngang qua đây dừng lại xem rồi bỏ đi xem nơi khác vui thú và nhộn nhịp hơn. Dĩ nhiên có nhiều người, vì vấn đề đi đứng không được cân đối, nên đã nhờ cô Elme giải thích rõ ràng và cẩn thận hơn.    

alt              

alt

 

Hai chuyên viên phân tích dấu bàn chân

Thấy vậy tôi cũng đến xin cô ta đứng trên máy rồi dẫm chân trên hai tờ giấy trắng, xong lấy kết quả hai dấu bàn chân trên hai tờ giấy trắng bỏ vào túi làm kỷ niệm rồi vào phòng tập thể dục.

Phòng tập thể dục có rất nhiều máy đặt dọc theo cửa kính của du thuyền nên du khách vừa tập vừa có thể nhìn ra biển cả bao la bát ngát. Mỗi máy lại có một TV nho nhỏ gắn trước mặt nên khi tập, du khách có thể xem tin tức hay muốn đài nào thì thay đổi tuỳ mình. Tuy nhiên, hầu hết người ta thường thông báo tin tức về thời tiết, giờ giấc trên du thuyền cho du khách biết nhiều hơn.

 

alt

 

Du khách đang tập thể dục tại trung tâm

 

 

alt

 

Du khách đang ngồi trên máy tập và xem đá banh trên TV.

Sau khi tập thể dục khoảng một tiếng đồng hồ, tôi liền vào phòng tắm rửa để về cùng gia đình đi ăn cơm chiều và chuẩn bị đến hội trường đêm qua để xem show ảo thuật như đã thông báo trong tờ Freestyle Daily.

Chương trình văn nghệ tối nay thật là hấp dẫn. Đặc biệt và xuất sắc nhất là những màn ảo thuật do nam nữ ảo thuật gia của du thuyền Norwegian Pearl diễn xuất bao sân. Hai anh chị ảo thuật gia nầy đã trình diễn những màn ảo thuật mới lạ khác thường, với tài diễn xuất rất linh động, nhanh nhẹn, mềm dẻo, làm cho khán giả say mê từ đầu đến cuối; và khán giả luôn luôn tặng cho hai ảo thuật gia này những tràng pháo tay làm vang dội cả hội trường.

Ngày kế tiếp là thứ ba, 16 tháng 06 năm 2015, đọc trên tờ Freestyle Daily chúng tôi được biết hôm nay, du khách trên thuyền sẽ xuống thăm thành phố đầu tiên của tiểu bang Alaska vì du thuyền đã đến tiểu bang Alaska rồi. Đó là thành phố Juneau: thủ phủ của tiểu bang Alaska.

Được biết The City and Borough of Juneau là thủ phủ của tiểu bang Alaska. Đây là đô thị hợp nhất tọa lạc trên Gastineau Channel trong vùng đất nhô ra ngoài biển của Alaska. Và là thành phố thứ hai lớn nhất của Hoa kỳ. Juneau là thủ phủ của Alaska từ năm 1906 lúc cơ cấu hành chánh của vùng Alaska di chuyển về từ Sitka do quốc hội chấp thuận từ năm 1900. Đô thị đã hợp nhất vào ngày 01 tháng 07 năm 1970 lúc thành phố Juneau, thành phố Douglas và Borough sáp nhập vào một. Juneau rộng hơn Rhode Island và Delaware, nhưng lại gần bằng hai tiểu bang này kết hợp lại. Theo bảng thống kê vào năm 2010, dân số Juneau là 31,2715 người. Đến năm 2013, dân số đã lên đến 32,660 theo bảng thống kê dân số của Hoa kỳ. Đây là thành phố thứ hai đông dân nhất tại Alaska sau Anchorage. Từ giữa tháng 05 đến tháng 09, dân số tăng lên khoảng 6000 người do du khách đến du ngoạn từ các du thuyền. Danh xưng của thành phố được đặt tên giống như tên của một người đi tìm vàng là Joe Juneau mặc dầu lần đầu tiên, nơi đây được gọi là Rockwell sau đó là Harrisburg.

Sau khi làm thủ tục giấy tờ, chúng tôi theo đoàn người xuống tàu đứng chờ xe buýt chở đến địa điểm xem tuyết phủ trên núi. Tại đây, nếu du khách nào không đi xem danh lam thắng cảnh thì tham dự cuộc đấu giá về những tác phẩm văn học nghệ thuật do du thuyền tổ chức, như chúng tôi đã được thông báo tối qua bằng một tờ giấy do người bồi phòng để sẵn trên giường. Riêng những du khách nào thuê ca nô hay thuỷ phi cơ, hoặc chọn những địa điểm thích thú khác thì cũng xuống tàu một lần rồi bắt đầu xuất phát cũng tại bến cảng này luôn.

Vì có rất nhiều toán của nhiều du thuyền cùng đi xem danh lam thắng cảnh. Vì vậy các hướng dẫn viên của các du thuyền đứng cầm bảng của du thuyền mình để du khách thấy mà tìm đến. Riêng toán chúng tôi cứ tìm nhân viên nào cầm bảng có tên mang du thuyền Norwegian Pearl thì đó chính hiệu con nai vàng là người hướng dẫn cho toán chúng tôi.

 

alt

Du khách đang chờ xe buýt đến.

alt

 

alt

 

Bến xe buýt tại địa điểm du khách đến thưởng ngoạn.

Người hướng dẫn đoàn chúng tôi là một cô gái còn trẻ khoảng 23 tuổi tên là Teresa. Cô ta ăn nói thật duyên dáng và có vẻ thông thạo địa hình địa vật nơi đây. Xe buýt chạy vòng vo khoảng mười lăm phút rồi dừng lại bên một cánh rừng thưa. Chúng tôi tất cả đều xuống xe để băng qua rừng đến địa điểm nhìn tuyết phủ trên núi suốt tháng quanh năm. Được biết dãy băng hà The Grand Pacific Glacier này đóng thành băng đã 200 năm rồi. Chiều dài khoảng 1,200m, chiều rộng khoảng 32 km. Nơi đây, cứ mỗi ngày có 2 du thuyền, 3 chiếc ca nô, 6 tàu thuỷ, 25 chiếc thuyền của tư nhân cập bến vào mùa hè chở khách du lịch đến. Theo bảng thống kê của The National Park Service năm 2009, có khoảng 444,653 du khách đến du lịch ở đây vào mùa hè.

alt

Cô Teresa, hướng dẫn viên, đang chuyện trò với cháu David Châu trong đoàn chúng tôi.

Lúc đi bộ băng qua rừng thưa, thỉnh thoảng cô Teresa dừng lại chỉ vào mấy mô đất nho nhỏ phủ đầy một số rong, tảo, rồi giải thích về sự hình thành và phát triển kỳ lạ của loài cây này cho chúng tôi nghe. Có một du khách nho nhỏ khoảng 8 tuổi tên David Châu, là nhân vật thường xuyên đặt câu hỏi với cô hướng dẫn viên Teresa này khiến cô Teresa cảm thấy thích thú vì có người nêu câu hỏi để cho cô ta có việc làm! Cô ta cũng lấy làm ngạc nhiên khi cả đoàn có rất nhiều người lớn mà chỉ có cậu bé nho nhỏ này hỏi cô ta thôi. Đoán được đây là một cậu bé thích sưu tầm và học hỏi về những điều mới lạ nên khi nghe David Châu hỏi câu nào, cô ta trả lời câu nấy rất rõ ràng cho cậu ta nghe.

 

alt 

Cô Teresa đang giải thích sự phát triển cây rong, tảo cho cậu David Châu và các em của David nghe.

Sau khoảng 30 phút băng qua rừng thưa và nghe cô Teresa giải thích sự hình thành và phát triển của một số loài thảo mộc đặc biệt, đoàn chúng tôi đã đến ven biển nên cô hướng dẫn viên cho đoàn dừng lại. Tại đây, cô Teresa chỉ cho chúng tôi thấy dãy núi bên kia eo biển bị tuyết phủ ngập thường xuyên quanh năm suốt tháng.

alt

 

Dưới biển nổi trên mặt nước là những khối băng nho nhỏ nằm trơ gan cùng tuế nguyệt suốt tháng quanh năm và chỉ tan ra khi trời nắng gắt mà thôi. Thấy một khối băng nho nhỏ nằm ngay sát bờ, chúng tôi liền cầm lên quan sát rồi thay nhau chụp hình làm kỷ niệm, bởi mấy khi lên được xứ lạnh cóng triền miên ở tận vùng Bắc cực nầy.

alt

(Còn tiếp)

 

 

 

Ký Sự Du Lịch Alaska

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

 

KÝ SỰ DU LỊCH ALASKA

 

alt

 


 

 

 alt

 

Được biết Alaska là tiểu bang của Hoa kỳ nằm về phía Tây Bắc của lục địa Bắc Mỹ. Biên giới phía Đông là thị trấn Yukon và tỉnh British Columbia nằm trong lãnh thổ Gia Nã Đại. Phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Tây và Nam giáp Thái Bình Dương. Alaska là tiểu bang lớn nhất của Hoa Kỳ. Khoảng một nửa dân số (735.132 người) sống tại đô thị Anchorage. Thủ đô là Juneau. Kinh tế của Alaska chuyên về dầu lửa, hơi đốt và ngư nghiệp. Du lịch cũng chiếm một vị trí quan trọng cho nền kinh tế của tiểu bang này. Mặc dầu hằng ngàn năm trước đây, Alaska do thổ dân nơi đây làm chủ, nhưng từ thế kỷ thứ 18 trở về sau, các cường quốc Âu châu đến đây chiếm đóng để khai thác và buôn bán làm ăn. Hoa kỳ đã mua Alaska của Đế quốc Nga vào ngày 30 tháng 03 năm 1867 với giá 7.2 triệu dollars, khoảng 2 cent một mẫu Anh ($4.74/km2). Nhiều cơ quan hành chánh đổi thay tại xứ này trước khi trở thành lãnh thổ chính thức vào ngày 11 tháng 05 năm 1912. Alaska chính thức được thừa nhận là tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ vào ngày 03 tháng 01 năm 1959. Một vài sự kiện đặc biệt tại Alaska là nhiều lúc trăng tròn đúng 12 giờ trưa, đúng ngọ. Có khi quá 30 ngày mặt trời không lặn, không có đêm. Tại Ketchikan, mưa quanh năm suốt tháng đúng 365 ngày. Và lắm lúc mưa bụi trong nắng gọi là liquid sunshine. Ngoài ra lại có chuyện tuyết ngược nữa: gió thổi mạnh làm tuyết bay lên trời, đến nơi khác tuyết lại rơi xuống đất.

Để độc giả biết thêm một vài chi tiết nữa về Alaska, tôi xin đăng bài sau đây của Dịch giả Phạm Khánh lấy từ trên mạng :

“Tại sao Nga lại bán “Miếng Đất Vàng” Alaska cho Hoa kỳ ?”

“Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng: Mỹ đã ăn cướp Alaska từ Nga, hoặc chỉ mới thuê lãnh thổ này, mà đến một lúc nào đó sẽ trả lại. Tuy nhiên, sự thật là Nga đã bán Alaska cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD vào năm 1867.


Tờ séc được dùng để trả tiền mua Alaska, mang mệnh giá 7,2 triệu dollar Mỹ. Source upsieutoc.com

Có một điều nhiều người không hiểu là tại sao Nga lại bán miếng đất đầy vàng Alaska cho Mỹ? TờRussia Beyond the Headlines (RBTH) của Nga đã có một bài phân tích về sự kiện trên.

Alaska trước khi bán :

Trong thế kỷ 19, Alaska của Nga là một Trung tâm thương mại thế giới. Tại thủ phủ Novoarkhangelsk (nay là Sitka) của Alaska, các hoạt động giao dịch diễn ra rất nhộn nhịp với các mặt hàng như: vải Tàu Chệt, trà, và thậm chí là nước đá đông đặc, mặt hàng mà miền Nam nước Mỹ rất cần trước khi phát minh ra tủ lạnh. Ở đây cũng phát triển ngành đóng tàu, và có rất nhiều nhà máy, cũng như rất nhiều mỏ vàng. Do đó, việc bán vùng đất này được coi là một điều điên rồ.

Các thương nhân Nga kéo tới Alaska để mua ngà hải mã (một loại ngà đắt tiền như ngà voi) và lông rái cá biển có giá trị từ người dân địa phương.

Các giao dịch thương mại được kiểm soát bởi các Công ty Nga-Mỹ (RAC), do các nhà thám hiểm và doanh nhân Nga thành lập từ thế kỷ 18. Công ty này cũng kiểm soát tất cả các mỏ, và khoáng sản của Alaska. Nó có thể ký hiệp định thương mại với các nước khác một cách độc lập, có lá cờ, và tiền tệ riêng.

Sa Hoàng cấp cho công ty này những đặc quyền trên. Tuy nhiên, chính phủ không chỉ thu các khoản thuế lớn, mà còn làm chủ một phần lớn công ty này – Sa Hoàng và các thành viên trong gia đình là cổ đông của RAC.

Ông đã xây dựng trường học và các nhà máy, dạy dân địa phương cách trồng củ cải và khoai tây, xây dựng pháo đài, và nhà máy đóng tàu, mở rộng các hoạt động buôn bán rái cá biển. Ông yêu mến Alaska không chỉ vì nơi này giúp ông kiếm được nhiều tiền, mà còn bằng tình yêu thực sự nữa .

Dưới sự lãnh đạo của Baranov, RAC có khoản doanh thu khổng lồ: hơn 1.000 % lợi nhuận. Khi Baranov nghỉ hưu, và rời bỏ vị trí của mình, Sĩ quan quân đội Hagemeister đã lên thay ông. Hagemeister đã tuyển thêm nhiều nhân viên, và cổ đông mới trong quân đội. Thay vì việc chú trọng đến việc điều hành và phát triển công ty, ông này lại tìm cách chiếm đoạt lợi nhuận kinh doanh, và chính những hành động đó đã hủy hoại RAC.

Lợi lộc bẩn thỉu :

Ban lãnh đạo mới của công ty này đã tự cho mình mức lương khổng lồ, những nhân viên quản lý thông thường có thể kiếm tới 1.500 rúp mỗi năm (tương đương với mức lương của các Bộ trưởng và các Thượng nghị sĩ), trong khi người đứng đầu của công ty có mức lương tới 150.000 rúp. Họ mua lông thú từ người dân địa phương với giá chỉ bằng một nửa. Kết quả, trong 20 năm sau, người dân ở đây đã giết chết gần như tất cả các con rái cá biển, khiến cho ngành thương mại có lợi nhuận nhất của Alaska bị dập tắt.

Trước tình hình đó, RAC bắt đầu tìm kiếm các nguồn thu nhập khác. Do đó việc buôn bán đá đông, và trà bắt đầu, nhưng những người lãnh đạo lại không đủ sức điều hành tốt công ty và cũng không bao giờ nghĩ đến việc giảm lương của chính mình. Kết quả, RAC đã phải nhận trợ cấp của nhà nước – 200.000 rúp mỗi năm. Nhưng cuối cùng công ty này cũng bị phá sản.

Sau đó, Chiến tranh Crimea (1853-1856) nổ ra, Anh, Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ cùng chống lại Nga. Với tình huống đó Nga không thể cung cấp cũng như bảo vệ Alaska, vì các tuyến đường biển ở đó đã bị kiểm soát bởi các tàu của quân đồng minh. Thậm chí cũng không thể khai thác vàng ỏ đây. Nga lo sợ rằng Alaska sẽ bị Anh cướp mất, và Nga sẽ chẳng được lợi lộc gì.

Căng thẳng giữa Moscow, và London tăng lên, trong khi mối quan hệ với các nhà chức trách Mỹ đang êm ấm hơn bao giờ hết. Cả hai gần như cùng có ý tưởng mua bán Alaska. Vì vậy Baron Eduard de Stoeckl, phái viên của Nga tại Washington, đã thay mặt Sa Hoàng mở cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ William Seward.

Trong khi hai bên đang đàm phán, dư luận ở cả hai nước cùng phản đối thỏa thuận trên. Các phương tiện Nga tràn ngập những câu hỏi như: “Sao chúng ta có thể từ bỏ vùng đất mà chúng ta đã bỏ rất nhiều công sức và thời gian để phát triển, vùng đất đã có kết nối điện báo, và có nhiều vàng?”. Trong khi truyền thông Mỹ thì phẫn nộ: “Tại sao Mỹ cần vùng đất băng giá đó hả ?”.

Không chỉ có báo chí, Quốc hội Mỹ cũng không chấp thuận việc mua bán này. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những bất đồng đó, ngày 30/3/1867, tại Washington, hai bên đã ký thỏa thuận bán Alaska với diện tích 1,5 triệu ha cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD, một khoản tiền được cho là chỉ mang tính tượng trưng.

Ở thời điểm đó, một vùng đất bình thường ở Siberia với diện tích tương tự có thể có giá gấp 1395 lần. Nhưng khi đang phải đối mặt với tình cảnh sẽ bị mất Alaska, mà không kiếm được đồng xu nào, thì có vẻ như việc chấp thuận thỏa thuận trên vẫn là một giải pháp tốt hơn nhiều đối với Nga.

 Việc bàn giao chính thức Alaska cho Mỹ được thực hiện ở Novoarkhangelsk. Những người lính Mỹ và Nga xếp hàng bên cạnh cột cờ, lá cờ Nga bị hạ xuống, và được đánh dấu bằng phát súng đại bác. Sau đó, người Mỹ đã đổi tên thủ phủ Novoarkhangelsk thành Sitka. Hàng trăm người Nga quyết định không lấy quốc tịch Mỹ, đã phải đi khỏi khu vực này bằng tàu buôn.

Một thời gian ngắn trôi qua, vàng đã bắt đầu được khai khác. Các cơn sốt vàng bắt đầu nổi lên ở Alaska, giúp người Mỹ kiếm được hàng trăm triệu USD”.

( Phạm Khánh dịch).

 

Tiểu bang Alaska

 

 alt

 

 

alt

 

 

Lá cờ của Tiểu Bang Alaska

 

Bill Walker

(Thống Đốc Tiểu Bang Alaska, 2015)

 

 

Quốc ca của Alaska

 

 

"Alaska's Flag"

Written by Marie Drake
Composed by Elinor Dusenbury

Adopted on February 23 1955.

1st Verse of Alaska's Flag Song

Eight stars of gold on a field of blue,
Alaska's flag, may it mean to you,
The blue of the sea, the evening sky,
The mountain lakes and the flowers nearby,
The gold of the early sourdough's dreams,
The precious gold of the hills and streams,
The brilliant stars in the northern sky,
The "Bear," the "Dipper," and shining high,
The great North Star with its steady light,
O'er land and sea a beacon bright,
Alaska's flag to Alaskans dear,
The simple flag of a last frontier.

 

 

2nd Verse of Alaska's Flag Song
-- Words by Carol Beery Davis



A Native lad chose the Dipper's stars
For Alaska's flag that there be no bars
Among our culture. Let it be known
Through years the Native's past has grown
To share life's treasures, hand in hand,
To keep Alaska our Great-Land;
We love the northern midnight sky,
The mountains, lakes and streams nearby.
The great North Star with its steady light
Will guide all cultures, clear and bright,
With nature's flag to Alaskans dear,
The simple flag of the last frontier.

(Trích từ Wikipedia)

alt

alt

 

 

 

(Trích từ Wikipedia)

Chiếc máy bay hãng hàng không Alaska chở khoảng 200 trăm hành khách cất cánh từ phi trường Los Angeles lúc 07:00 giờ sáng và đến phi trường Seattle lúc 09 giờ 30. Lúc bước chân vào máy bay, tôi nhìn số ghế trên vé máy bay để tìm chỗ ngồi.

Đi mãi đi hoài vẫn chưa thấy cho đến khi còn cách phòng vệ sinh ở đuôi máy bay hai dãy ghế mới thấy chỗ ngồi! Điều này làm tôi chợt nghĩ bông đùa rằng, mình có làm gì Tổng Thống Barack Obama giận đâu mà Tổng Thống Obama bắt mình ngồi ở đuôi máy bay giống như trước đây, cựu Tổng Thống Bill Clinton để cho ông cựu chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich ngồi ở đuôi máy bay để máy bay lắc cho bỏ ghét trong chuyến đi tham dự hội nghị năm nào! Sau này hỏi cô con gái tôi mới biết rằng, sở dĩ phải lấy vé cả gia đình ngồi ở đuôi máy bay vì cả hai gia đình con tôi đều có các cháu còn nhỏ dại. Con cái suy tính như thế thì thật là hay nếu không nói là quá tuyệt vời. Mỗi lần các cháu cần đi vệ sinh, chỉ việc bước ba bước là đến nơi, khỏi phải làm phiền hành khách trên tàu. Sau hai tiếng rưỡi lướt gió tung trời, máy bay hạ cánh xuống phi trường Seattle lúc trời còn nắng ấm. Sau khi lấy hành lý và liên lạc với công ty xe buýt, khoảng mười lăm phút sau xe buýt đến chở gia đình chúng tôi đến hải cảng Seattle. Xe chạy vòng vo tam quốc qua nhiều đại lộ của thành phố Seattle khoảng mấy mươi phút rồi dừng ngay trên bến cảng. Các con tôi chọn đi du lịch trên Alaska bằng du thuyền nên khi xe buýt chở chúng tôi dừng lại trên bến cảng, chúng tôi đã thấy chiếc du thuyền vĩ đại đang thả neo trong hải cảng nằm sừng sững trước mặt với ba chữ NCL thật lớn trên tầng cao nhất của du thuyền. NCL là ba chữ viết tắt của NORWEGIAN CRUISE LINE.

alt

Sau đó, chúng tôi theo đoàn du khách làm thủ tục lên tàu để chuẩn bị đi du lịch trên tiểu bang Alaska. Ở tại tiểu bang California, tôi nghe người ta nói Seattle là xứ mưa rơi ảm đạm quanh năm suốt tháng giống như mùa mưa ở xứ Huế vậy. Ai cũng biết rằng cứ mỗi lần mưa bay về trên xứ Huế, cảnh vật sao mà buồn bã đến nỗi Thi sĩ Nguyễn Bính đã phải hạ bút viết mấy dòng thơ bất hủ:

“Trời mưa xứ Huế sao buồn quá

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Nhớ ai ai nhớ mà thương nhớ…”

Thế nên mặc dầu biết là mưa quanh năm suốt tháng, mặc dầu biết cảnh vật thật buồn bã đìu hiu, nhưng cũng đi một chuyến thử xem sao. Tuy nhiên lúc máy bay hạ cánh xuống phi trường cũng như lúc xe buýt chở chúng tôi đi trong thành phố, nhìn lên cao, chúng tôi thấy trời sao mà đẹp quá. Bầu trời thì xanh ngắt, lại có mấy trắng và cả nắng hồng. Có lẽ lúc xuất hành, chúng tôi đi đúng giờ hoàng đạo nên đã gặp may là trời không mưa chăng? Lúc du khách di chuyển lên du thuyền, chúng tôi đi ngang một địa điểm có một nhiếp ảnh gia đứng chờ sẵn để chụp hình cho từng gia đình làm kỷ niệm. Sau này nếu du khách nào muốn có hình kỷ niệm đó, cứ đến phòng Photos Gallery trên du thuyền tìm hình mình rồi trả 24$95 và lấy hình về, như nội dung in trong tấm thiệp người nhiếp ảnh gia trao cho chúng tôi.

alt

Để tiện việc liên lạc và gặp nhau nhanh chóng, con tôi đã chọn 3 phòng tương đối gần nhau trên du thuyền. Sau khi sắp xếp và di chuyển hành lý vào trong phòng, chúng tôi liền kéo nhau ra ngoài phòng ăn để dùng cơm trưa. Vì con cái tôi đã chuẩn bị trước tất cả mọi vấn đề từ tiền vé đi du lịch, tiền ăn, tiền xe buýt v v…lúc bắt đầu mua vé, nên gia đình chúng tôi ngồi vào bàn ăn một cách tự nhiên như những du khách khác. Giờ đây, khung cảnh phố phường đầy bụi bặm và ồn ào vì xe cộ tấp nập qua lại đã biến mất, nhường chỗ cho cảnh đẹp tuyệt trần xuất hiện trước mắt du khách khi vừa ngồi dùng cơm trưa trên du thuyền, vừa nhìn ra biển cả bao la bát ngát thấy sóng biển nhấp nhô trắng xoá xô đuổi nhau chạy xa tít tận chân trời.

alt

Dùng cơm trưa xong chúng tôi liền vào phòng nghỉ ngơi ngay vì từ sáng sớm cho đến bây giờ đã phải lên máy bay, xuống tàu, lên xe buýt khiến người nào cũng mệt mỏi và buồn ngủ. Bước vào phòng ngủ trên du thuyền, tôi thấy cách trang trí trong phòng ốc tương đối cũng ngăn nắp, gọn gàng. Phòng có hai giường nhỏ, một TV, một bàn trang điểm, một tủ đựng áo quần, một kệ đựng khay với hai ly thuỷ tinh và một bình đựng nước. Một nhà cầu và phòng tắm nho nhỏ xinh xinh với khăn tắm treo rất gọn gàng. Trên tường treo mấy bức tranh với nhiều màu sắc thật đẹp. Một máy điện thoại để sát đầu giường ngủ để du khách liên lạc với thân nhân và bạn bè khi cần. Đặc biệt, trong học dưới bàn để bình nước và hai ly có một cuốn thánh kinh bìa màu đen để cho các du khách theo đạo Công giáo xử dụng.

Trên giường có một tờ giấy khổ rộng khoảng 8,5x11 với hai chữ FREESTYLE DAILY nằm trên cùng. Nội dung bằng Anh ngữ, thông báo cho du khách chương trình ăn uống, giải trí, địa điểm cần thiết trên du thyền để du khách có thể theo đó mà đến tham dự. Thôi thì đủ thứ giải trí như trong một đô thị sầm uất: hồ bơi, casino, khu tập thể dục, sân chơi bóng rổ, tennis, bóng bàn, phòng nghe nhạc, sân chơi golf, quầy uống rượu, thư viện, hội trường tình diễn văn nghệ, trung tâm thương mãi, phòng triển lãm tranh ảnh, nhà hàng. Ngoài những chi tiết trên, các địa điểm để du khách sắp đi thăm viếng và thưởng ngoạn cũng được chỉ dẫn và thông báo rất rõ ràng trong FREESTYLE DAILY. Cạnh tờ giấy này có một mảnh giấy nhỏ hơn với nội dung đón chào du khách lên du thuyền để đi du ngoạn tại Alaska. Nội dung trong mảnh giấy nhỏ nầy đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến sinh hoạt lúc mới lên tàu.

alt

alt

Phía bên trái mẩu giấy nầy là một mảnh giấy nhỏ hơn nữa. Nội dung đề cập đến vấn đề giặt ủi áo quần cho du khách

alt

Bỗng thấy một mảnh giấy màu xanh nằm góc bên trái, tôi cầm lên xem mới biết đó là quà của Ban Tham Mưu tặng cho các du khách, để du khách tham dự các trò giải trí, mua sắm lặt vặt trên du thuyền. Quà này trị giá 50$ dưới hình thức coupon.

Đang nằm nghỉ trong phòng bỗng nghe từ loa phóng thanh gắn ở góc trên trần phòng tiếng của nhân viên trực du thuyền thông báo, tất cả du khách hãy đến địa điểm chỉ định để nghe nhân viên hướng dẫn phương pháp xử dụng phao lúc du thuyền gặp nạn. Vấn đề hướng dẫn này du thuyền nào cũng có cả để đề phòng rủi du thuyền gặp nạn như tàu cháy, tàu gặp sóng thần, đụng phải đá ngầm v v…mà tìm cách thoát hiểm. Và đúng 04giờ chiều ngày 14 tháng 06 năm 2015, như du khách đã được thông báo, du thuyền bắt đầu nhổ neo rời cảng Seattle để lướt sóng đại dương tiến về thành phố Juneau thuộc tiểu bang Alaska như chương trình du lịch đã hoạch định. Khi nghe tiếng còi tàu gào thét vang rền trên cảng Seattle để rời bến, chúng tôi liền theo mọi người lên boong tàu ở tầng thứ 12 để tham dự tiệc xuất hành đi du lịch tại tiểu bang Alaska do du thuyền Norwegian Pearl tổ chức và khoản đãi. Vì cũng mới dùng cơm trưa nên nhiều du khách chẳng nghĩ gì đến ăn uống. Mục đích chính lên boong tàu lúc này là để nhìn cảnh tàu rời bến cảng ra khơi tiến về Alaska, nơi xứ lạnh triền miên ngày ngày ít khi thấy ánh mặt trời, và cũng lắm lúc thấy mặt trời giữa ban đêm! Vừa nghe nhạc trỗi lên trên boong tàu lúc du thuyền lướt sóng, du khách vừa ăn uống vừa nhìn du thuyền lướt sóng trên đại dương giữa lúc trời chiều nhạt nắng, làm cho ai nấy cảm thấy tâm hồn thật thoải mái, lâng lâng; nhất là lúc cơn gió biển từ đại dương thổi vào du thuyền, làm cho du khách cảm thấy mát rượi đến ngẩn ngơ tơ lòng như lạc vào chốn thiên thai!

alt

 

Du khách đang tham dự tiệc trên du thuyền

 

alt

Du khách đang nhìn tàu rời hải cảng Seattle

alt

 

 

alt

Du khách đứng trên boong tàu nhìn tàu rời hải cảng

Thế rồi lúc ánh hoàng hôn vừa chan hoà trên biển cả, chúng tôi liền đến phòng ăn để dùng cơm tối đặng chuẩn bị đi xem show trình diễn đầu tiên trên du thuyền, theo chương trình đã thông báo cho du khách. Và đúng 07 giờ 30 tối, chúng tôi đã có mặt tại hội trường để tham dự. Tại đây, Ban Tham Mưu của du thuyền Norwegian Pearl đã giới thiệu tất cả những nhân viên cũng như các trưởng ban, trưởng phòng để du khách biết. Từ ông Hạm trưởng du thuyền, Hạm phó, trưởng ban ẩm thực, trưởng ban an ninh, trưởng ban y tế v v… đều được em-xi giới thiệu tên tuổi từng người, với những lời lẽ đầy chứa chan niềm vui hạnh ngộ và thật hài hước, làm cho du khách được một dịp cười hả hê trên du thuyền lúc tàu đang lướt trôi trên biển cả giữa đêm khuya thanh vắng. Tiếp theo là một vũ khúc của các vũ sư chuyên nghiệp và một vài bản đơn ca, hợp ca của các ca sĩ nổi tiếng làm nức lòng du khách trong đêm show văn nghệ đầu tiên trên du thuyền.

alt

Màn che trên sân khấu

alt

Hội Trường

Du khách tham dự show ban đêm.

Show trình diễn chấm dứt lúc 09giờ 30 tối, chúng tôi liền về phòng để nghỉ ngơi. Vừa bước vào phòng ngủ, tôi lại thấy một tờ giấy thông báo lịch trình trong ngày mai giống chiều qua. Cạnh tờ lịch trình nầy là một mảnh giấy thông báo việc vặn đồng hồ lui một giờ theo giờ mới của địa phương để du khách theo đó mà tham dự cuộc du ngoạn khỏi trễ nải.

Đọc xong mới biết cứ mỗi buổi chiều, người dọn phòng đem bỏ trên giường một tờ thông báo lịch trình cho ngày kế tiếp, để du khách theo dõi mà tham dự. Đặc biệt, Ban Tham Mưu thông báo cho du khách hãy vặn đồng hồ lui một giờ theo giờ địa phương để khỏi lộn giờ tham dự chương trình tổng quát, mặc dầu đã có mẩu giấy thông báo vấn đề này bên cạnh như đã đề cập ở trên. Lúc vào phòng làm vệ sinh cá nhân, tôi cảm thấy hình như có cái gì lắc lư nhà cầu qua qua lại lại. Chợt nhớ ra rằng vì du thuyền đang lướt sóng trên biển cả bao la nên con tàu phải lắc lư qua lại mà thôi. Nói đến con tàu lắc lư, tôi nghĩ đến vấn đề say sóng của du khách trên tàu. Để ngừa sự say sóng có thể xảy ra, con tôi đã chuẩn bị sẵn một số thuốc dán cho cả gia đình. Thuốc này là những miếng giấy dán hình tròn, nhỏ bằng viên thuốc vitamin C, thường được dán ở phía dưới sau trái tai.

alt

Thuốc dán sau lỗ tai ngừa say sóng

Sau một đêm dài ngủ giấc triền miên vì suốt ngày hôm qua lên tàu xuống xe mệt nhọc, chúng tôi thức giấc thì thấy bình minh đã ló dạng ở chân trời. Hôm nay ngày thứ hai, 15 tháng 06 năm 2015 là đúng ngày thứ hai chúng tôi ở trên du thuyền. Vì các phòng ngủ gần nhau nên chúng tôi đến gõ cửa nhau để rủ nhau đi dùng điểm tâm. Đi bộ khoảng một vài phút dọc theo lối đi sát các phòng thì đến thang máy. Vì chúng tôi ở tầng thứ 9 mà hôm qua dùng cơm tối ở tầng thứ 12 nên theo thói quen, vào thang máy rồi cứ bấm số 12 để đến phòng ăn cho thuận tiện.Trên du thuyền có rất nhiều phòng ăn ai muốn ăn phòng nào tuỳ ý. Đặc biệt có những phòng ăn cuối tàu và đầu tàu, du khách thường đến dùng cơm để ngắm cảnh trên biển cả. Đặc biệt nữa là lúc cảnh bình minh vừa ló dạng từ xa hay là hoàng hôn vừa về trên biển cả, du khách thường đến đó để uống cà phê hay dùng cơm tối, vừa để thưởng thức những món ăn đặc sản trên du thyền vừa để thưởng lãm cảnh đẹp thiên nhiên của đại dương đầy gió mát. Vừa đến phòng ăn, chúng tôi chọn mấy bàn sát cửa kính để có thể ngồi nhìn ra biển cả rồi thay phiên nhau đi lấy cà phê và thức ăn để ăn sáng. Tuỳ theo địa điểm mình chọn bàn ghế mà thời gian đi đến nơi lấy thức ăn nhanh hay chậm, xa hay gần. Hầu hết, các du khách thường chọn chỗ ngồi sát cửa kính để nhìn ra khơi xem sóng đại dương xô đuổi nhau chạy về phía chân trời vô tận. Tôi đã chọn được một chỗ ngồi tương đối thích thú vì vừa nhâm nhi cà phê sáng vừa nhìn sóng biển nhấp nhô qua cửa kính sát bàn ăn. Thỉnh thoảng thấy một vài chiếc ca nô lướt sóng sát bên du thuyền, hay thuỷ phi cơ bay lượn trên không, tạo thành một bức tranh rất sống động và ngoạn mục dưới ánh nắng vàng. Nếu trời yên bể lặng, mưa thuận gió hoà, thì du thuyền lướt sóng thật êm đềm. Gặp lúc sóng gió ba đào, bão táp mưa sa, du thuyền thường ngữa nghiêng, chao đảo. Tuy nhiên trong những ngày lênh đênh trên biển cả, du thuyền chúng tôi gặp lúc gió thuận mưa hoà nên du khách cảm thấy tâm hồn phơi phới, hân hoan.

alt

Dãy bàn ngồi sát cửa kính của du thuyền

(Còn tiếp)

 

 

 

Một Ngày Đi Khám Bệnh

E-mail Print

Tôi đẩy cửa bước vào phòng khám của bác sĩ. Đã có đông người ngồi chờ, tôi liếc mắt nhìn quanh ba dãy ghế xếp thành hình chữ U, không còn chỗ nào trống cả. Hầu hết bệnh nhân đều là người Việt Nam, họ đang râm ran nói chuyện trong khi bác sĩ chưa đến.

 

NHỮNG HẠN CHẾ & ƯU VIỆT CỦA CÁ TÍNH DÂN TỘC TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

NHỮNG HẠN CHẾ & ƯU VIỆT CỦA CÁ TÍNH DÂN TỘC

TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Last Updated ( Saturday, 08 August 2015 11:21 )
 

Nhộn Nhịp Chợ Đêm

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Những ngày cuối tuần, đồng hương Việt Nam ở quanh vùng Little Saigon hay từ xa về thường rủ nhau đến khu chợ đêm trước thương xá Phước Lộc Thọ.  Có lẽ vì đến nơi đây, khách thập phương có thể tìm lại được những hương vị, những âm thanh thân quen của quê hương mà chúng ta đã bỏ lại bên kia bờ đại dương.  Những hàng quán thơm mùi thịt nướng, khô mực, rồi nào lá bắp nướng mỡ hành, chuối nướng nước dừa, nước mía, v.v.  Khung cảnh vui vẻ, thân thương, như một góc của chợ Bến Thành hay một ngôi chợ tỉnh thành nào đó mà chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp trên những nẻo đường quê hương...

Last Updated ( Thursday, 20 August 2015 21:56 )
 

Lung Linh Sắc Hạ Trong Một Thế Giới Xưa

E-mail Print

Old World - một thế giới xưa, đúng như tên gọi. Nằm cách khu shopping Bella Terra chỉ có mấy blocks đường, nhưng khi đi vào khu Old World village ở thành phố Huntington Beach, chúng ta có cảm giác như đang lạc vào một thế giới khác, một khung cảnh của Âu Châu. Cả khu Old World village được xây dựng theo lối kiến trúc của một ngôi làng ở miền nam nước Đức, ngôi làng Bavarian. Những con đường lát gạch nho nhỏ nằm giữa những hàng cây, những ghế đá rất nên thơ, những tấm hình vẽ trên những bức tường, những nhà hàng, cửa tiệm bán thức ăn của người Đức, v.v.

 
Page 5 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account