CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

Ký Sự Du Lịch Alaska

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

 

KÝ SỰ DU LỊCH ALASKA

 

alt

 


 

 

 alt

 

Được biết Alaska là tiểu bang của Hoa kỳ nằm về phía Tây Bắc của lục địa Bắc Mỹ. Biên giới phía Đông là thị trấn Yukon và tỉnh British Columbia nằm trong lãnh thổ Gia Nã Đại. Phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Tây và Nam giáp Thái Bình Dương. Alaska là tiểu bang lớn nhất của Hoa Kỳ. Khoảng một nửa dân số (735.132 người) sống tại đô thị Anchorage. Thủ đô là Juneau. Kinh tế của Alaska chuyên về dầu lửa, hơi đốt và ngư nghiệp. Du lịch cũng chiếm một vị trí quan trọng cho nền kinh tế của tiểu bang này. Mặc dầu hằng ngàn năm trước đây, Alaska do thổ dân nơi đây làm chủ, nhưng từ thế kỷ thứ 18 trở về sau, các cường quốc Âu châu đến đây chiếm đóng để khai thác và buôn bán làm ăn. Hoa kỳ đã mua Alaska của Đế quốc Nga vào ngày 30 tháng 03 năm 1867 với giá 7.2 triệu dollars, khoảng 2 cent một mẫu Anh ($4.74/km2). Nhiều cơ quan hành chánh đổi thay tại xứ này trước khi trở thành lãnh thổ chính thức vào ngày 11 tháng 05 năm 1912. Alaska chính thức được thừa nhận là tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ vào ngày 03 tháng 01 năm 1959. Một vài sự kiện đặc biệt tại Alaska là nhiều lúc trăng tròn đúng 12 giờ trưa, đúng ngọ. Có khi quá 30 ngày mặt trời không lặn, không có đêm. Tại Ketchikan, mưa quanh năm suốt tháng đúng 365 ngày. Và lắm lúc mưa bụi trong nắng gọi là liquid sunshine. Ngoài ra lại có chuyện tuyết ngược nữa: gió thổi mạnh làm tuyết bay lên trời, đến nơi khác tuyết lại rơi xuống đất.

Để độc giả biết thêm một vài chi tiết nữa về Alaska, tôi xin đăng bài sau đây của Dịch giả Phạm Khánh lấy từ trên mạng :

“Tại sao Nga lại bán “Miếng Đất Vàng” Alaska cho Hoa kỳ ?”

“Cho đến nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng: Mỹ đã ăn cướp Alaska từ Nga, hoặc chỉ mới thuê lãnh thổ này, mà đến một lúc nào đó sẽ trả lại. Tuy nhiên, sự thật là Nga đã bán Alaska cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD vào năm 1867.


Tờ séc được dùng để trả tiền mua Alaska, mang mệnh giá 7,2 triệu dollar Mỹ. Source upsieutoc.com

Có một điều nhiều người không hiểu là tại sao Nga lại bán miếng đất đầy vàng Alaska cho Mỹ? TờRussia Beyond the Headlines (RBTH) của Nga đã có một bài phân tích về sự kiện trên.

Alaska trước khi bán :

Trong thế kỷ 19, Alaska của Nga là một Trung tâm thương mại thế giới. Tại thủ phủ Novoarkhangelsk (nay là Sitka) của Alaska, các hoạt động giao dịch diễn ra rất nhộn nhịp với các mặt hàng như: vải Tàu Chệt, trà, và thậm chí là nước đá đông đặc, mặt hàng mà miền Nam nước Mỹ rất cần trước khi phát minh ra tủ lạnh. Ở đây cũng phát triển ngành đóng tàu, và có rất nhiều nhà máy, cũng như rất nhiều mỏ vàng. Do đó, việc bán vùng đất này được coi là một điều điên rồ.

Các thương nhân Nga kéo tới Alaska để mua ngà hải mã (một loại ngà đắt tiền như ngà voi) và lông rái cá biển có giá trị từ người dân địa phương.

Các giao dịch thương mại được kiểm soát bởi các Công ty Nga-Mỹ (RAC), do các nhà thám hiểm và doanh nhân Nga thành lập từ thế kỷ 18. Công ty này cũng kiểm soát tất cả các mỏ, và khoáng sản của Alaska. Nó có thể ký hiệp định thương mại với các nước khác một cách độc lập, có lá cờ, và tiền tệ riêng.

Sa Hoàng cấp cho công ty này những đặc quyền trên. Tuy nhiên, chính phủ không chỉ thu các khoản thuế lớn, mà còn làm chủ một phần lớn công ty này – Sa Hoàng và các thành viên trong gia đình là cổ đông của RAC.

Ông đã xây dựng trường học và các nhà máy, dạy dân địa phương cách trồng củ cải và khoai tây, xây dựng pháo đài, và nhà máy đóng tàu, mở rộng các hoạt động buôn bán rái cá biển. Ông yêu mến Alaska không chỉ vì nơi này giúp ông kiếm được nhiều tiền, mà còn bằng tình yêu thực sự nữa .

Dưới sự lãnh đạo của Baranov, RAC có khoản doanh thu khổng lồ: hơn 1.000 % lợi nhuận. Khi Baranov nghỉ hưu, và rời bỏ vị trí của mình, Sĩ quan quân đội Hagemeister đã lên thay ông. Hagemeister đã tuyển thêm nhiều nhân viên, và cổ đông mới trong quân đội. Thay vì việc chú trọng đến việc điều hành và phát triển công ty, ông này lại tìm cách chiếm đoạt lợi nhuận kinh doanh, và chính những hành động đó đã hủy hoại RAC.

Lợi lộc bẩn thỉu :

Ban lãnh đạo mới của công ty này đã tự cho mình mức lương khổng lồ, những nhân viên quản lý thông thường có thể kiếm tới 1.500 rúp mỗi năm (tương đương với mức lương của các Bộ trưởng và các Thượng nghị sĩ), trong khi người đứng đầu của công ty có mức lương tới 150.000 rúp. Họ mua lông thú từ người dân địa phương với giá chỉ bằng một nửa. Kết quả, trong 20 năm sau, người dân ở đây đã giết chết gần như tất cả các con rái cá biển, khiến cho ngành thương mại có lợi nhuận nhất của Alaska bị dập tắt.

Trước tình hình đó, RAC bắt đầu tìm kiếm các nguồn thu nhập khác. Do đó việc buôn bán đá đông, và trà bắt đầu, nhưng những người lãnh đạo lại không đủ sức điều hành tốt công ty và cũng không bao giờ nghĩ đến việc giảm lương của chính mình. Kết quả, RAC đã phải nhận trợ cấp của nhà nước – 200.000 rúp mỗi năm. Nhưng cuối cùng công ty này cũng bị phá sản.

Sau đó, Chiến tranh Crimea (1853-1856) nổ ra, Anh, Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ cùng chống lại Nga. Với tình huống đó Nga không thể cung cấp cũng như bảo vệ Alaska, vì các tuyến đường biển ở đó đã bị kiểm soát bởi các tàu của quân đồng minh. Thậm chí cũng không thể khai thác vàng ỏ đây. Nga lo sợ rằng Alaska sẽ bị Anh cướp mất, và Nga sẽ chẳng được lợi lộc gì.

Căng thẳng giữa Moscow, và London tăng lên, trong khi mối quan hệ với các nhà chức trách Mỹ đang êm ấm hơn bao giờ hết. Cả hai gần như cùng có ý tưởng mua bán Alaska. Vì vậy Baron Eduard de Stoeckl, phái viên của Nga tại Washington, đã thay mặt Sa Hoàng mở cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ William Seward.

Trong khi hai bên đang đàm phán, dư luận ở cả hai nước cùng phản đối thỏa thuận trên. Các phương tiện Nga tràn ngập những câu hỏi như: “Sao chúng ta có thể từ bỏ vùng đất mà chúng ta đã bỏ rất nhiều công sức và thời gian để phát triển, vùng đất đã có kết nối điện báo, và có nhiều vàng?”. Trong khi truyền thông Mỹ thì phẫn nộ: “Tại sao Mỹ cần vùng đất băng giá đó hả ?”.

Không chỉ có báo chí, Quốc hội Mỹ cũng không chấp thuận việc mua bán này. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những bất đồng đó, ngày 30/3/1867, tại Washington, hai bên đã ký thỏa thuận bán Alaska với diện tích 1,5 triệu ha cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD, một khoản tiền được cho là chỉ mang tính tượng trưng.

Ở thời điểm đó, một vùng đất bình thường ở Siberia với diện tích tương tự có thể có giá gấp 1395 lần. Nhưng khi đang phải đối mặt với tình cảnh sẽ bị mất Alaska, mà không kiếm được đồng xu nào, thì có vẻ như việc chấp thuận thỏa thuận trên vẫn là một giải pháp tốt hơn nhiều đối với Nga.

 Việc bàn giao chính thức Alaska cho Mỹ được thực hiện ở Novoarkhangelsk. Những người lính Mỹ và Nga xếp hàng bên cạnh cột cờ, lá cờ Nga bị hạ xuống, và được đánh dấu bằng phát súng đại bác. Sau đó, người Mỹ đã đổi tên thủ phủ Novoarkhangelsk thành Sitka. Hàng trăm người Nga quyết định không lấy quốc tịch Mỹ, đã phải đi khỏi khu vực này bằng tàu buôn.

Một thời gian ngắn trôi qua, vàng đã bắt đầu được khai khác. Các cơn sốt vàng bắt đầu nổi lên ở Alaska, giúp người Mỹ kiếm được hàng trăm triệu USD”.

( Phạm Khánh dịch).

 

Tiểu bang Alaska

 

 alt

 

 

alt

 

 

Lá cờ của Tiểu Bang Alaska

 

Bill Walker

(Thống Đốc Tiểu Bang Alaska, 2015)

 

 

Quốc ca của Alaska

 

 

"Alaska's Flag"

Written by Marie Drake
Composed by Elinor Dusenbury

Adopted on February 23 1955.

1st Verse of Alaska's Flag Song

Eight stars of gold on a field of blue,
Alaska's flag, may it mean to you,
The blue of the sea, the evening sky,
The mountain lakes and the flowers nearby,
The gold of the early sourdough's dreams,
The precious gold of the hills and streams,
The brilliant stars in the northern sky,
The "Bear," the "Dipper," and shining high,
The great North Star with its steady light,
O'er land and sea a beacon bright,
Alaska's flag to Alaskans dear,
The simple flag of a last frontier.

 

 

2nd Verse of Alaska's Flag Song
-- Words by Carol Beery Davis



A Native lad chose the Dipper's stars
For Alaska's flag that there be no bars
Among our culture. Let it be known
Through years the Native's past has grown
To share life's treasures, hand in hand,
To keep Alaska our Great-Land;
We love the northern midnight sky,
The mountains, lakes and streams nearby.
The great North Star with its steady light
Will guide all cultures, clear and bright,
With nature's flag to Alaskans dear,
The simple flag of the last frontier.

(Trích từ Wikipedia)

alt

alt

 

 

 

(Trích từ Wikipedia)

Chiếc máy bay hãng hàng không Alaska chở khoảng 200 trăm hành khách cất cánh từ phi trường Los Angeles lúc 07:00 giờ sáng và đến phi trường Seattle lúc 09 giờ 30. Lúc bước chân vào máy bay, tôi nhìn số ghế trên vé máy bay để tìm chỗ ngồi.

Đi mãi đi hoài vẫn chưa thấy cho đến khi còn cách phòng vệ sinh ở đuôi máy bay hai dãy ghế mới thấy chỗ ngồi! Điều này làm tôi chợt nghĩ bông đùa rằng, mình có làm gì Tổng Thống Barack Obama giận đâu mà Tổng Thống Obama bắt mình ngồi ở đuôi máy bay giống như trước đây, cựu Tổng Thống Bill Clinton để cho ông cựu chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich ngồi ở đuôi máy bay để máy bay lắc cho bỏ ghét trong chuyến đi tham dự hội nghị năm nào! Sau này hỏi cô con gái tôi mới biết rằng, sở dĩ phải lấy vé cả gia đình ngồi ở đuôi máy bay vì cả hai gia đình con tôi đều có các cháu còn nhỏ dại. Con cái suy tính như thế thì thật là hay nếu không nói là quá tuyệt vời. Mỗi lần các cháu cần đi vệ sinh, chỉ việc bước ba bước là đến nơi, khỏi phải làm phiền hành khách trên tàu. Sau hai tiếng rưỡi lướt gió tung trời, máy bay hạ cánh xuống phi trường Seattle lúc trời còn nắng ấm. Sau khi lấy hành lý và liên lạc với công ty xe buýt, khoảng mười lăm phút sau xe buýt đến chở gia đình chúng tôi đến hải cảng Seattle. Xe chạy vòng vo tam quốc qua nhiều đại lộ của thành phố Seattle khoảng mấy mươi phút rồi dừng ngay trên bến cảng. Các con tôi chọn đi du lịch trên Alaska bằng du thuyền nên khi xe buýt chở chúng tôi dừng lại trên bến cảng, chúng tôi đã thấy chiếc du thuyền vĩ đại đang thả neo trong hải cảng nằm sừng sững trước mặt với ba chữ NCL thật lớn trên tầng cao nhất của du thuyền. NCL là ba chữ viết tắt của NORWEGIAN CRUISE LINE.

alt

Sau đó, chúng tôi theo đoàn du khách làm thủ tục lên tàu để chuẩn bị đi du lịch trên tiểu bang Alaska. Ở tại tiểu bang California, tôi nghe người ta nói Seattle là xứ mưa rơi ảm đạm quanh năm suốt tháng giống như mùa mưa ở xứ Huế vậy. Ai cũng biết rằng cứ mỗi lần mưa bay về trên xứ Huế, cảnh vật sao mà buồn bã đến nỗi Thi sĩ Nguyễn Bính đã phải hạ bút viết mấy dòng thơ bất hủ:

“Trời mưa xứ Huế sao buồn quá

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Nhớ ai ai nhớ mà thương nhớ…”

Thế nên mặc dầu biết là mưa quanh năm suốt tháng, mặc dầu biết cảnh vật thật buồn bã đìu hiu, nhưng cũng đi một chuyến thử xem sao. Tuy nhiên lúc máy bay hạ cánh xuống phi trường cũng như lúc xe buýt chở chúng tôi đi trong thành phố, nhìn lên cao, chúng tôi thấy trời sao mà đẹp quá. Bầu trời thì xanh ngắt, lại có mấy trắng và cả nắng hồng. Có lẽ lúc xuất hành, chúng tôi đi đúng giờ hoàng đạo nên đã gặp may là trời không mưa chăng? Lúc du khách di chuyển lên du thuyền, chúng tôi đi ngang một địa điểm có một nhiếp ảnh gia đứng chờ sẵn để chụp hình cho từng gia đình làm kỷ niệm. Sau này nếu du khách nào muốn có hình kỷ niệm đó, cứ đến phòng Photos Gallery trên du thuyền tìm hình mình rồi trả 24$95 và lấy hình về, như nội dung in trong tấm thiệp người nhiếp ảnh gia trao cho chúng tôi.

alt

Để tiện việc liên lạc và gặp nhau nhanh chóng, con tôi đã chọn 3 phòng tương đối gần nhau trên du thuyền. Sau khi sắp xếp và di chuyển hành lý vào trong phòng, chúng tôi liền kéo nhau ra ngoài phòng ăn để dùng cơm trưa. Vì con cái tôi đã chuẩn bị trước tất cả mọi vấn đề từ tiền vé đi du lịch, tiền ăn, tiền xe buýt v v…lúc bắt đầu mua vé, nên gia đình chúng tôi ngồi vào bàn ăn một cách tự nhiên như những du khách khác. Giờ đây, khung cảnh phố phường đầy bụi bặm và ồn ào vì xe cộ tấp nập qua lại đã biến mất, nhường chỗ cho cảnh đẹp tuyệt trần xuất hiện trước mắt du khách khi vừa ngồi dùng cơm trưa trên du thuyền, vừa nhìn ra biển cả bao la bát ngát thấy sóng biển nhấp nhô trắng xoá xô đuổi nhau chạy xa tít tận chân trời.

alt

Dùng cơm trưa xong chúng tôi liền vào phòng nghỉ ngơi ngay vì từ sáng sớm cho đến bây giờ đã phải lên máy bay, xuống tàu, lên xe buýt khiến người nào cũng mệt mỏi và buồn ngủ. Bước vào phòng ngủ trên du thuyền, tôi thấy cách trang trí trong phòng ốc tương đối cũng ngăn nắp, gọn gàng. Phòng có hai giường nhỏ, một TV, một bàn trang điểm, một tủ đựng áo quần, một kệ đựng khay với hai ly thuỷ tinh và một bình đựng nước. Một nhà cầu và phòng tắm nho nhỏ xinh xinh với khăn tắm treo rất gọn gàng. Trên tường treo mấy bức tranh với nhiều màu sắc thật đẹp. Một máy điện thoại để sát đầu giường ngủ để du khách liên lạc với thân nhân và bạn bè khi cần. Đặc biệt, trong học dưới bàn để bình nước và hai ly có một cuốn thánh kinh bìa màu đen để cho các du khách theo đạo Công giáo xử dụng.

Trên giường có một tờ giấy khổ rộng khoảng 8,5x11 với hai chữ FREESTYLE DAILY nằm trên cùng. Nội dung bằng Anh ngữ, thông báo cho du khách chương trình ăn uống, giải trí, địa điểm cần thiết trên du thyền để du khách có thể theo đó mà đến tham dự. Thôi thì đủ thứ giải trí như trong một đô thị sầm uất: hồ bơi, casino, khu tập thể dục, sân chơi bóng rổ, tennis, bóng bàn, phòng nghe nhạc, sân chơi golf, quầy uống rượu, thư viện, hội trường tình diễn văn nghệ, trung tâm thương mãi, phòng triển lãm tranh ảnh, nhà hàng. Ngoài những chi tiết trên, các địa điểm để du khách sắp đi thăm viếng và thưởng ngoạn cũng được chỉ dẫn và thông báo rất rõ ràng trong FREESTYLE DAILY. Cạnh tờ giấy này có một mảnh giấy nhỏ hơn với nội dung đón chào du khách lên du thuyền để đi du ngoạn tại Alaska. Nội dung trong mảnh giấy nhỏ nầy đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến sinh hoạt lúc mới lên tàu.

alt

alt

Phía bên trái mẩu giấy nầy là một mảnh giấy nhỏ hơn nữa. Nội dung đề cập đến vấn đề giặt ủi áo quần cho du khách

alt

Bỗng thấy một mảnh giấy màu xanh nằm góc bên trái, tôi cầm lên xem mới biết đó là quà của Ban Tham Mưu tặng cho các du khách, để du khách tham dự các trò giải trí, mua sắm lặt vặt trên du thuyền. Quà này trị giá 50$ dưới hình thức coupon.

Đang nằm nghỉ trong phòng bỗng nghe từ loa phóng thanh gắn ở góc trên trần phòng tiếng của nhân viên trực du thuyền thông báo, tất cả du khách hãy đến địa điểm chỉ định để nghe nhân viên hướng dẫn phương pháp xử dụng phao lúc du thuyền gặp nạn. Vấn đề hướng dẫn này du thuyền nào cũng có cả để đề phòng rủi du thuyền gặp nạn như tàu cháy, tàu gặp sóng thần, đụng phải đá ngầm v v…mà tìm cách thoát hiểm. Và đúng 04giờ chiều ngày 14 tháng 06 năm 2015, như du khách đã được thông báo, du thuyền bắt đầu nhổ neo rời cảng Seattle để lướt sóng đại dương tiến về thành phố Juneau thuộc tiểu bang Alaska như chương trình du lịch đã hoạch định. Khi nghe tiếng còi tàu gào thét vang rền trên cảng Seattle để rời bến, chúng tôi liền theo mọi người lên boong tàu ở tầng thứ 12 để tham dự tiệc xuất hành đi du lịch tại tiểu bang Alaska do du thuyền Norwegian Pearl tổ chức và khoản đãi. Vì cũng mới dùng cơm trưa nên nhiều du khách chẳng nghĩ gì đến ăn uống. Mục đích chính lên boong tàu lúc này là để nhìn cảnh tàu rời bến cảng ra khơi tiến về Alaska, nơi xứ lạnh triền miên ngày ngày ít khi thấy ánh mặt trời, và cũng lắm lúc thấy mặt trời giữa ban đêm! Vừa nghe nhạc trỗi lên trên boong tàu lúc du thuyền lướt sóng, du khách vừa ăn uống vừa nhìn du thuyền lướt sóng trên đại dương giữa lúc trời chiều nhạt nắng, làm cho ai nấy cảm thấy tâm hồn thật thoải mái, lâng lâng; nhất là lúc cơn gió biển từ đại dương thổi vào du thuyền, làm cho du khách cảm thấy mát rượi đến ngẩn ngơ tơ lòng như lạc vào chốn thiên thai!

alt

 

Du khách đang tham dự tiệc trên du thuyền

 

alt

Du khách đang nhìn tàu rời hải cảng Seattle

alt

 

 

alt

Du khách đứng trên boong tàu nhìn tàu rời hải cảng

Thế rồi lúc ánh hoàng hôn vừa chan hoà trên biển cả, chúng tôi liền đến phòng ăn để dùng cơm tối đặng chuẩn bị đi xem show trình diễn đầu tiên trên du thuyền, theo chương trình đã thông báo cho du khách. Và đúng 07 giờ 30 tối, chúng tôi đã có mặt tại hội trường để tham dự. Tại đây, Ban Tham Mưu của du thuyền Norwegian Pearl đã giới thiệu tất cả những nhân viên cũng như các trưởng ban, trưởng phòng để du khách biết. Từ ông Hạm trưởng du thuyền, Hạm phó, trưởng ban ẩm thực, trưởng ban an ninh, trưởng ban y tế v v… đều được em-xi giới thiệu tên tuổi từng người, với những lời lẽ đầy chứa chan niềm vui hạnh ngộ và thật hài hước, làm cho du khách được một dịp cười hả hê trên du thuyền lúc tàu đang lướt trôi trên biển cả giữa đêm khuya thanh vắng. Tiếp theo là một vũ khúc của các vũ sư chuyên nghiệp và một vài bản đơn ca, hợp ca của các ca sĩ nổi tiếng làm nức lòng du khách trong đêm show văn nghệ đầu tiên trên du thuyền.

alt

Màn che trên sân khấu

alt

Hội Trường

Du khách tham dự show ban đêm.

Show trình diễn chấm dứt lúc 09giờ 30 tối, chúng tôi liền về phòng để nghỉ ngơi. Vừa bước vào phòng ngủ, tôi lại thấy một tờ giấy thông báo lịch trình trong ngày mai giống chiều qua. Cạnh tờ lịch trình nầy là một mảnh giấy thông báo việc vặn đồng hồ lui một giờ theo giờ mới của địa phương để du khách theo đó mà tham dự cuộc du ngoạn khỏi trễ nải.

Đọc xong mới biết cứ mỗi buổi chiều, người dọn phòng đem bỏ trên giường một tờ thông báo lịch trình cho ngày kế tiếp, để du khách theo dõi mà tham dự. Đặc biệt, Ban Tham Mưu thông báo cho du khách hãy vặn đồng hồ lui một giờ theo giờ địa phương để khỏi lộn giờ tham dự chương trình tổng quát, mặc dầu đã có mẩu giấy thông báo vấn đề này bên cạnh như đã đề cập ở trên. Lúc vào phòng làm vệ sinh cá nhân, tôi cảm thấy hình như có cái gì lắc lư nhà cầu qua qua lại lại. Chợt nhớ ra rằng vì du thuyền đang lướt sóng trên biển cả bao la nên con tàu phải lắc lư qua lại mà thôi. Nói đến con tàu lắc lư, tôi nghĩ đến vấn đề say sóng của du khách trên tàu. Để ngừa sự say sóng có thể xảy ra, con tôi đã chuẩn bị sẵn một số thuốc dán cho cả gia đình. Thuốc này là những miếng giấy dán hình tròn, nhỏ bằng viên thuốc vitamin C, thường được dán ở phía dưới sau trái tai.

alt

Thuốc dán sau lỗ tai ngừa say sóng

Sau một đêm dài ngủ giấc triền miên vì suốt ngày hôm qua lên tàu xuống xe mệt nhọc, chúng tôi thức giấc thì thấy bình minh đã ló dạng ở chân trời. Hôm nay ngày thứ hai, 15 tháng 06 năm 2015 là đúng ngày thứ hai chúng tôi ở trên du thuyền. Vì các phòng ngủ gần nhau nên chúng tôi đến gõ cửa nhau để rủ nhau đi dùng điểm tâm. Đi bộ khoảng một vài phút dọc theo lối đi sát các phòng thì đến thang máy. Vì chúng tôi ở tầng thứ 9 mà hôm qua dùng cơm tối ở tầng thứ 12 nên theo thói quen, vào thang máy rồi cứ bấm số 12 để đến phòng ăn cho thuận tiện.Trên du thuyền có rất nhiều phòng ăn ai muốn ăn phòng nào tuỳ ý. Đặc biệt có những phòng ăn cuối tàu và đầu tàu, du khách thường đến dùng cơm để ngắm cảnh trên biển cả. Đặc biệt nữa là lúc cảnh bình minh vừa ló dạng từ xa hay là hoàng hôn vừa về trên biển cả, du khách thường đến đó để uống cà phê hay dùng cơm tối, vừa để thưởng thức những món ăn đặc sản trên du thyền vừa để thưởng lãm cảnh đẹp thiên nhiên của đại dương đầy gió mát. Vừa đến phòng ăn, chúng tôi chọn mấy bàn sát cửa kính để có thể ngồi nhìn ra biển cả rồi thay phiên nhau đi lấy cà phê và thức ăn để ăn sáng. Tuỳ theo địa điểm mình chọn bàn ghế mà thời gian đi đến nơi lấy thức ăn nhanh hay chậm, xa hay gần. Hầu hết, các du khách thường chọn chỗ ngồi sát cửa kính để nhìn ra khơi xem sóng đại dương xô đuổi nhau chạy về phía chân trời vô tận. Tôi đã chọn được một chỗ ngồi tương đối thích thú vì vừa nhâm nhi cà phê sáng vừa nhìn sóng biển nhấp nhô qua cửa kính sát bàn ăn. Thỉnh thoảng thấy một vài chiếc ca nô lướt sóng sát bên du thuyền, hay thuỷ phi cơ bay lượn trên không, tạo thành một bức tranh rất sống động và ngoạn mục dưới ánh nắng vàng. Nếu trời yên bể lặng, mưa thuận gió hoà, thì du thuyền lướt sóng thật êm đềm. Gặp lúc sóng gió ba đào, bão táp mưa sa, du thuyền thường ngữa nghiêng, chao đảo. Tuy nhiên trong những ngày lênh đênh trên biển cả, du thuyền chúng tôi gặp lúc gió thuận mưa hoà nên du khách cảm thấy tâm hồn phơi phới, hân hoan.

alt

Dãy bàn ngồi sát cửa kính của du thuyền

(Còn tiếp)

 

 

 

Một Ngày Đi Khám Bệnh

E-mail Print

Tôi đẩy cửa bước vào phòng khám của bác sĩ. Đã có đông người ngồi chờ, tôi liếc mắt nhìn quanh ba dãy ghế xếp thành hình chữ U, không còn chỗ nào trống cả. Hầu hết bệnh nhân đều là người Việt Nam, họ đang râm ran nói chuyện trong khi bác sĩ chưa đến.

 

NHỮNG HẠN CHẾ & ƯU VIỆT CỦA CÁ TÍNH DÂN TỘC TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

NHỮNG HẠN CHẾ & ƯU VIỆT CỦA CÁ TÍNH DÂN TỘC

TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Last Updated ( Saturday, 08 August 2015 11:21 )
 

Nhộn Nhịp Chợ Đêm

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Những ngày cuối tuần, đồng hương Việt Nam ở quanh vùng Little Saigon hay từ xa về thường rủ nhau đến khu chợ đêm trước thương xá Phước Lộc Thọ.  Có lẽ vì đến nơi đây, khách thập phương có thể tìm lại được những hương vị, những âm thanh thân quen của quê hương mà chúng ta đã bỏ lại bên kia bờ đại dương.  Những hàng quán thơm mùi thịt nướng, khô mực, rồi nào lá bắp nướng mỡ hành, chuối nướng nước dừa, nước mía, v.v.  Khung cảnh vui vẻ, thân thương, như một góc của chợ Bến Thành hay một ngôi chợ tỉnh thành nào đó mà chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp trên những nẻo đường quê hương...

Last Updated ( Thursday, 20 August 2015 21:56 )
 

Lung Linh Sắc Hạ Trong Một Thế Giới Xưa

E-mail Print

Old World - một thế giới xưa, đúng như tên gọi. Nằm cách khu shopping Bella Terra chỉ có mấy blocks đường, nhưng khi đi vào khu Old World village ở thành phố Huntington Beach, chúng ta có cảm giác như đang lạc vào một thế giới khác, một khung cảnh của Âu Châu. Cả khu Old World village được xây dựng theo lối kiến trúc của một ngôi làng ở miền nam nước Đức, ngôi làng Bavarian. Những con đường lát gạch nho nhỏ nằm giữa những hàng cây, những ghế đá rất nên thơ, những tấm hình vẽ trên những bức tường, những nhà hàng, cửa tiệm bán thức ăn của người Đức, v.v.

 

Kẻ Bạc Tình

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Mời các anh chị nghe truyện qua "Kẻ Bạc Tình" của Nhà văn Phương Lan qua audio trong Youtube bên dưới.

 

Nhà Của Bố

E-mail Print

Thằng Tú náo nức lắm, nó mong cho đến ngày mai mẹ sẽ đưa nó ra phi trường lên máy bay để về thăm bố Tuấn, thăm căn nhà của bố Tuấn..

 

Cô Bò Và Mẹ

E-mail Print

Viết tặng một bà mẹ đồng hương nhân ngày Mother’s Day

Bobbie là một người rất đặc biệt, rất tuyệt vời. Mày đến gặp sẽ biết, không phải ai cô ấy cũng nhận làm tóc cho đâu. Shara con bạn Mỹ làm chung hảng nói với Hạnh. Bobbie là manager nên chỉ làm hẹn lai rai với khách quen yêu cầu thôi.

 

MỘT CHUYẾN ĐI XA - TÌNH NGHỆ SĨ JOURNEY

E-mail Print
User Rating: / 6
PoorBest 

Lời giới thiệu: Tác giả bài viết, Lisa Trần, đến Hoa Kỳ vào năm 1975, khi mới 14 tuổi. Lisa hiện là Marketing Director cho Công ty Quốc Việt. Lisa Trần tham gia sinh hoạt với CLB Tình Nghệ Sĩ khoảng một năm nay và bài viết bên dưới ghi lại kỷ niệm về chuyến đi tham dự chương trình Quốc Hận và Kỷ Niệm 40 Năm Chiến Dịch Cơn Gió Lốc được tổ chức trên chiến hạm USS Midway vào dịp cuối tháng Tư.

***

Last Updated ( Tuesday, 05 May 2015 16:38 )
 

Một chuyến đi ngậm ngùi

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

 

image.jpeg

 

Bài KIỀU MỸ DUYÊN
Đi một ngày đàng học một sàng khôn, ông bà mình thường nói như thế; nên từ nhỏ tôi đã thích đi, ở trong nhà ra vườn, đến hàng xóm, trường học, hội quán bóng bàn, cắm trại ở Vũng Tàu v.v. Và lớn lên, tôi đến nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng lần này trở về Á Châu, tôi hồi hộp vô cùng, bởi vì lâu quá không về nơi đây.
Bay từ Los Angeles đến San Francisco thì chuyển máy bay, giáo sư Dan Aldrich và ông Cliff Davidson đợi chúng tôi ở phi trường. Giáo sư Dan và ông Cliff là những nhân vật lãnh đạo của tổ chức từ thiện quốc tế Young Life, thành lập từ năm 1974 trụ sở chính ở Florida. Hai ông phụ trách đào tạo những lãnh đạo trẻ ở Á Châu và Thái Bình Dương gồm 18 quốc gia. Ngân sách của Young Life hàng năm là $275 triệu đô la cho thế giới.
 
image.jpeg
           Kiều Mỹ Duyên và các thiện nguyện viên cùng các em trong lớp học.

Máy bay đến Đại Hàn, xứ sở của võ nghệ đầy mình. Ở Đại Hàn một ngày rồi chúng tôi đến Miên, thành phố chịu nhiều đau thương. Miên và Việt Nam ở gần nhau, từ Saigon đến Miên chỉ 80 cây số; nếu đi từ Châu Đốc hoặc từ Tây Ninh thì gần hơn. Ngồi trên máy bay, tôi rất hồi hộp và tự hỏi, không biết bây giờ những người bạn Miên của tôi ra sao? Lâu lắm rồi tôi không trở lại nơi này. Năm 1971, tôi đến Keak Lueng bằng trực thăng của Không Quân. Đã bao nhiêu lần tôi mơ ước trở lại Neak Lueng, và hôm nay tôi đang trên đường bay trở lại một đất nước nghèo đói, chiến tranh. Người Miên bị giết chết, bị búa đập vào đầu, bị cắt cổ. Hơn 2.5 triệu người bị giết một lúc, bị gần như diệt chủng, với cả một cánh đồng đầu lâu trắng xóa, máu chảy thành sông, sọ người thành núi.
Máy bay đáp xuống ở phi trường Phnom Penh gần nửa đêm, nhân viên của Young Life đón chúng tôi ở phi trường. Những người trẻ với bảng hiệu trên tay “Welcome Young Life.” Đi giữa những ánh đèn rực rỡ, gió lồng lộng thổi mát rười rượi, cây cỏ hai bên đường xanh mướt. Đường đang được sửa chữa nên có những đoạn đường bụi mịt mờ. Những người trẻ đại diện của Young Life nói cười luôn miệng. Đến khách sạn, tôi rất ngạc nhiên vì ngày xưa đến Miên ở rừng núi, vàtôi chưa từng được đến những khách sạn đẹp tuyệt vời như thế này. Có thể nói khách sạn ở Miên đẹp nhất trong những nơi mà tôi đã đi qua. Cũng là khách sạn 5 sao nhưng khách sạn này cất theo kiểu Pháp, và chủ nhân là người Pháp. Nó đẹp tuyệt vời, xung quanh là rừng cây, có hồ tắm, có nước phun suốt ngày đêm, có âm nhạc cổ truyền. Hơn nữa những người làm việc trong khách sạn mặc sắcphục cổ truyền, màu sắc đẹp rực rỡ; trai lẫn gái, lúc nào cũng nhìn thấy nụ cười trên môi của những người trẻ này. Đó là khách sạn International Continental.
Về tới khách sạn thì anh chị em đại diện Young Life ở Miên cho biết ông Frank và phu nhân đã đến vào buổi trưa, và 5 người chúng tôi gặp nhau ngày hôm sau ở phòng khách của khách sạn để ăn sáng trước khi gặp các anh chị em của Young Life.
Ở Phnom Penh chúng tôi đi thăm trung tâm dạy tiếng Anh và computer miễn phí của Young Life. Một tòa nhà 2 tầng thật đẹp và lịch sự nhưng không có thang máy. Chúng tôi đi bộ lên; lớp học dưới nhà, và trên nhà có một nơi để cho một em ở lại trông giữ nhà. Đây là một trong 7 trung tâm huấn luyện của Young Life. Sor Pyneath là đại diện ở thủ đô, một chàng trai gần 40 tuổi, làm việc cho Young Life hơn 16 năm. Mơ ước của em là mở các trung tâm dạy học khắp nước Miên. Thân phụ của em đi khắp nơi, bỏ lại vợ và con trong lúc chinh chiến; lúc đó, mẹ em còn rất trẻ và một mình nuôi 3 đứa con. Mấy năm sau người cha trở về, cha em nói đi buôn bán, nhưng 2 hay 3 năm mới trở về một lần. Và ông có 3 bà vợ khác; vì thế em có cha cũng như không. Tuổi thơ mấy anh em Sor rất vất vả vì phải vật lộn với sự sống; họ phải vừa đi làm vừa đi học. Vì Sor cũng bữa đói bữa no nên em thông cảm với các trẻ em mồ côi. Em quyết làm việc xã hội; khi ông Bob đại diện cho Young Life từ Hoa Kỳ sang tìm đến em, ngay từ ngày đầu em đã tình nguyện làm việc với hội từ thiện này. Sor cũng như các em khác, những thành phần lãnh đạo được đưa đến trung tâm huấn luyện Young Life ở Phi Luật Tân để học 2 tuần lễ. Ngoài ra, những chuyên viên người Mỹ đến Phi Luật Tân để dạy các em tiếp về cách điều hành, tuyển người trẻ làm việc thiện nguyện. Hội chủ trương đến dạy tại các quốc gia có trung tâm Young Life để đỡ tốn kém thay vì đưa các em đến Hoa Kỳ để học.
Chúng tôi đi ăn nhiều lần với các em sau những ngày sinh hoạt chung để nghe các em nói về mình mơ ước, đời sống của mình, và những khó khăn mà họ gặp phải hàng ngày v.v. Các em học English, computer, âm nhạc, và thể thao. Sor dịch sách về computer ra tiếng Miên để cho các em dễ học, và hiện nay 7 trung tâm đều dùng những quyển sách này. Đặc biệt chính phủ Miên rất hay giúp đỡ các hội từ thiện. Một hôm, các em tổ chức đại nhạc hội; các em có ban nhạc tập luyện thường xuyên. Và các em múa hát những bài hát cổ truyền, ăn mặc theo lối cổ truyền. Các em, tổng cộng 168 người, từ các trung tâm, các trường đại học, và là thành viên của hội. Đại nhạc hội kéo dài từ 5-11 giờ đêm; các em múa, hát, đờn, và thuyết trình.
Ông Cliff Davidson nói về hội, nói về sinh hoạt và chủ trương của hội. Thêm vào đó, giáo sư Dan Aldrich nói đôi lời về ý nghĩa của đời sống. Ông Frank nói với các em về đời sống của ông; ông thành công ở Mỹ từ hai bàn tay trắng. Ông Frank cho biết khi ông quyết tâm làm việc gì đó là ông phải làm một cách tích cực để đạt đến thành công. Mọi người nói chuyện và chia sẻ kinh nghiệm, được các em vỗ tay vang dội.
Ngày đại hội hôm sau có 168 thành viên, cùng với các em lãnh đạo và các em trong ban thiện nguyện, tổng cộng hơn 200 người. Mọi người ra về tay cầm một hộp bánh vì các em chưa ăn tối. Các em đến tham dự vẫn còn mặc đồng phục đi học, chắc hẳn các em không đủ thì giờ về nhà thay áo. Ở Miên, học sinh cũng đi học các ngày thứ bảy như ở các quốc gia Á Châu khác.
Ở Miên, ban ngày cũng như đêm nóng như lửa, nhưng cũng may là có gió. Cỏ cây xanh mướt, cũng như có những dòng sông nhỏ trong thành phố. Hằng năm hàng triệu du khách đến Miên thăm viếng cánh đồng sọ người. Ở đây, sọ người trắng xóa và chồng chất thành mỗi tầng của ngôi tháp thật cao. Khi nhắc đến sự tàn sát dã man của Khmer Đỏ, người Miên không khỏi rợn người, tay nổi da gà. Những người trẻ lớn lên được nghe ông bà cha mẹ kể lại sự tàn sát diệt chủng này không khỏi rơi lệ. Sor đưa chúng tôi đi mà mắt cậu đỏ hoe, có lẽ cậu khóc thầm trong lòng.
Sor tâm sự như sau: “Chúng tôi muốn cho đồng bào chúng tôi khá hơn. Điều quan trọng nhất là phải học, vì thế tôi dạy English và computer. Tôi khuyến khích các em, nghèo cũng được, đói cũng được nhưng phải học."
Những người trẻ chúng tôi gặp ở Miên người nào cũng ốm nhom. Vì lúc nhỏ, các em không được ăn uống đầy đủ nên em nào cũng thấp và gầy, và vì da các em sạm đen nên không nhận ra vẻ xanh xao của các em. Cao Miên nắng quá, nếu không có gió, cây xanh, sông chảy quanh thành phố chắc nhiều người sẽ chết về mùa hè.
Một em gái, Vannak, đang phụ trách một trung tâm, em nói ngày xưa em có bạn trai bây giờ làm việc nhiều quá không còn bạn trai nữa. Vì em là trung tâm trưởng nên Vannak có trách nhiệm và lo cho các em. Vannak làm xướng ngôn viên trong ban nhạc, và trong các cuộc đá bóng ngoài trời. Nước da của em đen thật là đen nhưng rất có duyên, miệng em cười thật tươi, và em mơ ước có một gia đình ấm cúng, vợ chồng thương nhau, con học giỏi và được gửi sang Mỹ du học rồi trở về giúp cho đất nước. Đa số những em trẻ ở Miên mà chúng tôi đã gặp em nào cũng mơ ước du học ở Mỹ hoặc tu nghiệp ở Mỹ. Các em mơ ước đến Mỹ như mơ đến Thiên Đường ở hạ giới. Chúng tôi gặp thành phần lãnh đạo nhiều nhất, từ Khmom Penh đến Seam Reap. Vợ Sor đang làm ở nhà băng Singapore nhưng bỏ làm ở đó, về làm cho Young Life để giúp chồng. Ngày thường thì họ gởi con cho cha mẹ trông nuôi, cuối tuần đi đâu thì đem con theo, đi giữa nắng gió. Hình như trẻ con Miên rất mạnh đi cả ngày ngoài nắng mà chúng vẫn khỏe như thường.
Chúng tôi cầu mong cho các em toại nguyện, được một lần đến Mỹ. Tôi đề nghị với giáo sư Dan Aldrich và ông Cliff rằng cộng đồng Miên ở Long Beach rất đông, có đến mấy trăm ngàn người, và ở nước Mỹ, người Miên cũng nhiều. Nên làm việc trao đổi sinh viên. Đem những người lãnh đạo Miên sang Mỹ cho ở trong những nhà bảo trợ, đi học, hoặc tu nghiệp thì sự tốn kém đỡ hơn nhiều. Nhà tôi không giàu nhưng cũng có thể cho một vài em ở vài ba tháng, ăn ở cũng đâu bao nhiêu. Các ông nói sẽ suy nghĩ lại.

Chính phủ Miên: Giúp các hội từ thiện ngoại quốc
Ngoài sinh hoạt với Young Life hàng ngày chúng tôi đi thăm một hội từ thiện khác ở thành phố cổ, nơi bán đồ thủ công nghệ rất nhiều: đan, thêu, đồ gốm do những bàn tay khéo léo của người Miên thực hiệnBuổi sáng mặt trời lên tôi thích thiên nhiên nên dậy thật sớm đi thăm rừng núi, hồ, sông và thành phố cổ. Thành cổ có một dãy nhà thật dài ở sau phố là nơi trú ngụ của các em mồ côi, tật nguyền, các em đang dệt lụa, đang thêu và vẽ; có em bị tật hai chân vẫn ngồi trước giá vẽ, thành những bức tranh màu sắc tươi vui, những khăn lụa thật đẹp đem ra shopping trước nhà bán, vì đây là cơ sở từ thiện, chính phủ Miên thuê, tiền lời nuôi các em, và cho các em một chút ít để tiêu vặt. Các em ở những ngôi nhà lợp tôn lụp xụp, ngủ trên giường gỗ, trải chiếu không có nệm, thấy khách đến các em rất vui. Các em gái trên tóc gắn hoa lài, ở Miên đi đâu cũng nghe mùi hoa thơm ngát, ở khách sạn hay ra phố gần dòng sông, chỗ nào cũng thấy hoa tươi.
Tôi mua một ít khăn quàng cổ không trả gia. Nếu mua ở phố thì tôi sẽ trả giá nhưng đây là hội từ thiện, có lời họ nuôi trẻ em mồ côi, tôi không biết mắc rẻ cứ mua. Các em bán hàng là sinh viên các trường đại học ngoài giờ làm việc đến đây làm việc thiện nguyện. Ở đâu chúng tôi cũng thấy cho hình của vua, hoàng hậu, và hoàng thái tử. Bây giờ thì Hoàng Thái Hậu đang ở Bắc Kinh chữa bệnh, ông vua thì sang thăm mẫu hậu. Ngày hôm trước chúng tôi thăm lâu đài của vua, nếu có cắm cờ là có vua ở lâu đài, nếu không thấy cờ trên nóc lâu đài là vua đi vắng. Vua đi học ở Pháp về, nói tiếng Pháp như người Pháp; vua có khiếu về khiêu vũ. Người Miên từ vua đến dân ai cũng ca hát và khiêu vũ hàng ngày không đợi tới ngày lễ hội. Hai lâu đài trong hoàng cung, lâu đài màu vàng là theo đạo Phật, màu trắng là đạo Hindu.
Có vẻ gì huyền bí ở cung vua; vào hoàng cung không ai nói một tiếng lớn, đi chân đất, đa số ăn mặc rất lịch sự, nghe nói ở Cao Miên bùa ngải nhiều lắm cho nên không ai dám xúc phạm, không ai dám hái hoa, bẻ cây, dù không có một người lính nào gác cửa.
Đế Thiên, Đế Thích
Đế Thiên Đế Thích được cho là kỳ quan của thế giới, có 3 ngôi chùa cổ trên đồi cao, dưới là hồ. Chùa lớn nhất chia ra thành nhiều lâu đài khác nhau, khi mua vé vào thăm viếng, đi hết ngôi chùa thứ nhất là đã muốn ngã ra trên nền cỏ, hay ở giữa cánh rừng. Nhưng rồi mỗi người đều tiếp tục đi hết 2 ngôi chùa còn lại. Chúng tôi phải đi bộ thật xa từ cổng vào chùa, m?t lâu đài đồ sộ tráng lệ nguy nga. Liên Hiệp Quốc đã từng giúp tiền để trùng tu, nhưng màu đen vẫn đen, cỏ cháy vẫn cỏ cháy vì nắng quá sức. Thời tiết nóng nhưng có gió, nếu không nó khó có thể quyến rũ được khách thập phương đến thường. Từng bậc thang thẳng t?p, cao vút, du khách từng đoàn từng đoàn. Lâu đài cổ kính được mở cửa từ 5 giờ sáng vì ở Miên mặt trời lên rất sớm. Trong lâu đài âm u không có bóng đèn, không có điện, nhưng kiến trúc sư tài ba đem từng tảng đá chồng chất lên; không có xi măng nhưng không ai biết tại sao những tảng đá ấy có thể đứng vững hàng bao nhiêu năm trời rồi. Một người trong đoàn là Vannak nói:
-Em đã từng đi khắp nơi trên thế giới không ngờ hôm nay em được đến Miên, nơi có những cây cổ thụ hành ngàn năm, sừng sững phơi gan cùng tuế nguyệt.
Đi càng lâu thì những bước chân chúng tôi càng chậm chạp. Trong chùa, tượng Phật có hàng ngàn năm, ngai vàng của vua, chiếc áo long bào vàng rực bằng vàng quyến rũ khách thập phương. Không ai dám đưa bàn tay chạm vào những vật này.
image.jpeg
The Killing Fields
Ông Frank và phái đoàn Young Life
Tôi rất phục những người có lòng, giúp người nghèo khó, giúp những đứa trẻ mồ côi, nuôi nấng cho nên người, ông Frank trong phái đoàn Young Life nói:
-Cambodia có nhiều gỗ, tôi sẽ giúp cho những người trẻ này làm một cơ sở thương mại, tôi sẽ cho giáo sư từ Mỹ sang để dạy các em làm thủ công nghệ. Và tôi có thể giúp các em mở nhà hàng để các em có lợi tức hàng tháng để mướn thêm nhân viên và để giúp đỡ thêm một số nhân công.
Ông Frank từ xưa đến nay ít nói, thường trầm ngâm suy tư, nhưng mỗi khi ông nói điều gì là ông thực hiện được điều đó. Ông hỏi tôi:
-Chị có thể tin được những người trẻ này không?
Tôi trả lời không do dự:
-Tôi tin, tôi tin họ có khả năng làm việc, tôi tin sự chân thật của họ.
Ông Frank là một người làm việc thiện nguyện nhiều năm trước khi giữ chức tổng giám đốc điều hành một cơ sở từ thiện, dưới quyền có 6 trung tâm khác. Ông phải được anh chị em phục mới có thể có một ban điều hành đông đảo và các thiện nguyện viên rất đông như thế.
Người trẻ điều hành có đời sống vất vả từ lúc tuổi thơ, mẹ đi làm lao động vất vả 50 xu một giờ, nuôi con tốt nghiệp đại học, em này rất có hiếu với mẹ vì suốt tuổi thơ của em, em ở với mẹ và được mẹ nuôi cho tới lớn khôn. Vợ chồng cùng làm việc cho Young Life. Gặp phái đoàn, họ đem vợ con theo. Họ sống rất gia đình và đùm bọc lẫn nhau.
Phu nhân ông Frank rất có lòng, gởi tiền mua quà cho con của người đại diện, và cho các em trong đoàn thiện nguyện. Các em rất cảm kích trước tình cảm của bà Frank, bà quan tâm từng cái áo cho trẻ con. Và bà rất tế nhị sợ rằng gởi tiền các em không nhận nên mua quà gởi cho mẹ, và các con của người đại diện Young Life ở Cambodia.
Có duyên thì sẽ gặp, người gặp nhau hôm nay chưa chắc ngày mai còn gặp nữa, nên mỗi người vui vẻ với nhau, đối xử với nhau như ruột thịt, giúp ai được việc gì thì giúp ngay.
Ông Frank nói tiếp:
-Nếu có hãng làm thủ công nghệ, thì công ty ở Mỹ sẽ mua đem về Mỹ phân phối.
Ông Frank rất thông minh, là thương gia nhiều năm kinh nghiệm trên thương trường, trong cuộc đời của ông thành công nhiều hơn thất bại. Ông được giáo sư Dan, và ông Cliff rất quý mến. Giáo sư Dan nói:
-Tôi mời ông bà Frank đi trong đoàn để ông bà nhìn tận mắt việc làm của chúng tôi để ông bà giúp cho các trẻ em nghèo và hiếu học.
Ông Frank nói:
-Tôi làm việc từ thiện rất nhiều nhưng chưa bao giờ đi theo đoàn từ thiện từ ngày này qua ngày khác. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đi với đoàn từ thiện Young Life.
Ông Frank là công dân Mỹ nhưng đầu tư ở khắp nơi, ông bay đi khắp nơi và ông đầu tư nhiều nơi trên thế giới. Một trong những điều quan trọng nhất của con người là chữ tín; ông hứa điều gì, ông làm điều đó, cho nên nhiều người tin tưởng ở ông, ông hứa là ông làm.
Xây dựng một cơ sở từ thiện phải tốn nhiều tiền và làm việc liên tục nhiều năm. Người làm việc từ thiện lãnh lương rất ít, làm việc rất nhiều kể cả ngày thứ Bảy, Chúa Nhật và ngày lễ.
Ở Cambodia người nghèo rất nhiều nhưng tôi chưa từng thấy người ăn mày ở trước tiệm ăn, hay ngoài phố. Chúng tôi đến thăm một ngôi chùa cổ, rất đẹp, uy nghi trên ngọn đồi, trước cổng có đề: Người ngoại quốc trả $1, người dân bản xứ không phải trả tiền, nhưng người Á Châu cũng màu da vàng nên có nhiều người không mua vé vẫn vào không ai xét hỏi. Chỉ có người Âu Châu, Úc, và Mỹ Châu thì phải mua vé vì dễ phân biệt họ là người da trắng.
Ông Frank mua hoa đèn cắm trước bàn Phật và ông cầu nguyện rất trang nghiêm.
Người đến chùa đều bỏ giầy dép ngoài cửa. Đây là một ngôi chùa tư nhân, do một phụ nữ giàu mua đất cất chùa để thiện nam tín nữ đến cầu nguyện. Tượng Phật to sừng sững ở chánh điện, người ra vào tấp nập. Xung quanh là rừng cây, cây cổ thụ thật to hàng trăm năm; dưới đồi là phố phường tấp nập người qua lại, buôn bán làm ăn. Trước cổng chùa có những xe nước dừa bán cho du khách qua lại. Cambodia nóng như lửa nên ai cũng uống nước dừa và ăn trái cây hàng ngày.
Người ăn mày không đứng, hoặc ngồi trước cửa nhà hàng hay ở đường phố nhưng có những người tàn tật như cụt tay, cụt chân, tê liệt ngồi trên xe lăn hay chống gậy trước cửa chùa. Ông bà Frank hay cho tiền những người này, họ cho mỗi lần 5 đô la, người nhận tiền cám ơn lia lịa bằng tiếng Miên, số tiền này rất lớn vì 1 đô la là 4,000 đồng Miên, và làm lao động mỗi giờ chỉ có 50 xu.
image.jpeg

Phái đoàn Young Life

Đất nước bình yên
Ở Pnom Penh nhiều ngày chưa bao giờ ai dặn chúng tôi rằng ra đường coi chừng cái bóp, coi chừng máy ảnh, đừng mang bóp hay máy ảnh trên vai. Xứ sở thanh bình mặc dầu trước kia không bao lâu đã có sự giết người tập thể, tàn sát lẫn nhau, người Miên giết người Miên, Khmer Đỏ giết người quốc gia Cambodia. Nếu du khách chưa từng đến Cambodia, bây giờ đến thì sẽ cảm thấy bình yên trong tâm hồn, bình yên với rừng núi bao la, với sông xanh mướt, với trái cây ngọt lịm.
Rời Cambodia với cảm tình nồng nhiệt, hình ảnh mấy trăm em vẻ mặt ngây thơ trong sáng, làm việc thiện một cách nhiệt tình. Ngồi trên máy bay, tôi còn quay đầu nhìn qua khung cửa một đất nước nhiều đau thương nhưng có những con người chân thật dễ thương và một tấm lòng quyết chí vươn lên.
Cầu xin Ơn Trên ban phúc lành cho người Cambodia sớm kiến tạo lại xứ sở của họ. Hiện nay có nhiều đoàn thể từ thiện quốc tế đang có mặt ở Cambodia để giúp đỡ những người nghèo, trẻ em mồ côi, và người tàn tật. (kmd)

 

(VienDongDaily.Com - 27/04/2015

Last Updated ( Monday, 04 May 2015 19:57 )
 
Page 5 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account