CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học

Văn Học

ANH BẰNG: Người Nhạc Sĩ Của Dân Tộc Việt Nam

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

Buổi tối thứ Năm ngày 12 tháng 11, khi trời vào cuối mùa Thu đã bắt đầu se lạnh, tin buồn về Nhạc sĩ Anh Bằng đã vĩnh viễn ra đi làm bàng hoàng những ai đã từng biết và yêu mến ông. Vậy là người nhạc sĩ tài hoa đã trở về với quê hương Việt Nam thân yêu, nơi có một huyện nhỏ tên Nga Sơn nằm trong tỉnh Thanh Hóa. Vậy là từ nay, người nhạc sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp đã gắn liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã vĩnh viễn ra đi. Người nhạc sĩ với bản tình ca "Nỗi Lòng Người Đi", một nhạc phẩm đã đưa tên tuổi của ông trở thành một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam vì bài hát chất chứa tâm tình của hàng triệu người di cư từ Bắc vào Nam khỏi chế độ cộng sản. Rồi cũng bài hát này, dường như lại tiếp tục là nỗi lòng của những người Việt phải từ bỏ quê hương sau biến cố năm 1975.

Dòng nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng thật đa dạng, dường như ông dùng nốt nhạc để viết thay cho tâm tư của tất cả mọi người. Từ những lời tâm sự của những đôi tình nhân, nỗi nhớ nhung của những người yêu của những anh lính chiến xa nhà, đến những ca khúc kêu gọi những người lính bên kia chiến tuyến trở về với chính nghĩa quốc gia, v.v. Dòng nhạc của ông cũng là tiếng nói của người anh viết thay cho những thân phận của những đứa em mồ côi trong xã hội, của những người mẹ chết vì đạn bom chiến tranh do cộng sàn gây ra, v.v...Và sau hết, dòng nhạc của ông là tiếng nói đấu tranh mạnh mẽ cho quê hương Việt Nam mà ông đã viết lên nhiều ca khúc trong những năm tháng cuối đời. Có thể nói những nhạc phẩm của ông đã đi vào lòng dân tộc vì chính ông là người nhạc sĩ của dân tộc với một trái tim luôn dành cho quê hương, đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhắc đến kho tàng âm nhạc mà nhạc sĩ Anh Bằng để lại cho đời, khán giả ái mộ hầu hết đều biết đến qua những bản nhạc tình ca nổi tiếng từ nhiều thập niên qua của ông, như trước năm 1975 với những nhạc phẩm như "Nỗi Lòng Người Đi", "Nếu Vắng Anh", "Hoa Học Trò", "Người Thợ Săn và Đàn Chim Nhỏ", v.v. và sau năm 1975, khi ông định cư ở Hoa Kỳ với những nhạc phẩm như "Anh Còn Nợ Em", "Căn Gác Lưu Đày", "Chuyện Hoa Sim", "Chuyện Giàn Thiên Lý", "Khúc Thụy Du", "Kỳ Diệu", "Mai Tôi Đi", v.v. mà không ít những ca sĩ đã thành danh với những ca khúc bất hủ này. Và sau cùng, chúng ta không thể không nhắc đến dòng nhạc đấu tranh của ông với những ca khúc như "Đừng Im Tiếng Mà Hãy Lên Tiếng", "Cả Nước Đấu Tranh", v.v. Điểm đặc biệt ở dòng nhạc đấu tranh của ông là mặc dầu ông đã từng là tù nhân của cộng sản trong trại Lý Bá Sơ, mang bản án tử hình và có người anh trai bị cộng sản sát hại, nhưng nét nhạc của ông dù hùng tráng nhưng không có tính sắt máu. Những ca khúc đánh động vào lòng người nghe với những lời hát mạnh mẽ, ngắn gọn và súc tích.

Chúng tôi đến thăm ông trong những ngày cuối cùng trong căn nhà trên đồi Orange lộng gió, khi những nhận thức cuối cùng về thế giới xung quanh đang từ từ rời bỏ ông ra đi. Dù biết rằng sớm hay muộn, ngày đó cũng sẽ đến, nhưng tôi vẫn đón nhận tin về sự ra đi của ông với một cảm giác hụt hẫng, bàng hoàng và không muốn tin dù đó là sự thật. Chú đã thật sự ra đi rồi sao?

Trước đây, tôi đã có dự định sẽ góp nhặt những kỷ niệm trong suốt 6 năm có dịp gần gũi và sinh hoạt với nhạc sĩ Anh Bằng để viết một bài nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của ông vào tháng 5 năm 2016. Tuy nhiên, ngày kỷ niệm sinh nhật đó sẽ không bao giờ thực hiện được như dự tính của chúng tôi và thay vào đó là bài viết hôm nay như một lời chia tay với nhạc sĩ Anh Bằng.

Sáu năm có dịp gần gũi với Nhạc sĩ Anh Bằng là một khoảng thời gian tuy không dài so với tuổi đời gần 90 năm của ông, cũng như so với khoảng thời gian hơn sáu thập niên mà nhạc sĩ Anh Bằng đã gắn bó với nền âm nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, tôi cảm thấy thật may mắn vì đó là khoảng thời gian mà tôi được biết thêm nhiều điều về quá trình sinh hoạt trong âm nhạc của ông từ trong nước ra đến hải ngoại cũng như có dịp học hỏi thêm nhiều điều từ ông.

Sáu năm chất chứa quá nhiều kỷ niệm với những câu chuyện buồn vui mà hai chú cháu đã có dịp chia sẻ với nhau để tôi có thể ghi lại hết trong một bài viết, nhưng tôi sẽ cố gắng ghi lại những chi tiết chính để tỏ lòng tri ân đến người nhạc sĩ tài hoa của nền âm nhạc Việt Nam và cũng là vị Thầy, bậc Niên Trưởng của chúng tôi. Trong khuôn khổ của bài viết này, tôi không muốn lập lại nhiều những điều mà các bài viết, các tài liệu trên các báo chí, các đài truyền thanh, các trang mạng đã viết hay đăng tải rất nhiều về tiều sử của nhạc sĩ Anh Bằng. Tôi chỉ xin chia sẻ những gì cá nhân tôi được biết về Chú.

Trước hết, tôi xin phép được giải thích về chữ "Chú" mà tôi vì thói quen vẫn thỉnh thoảng dùng trong bài viết khi nhắc đến nhạc sĩ Anh Bằng. Lần đầu tiên tôi gặp nhạc sĩ Anh Bằng trong buổi ra mắt sách "Kỷ Niệm về Nhạc Sĩ Anh Bằng - Dòng Nhạc Trong Lòng Dân Tộc" do Văn Đàn Đồng Tâm thực hiện vào năm 2009. Không hiểu sao, tôi đã gọi nhạc sĩ Anh Bằng bằng "Chú". Có lẽ do cách cư xử rất gần gũi như đã thân quen từ lâu của Chú dành cho tôi trong lần đầu gặp mặt. Sau này, tôi thấy các anh chị em ca nhạc sĩ thường gọi nhạc sĩ Anh Bằng là "Ông" hay "Bác", nên tôi ngỏ ý muốn đổi sang cách gọi như vậy. Tuy nhiên, khi nghe tôi nói đến chuyện thay đổi trong cách xưng hô, nhạc sĩ Anh Bằng nhìn tôi với nụ cười hiền hòa và cho biết rằng đó là cách xưng hô mà ông thích và cứ gọi ông như thế. Kể từ đó, tôi dùng chữ "Chú" trong những email mà Chú và tôi trao đổi với nhau. Ngược lại, Chú cũng thường dùng cụm từ "CCM", viết tắt cho chữ "chú cháu mình" trong những email mà Chú gửi cho tôi.

Trong một bài viết trước đây về sự ra đời của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ (CLB TNS), tôi đã có dịp kể về cơ duyên mà tôi có dịp được cùng với Chú và nhà văn Việt Hải thành lập Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. Lý do tôi nhắc lại chi tiết này trong bài viết vì nhờ vào sự ra đời của CLB TNS mà tôi có dịp gần gũi với nhạc sĩ Anh Bằng hơn và đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp về Chú mà tôi xin được chia sẻ một số kỷ niệm trong bài viết này.

Trong những năm tháng được quen biết nhạc sĩ Anh Bằng, một trong những điều tôi rất quý mến ở ông là tinh thần lạc quan. Trong khoảng thời gian mặc dầu biết rằng mình mang trong mình căn bệnh ung thư quái ác, nhưng ông vẫn giữ một tinh thần lạc quan, vui vẻ với nụ cười hiền hòa luôn nở trên môi. Có những lúc chúng tôi gặp những chuyện rắc rối trong sinh hoạt nội bộ, ông là người luôn khuyên Ngọc Bích và tôi cố gắng giữ tin thần lạc quan, vui vẻ và đừng để những sự lo lắng ảnh hưởng đến sức khoẻ. Có những lúc đến thăm ông, tôi vẫn nhớ ông lộ vẻ lo lắng nếu như ông chợt bắt gặp nét u buồn trên khuôn mặt của Ngọc Bích và ông luôn khuyên Ngọc Bích đừng buồn. Ông cũng từng tâm sự với chúng tôi là chính vì tạo cho mình được cách sống vui vẻ, lạc quan đó đã giúp ông vượt qua rất nhiều trở ngại, khó khăn trong cuộc sống cũng như chiến đấu với bệnh tật.

Chính vì lối sống yêu đời, luôn lạc quan này mà có lẽ trong số những nhạc sĩ gạo cội của nền âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Anh Bằng là một trong những người được công chúng yêu mến nhất. Những ai đã từng có dịp gặp gỡ và tiếp xúc với ông, cũng dễ dàng cảm nhận được điều đó và hình như ông cũng chưa làm buồn lòng ai bao giờ.

Vì bị trở ngại về thính giác, nên mỗi lần gặp ông, chúng tôi thường phải ngồi sát cạnh bên và cố nói đúng "tần số" để ông có thể nghe được. Nếu nói to quá hoặc nói nhanh quá, ông cũng không thể nghe rõ. Đối với những vấn đề gì quan trọng mà chúng tôi cần trao đổi với ông, chúng tôi thường viết xuống giấy để ông có thể hiểu rõ hơn. Mỗi khi bước vào những tiệm ăn, điều làm ông lo lắng là khi gặp người quen chào hỏi vì ông không hiểu họ muốn nói điều gì với ông. Những lúc đó, trông ông thật tội nghiệp vì ông cứ lo lắng sợ làm phật lòng người đến chào hỏi vì ông không biết họ nói gì để trả lời.

Đối với các anh chị em nghệ sĩ trong nhóm, dù tuổi cao, ông vẫn nhớ đến tên của một số người và luôn quan tâm hỏi thăm nếu như ông không thấy anh chị đó xuất hiện trong một vài lần trình diễn. Tôi cũng có dịp thấy sự quan tâm của ông dành cho mọi người. Ví dụ như nếu như có người nào ông nhận được thư và hồi âm cho họ, nhưng sau đó không thấy người nhận trả lời, ông lo lắng hỏi tôi là không biết người mà ông gửi có nhận được không hay có buồn lòng gì về ông không.

Với hoài bão muốn thành lập một tổ chức cho các ca nhạc sĩ đoàn kết để cùng giúp đỡ lẫn nhau trong sáng tác và nâng đỡ những tài năng mới, nhạc sĩ Anh Bằng đã email chia sẻ ý nguyện này của ông và mong muốn tôi sẽ cùng ông đứng ra thành lập một tổ chức quy tụ các anh chị em nghệ sĩ đến cùng sinh hoạt và tương trợ lẫn nhau. Lúc đầu, tôi e ngại vì không có nhiều thời gian do bận rộn với công việc và gia đình, nên tôi phải từ chối lời mời của ông. Tuy nhiên, đứng trước sự nhiệt tình và tấm lòng thiết tha của ông cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam ở hải ngoại dù tuổi đời của ông đã cao đã làm tôi thay đổi quyết định và nhận lời. Vào tháng 3 năm 2010, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đã được chính thức ra mắt và bản nhạc đầu tiên mà tôi có dịp hân hạnh sáng tác chung với nhạc sĩ Anh Bằng là bài "Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc" đã ra đời sau đó.

Nhắc đến ca khúc đầu tiên mà tôi được hân hạnh viết chung với nhạc sĩ Anh Bằng, tôi có một vài kỷ niệm khó quên. Khoảng hơn 7 tháng sau khi CLB Tình Nghệ Sĩ được thành lập, trong một buổi gặp gỡ với nhạc sĩ Anh Bằng, ông đề nghị tôi viết bản nhạc hành khúc cho CLB TNS rồi sau đó ông sẽ xem và cho biết thêm ý kiến sửa đổi. Thú thật lúc đó tôi chỉ nghĩ là ông nói đùa vì không nghĩ rằng mình có cái hân hạnh được sáng tác chung với ông. Tên tuổi của nhóm Lê Minh Bằng với ba vị nhạc sĩ tiền bối là nhạc sĩ Anh Bằng, nhạc sĩ Lê Dinh và nhạc sĩ Minh Kỳ đã đi vào huyền thoại của nền âm nhạc Việt Nam từ năm 1966 với nhiều ca khúc nổi tiếng như Đêm Nguyện Cầu, Linh Hồn Tượng Đá, Chuyện Tình Lan và Điệp, v.v. Vì vậy, tôi không nghĩ mình có cơ may để hân hạnh đứng tên chung trong một sáng tác với nhạc sĩ Anh Bằng. Tôi cũng đã có dự định sáng tác một bản hành khúc cho CLB TNS như trước đó tôi đã viết bản "Hành Khúc Viết Về Nước Mỹ" cho một giải thưởng mà tôi đã tham gia và rất ngưỡng mộ. Sau đó ít lâu, một biến cố đau buồn đã xảy đến cho gia đình nhạc sĩ Anh Bằng. Người con trai của ông qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ. Chắc chắn nỗi đau mất con này của người cha khó có thể nguôi ngoai, đặc biệt là ở một người giàu tình cảm và luôn quan tâm đến gia đình như nhạc sĩ Anh Bằng. Vài tuần sau đó, khi có dịp gặp lại ông, tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe ông hỏi tôi đã viết xong bản nhạc chưa vì ông muốn bài hát được thực hiện cho xong để kịp trình diễn trong ngày kỷ niệm Đệ Nhất Chu Niên. Thế là tôi gấp rút bắt tay vào viết xong bản nhạc để gửi cho ông xem và cho ý kiến sửa đổi. Bản nhạc "Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc" sau này đã được các anh chị em hát trong ngày kỷ niệm Đệ Nhất Chu Niên và trong những chương trình của CLB TNS tổ chức sau đó như bản nhạc hiệu. "Tình nghệ sĩ từ bốn phương trời, về nơi đây cùng hát vang lời..." Đó cũng là hoài bão mà người nhạc sĩ kính yêu của chúng ta mong muốn thực hiện trong việc kết chặt tình thân giữa các anh chị em nghệ sĩ từ khắp bốn phương trời.

Tuy có tấm lòng vị tha và đức tính hiền hòa, nhưng nhạc sĩ Anh Bằng lại rất cương quyết trước bọn cộng sản trong nước cũng như lòng căm phẩn cao độ đối với quân xâm lược Trung cộng. Có những hành động nho nhỏ của ông mà tôi để ý thấy, như có những lần đi ăn trưa với nhạc sĩ Anh Bằng, ông nhất quyết không bao giờ dùng những đôi đũa làm từ Trung quốc thường được bọc sẵn trong giấy. Có lần đến một nhà hàng chỉ có loại đũa này, nhạc sĩ Anh Bằng đã dùng nĩa để ăn thay vì ăn bằng đũa. Trong một dịp khác, chúng tôi được nhạc sĩ Anh Bằng kể cho nghe là ông muốn mua một cái chậu để trồng hoa. Công việc tưởng chừng như đơn giản, tuy nhiên, những cái chậu bày bán trong những ngôi chợ gần nhà toàn dán hàng nhãn hiệu "Made in China". Ông phải lặn lội đi tìm một cái chậu không được chế biến từ Trung cộng dù phải đi xa và mua với giá đắt hơn rất nhiều.

Riêng đối với tôi, chúng tôi bắt đầu quen biết Nhạc sĩ Anh Bằng ở thời điểm mà quê hương Việt Nam ngày càng bị sự xâm lấn và ức hiếp của Trung cộng và mọi người ngày càng thấy rõ sự yếu hèn của nhà cầm quyền cộng sản. Với tình yêu quê hương đất nước và luôn trăn trở trước sự tồn vong của quê hương trước hiểm họa ngoại xâm, nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tác một số ca khúc đấu tranh như "Đừng Im Tiếng Mà Hãy Lên Tiếng", "Cả Nước Đấu Tranh", v.v. Khi Ban Hợp Ca của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ ra đời và bắt đầu tham gia hát trong những chương trình văn nghệ tranh đấu cho quê hương Việt Nam, ông khuyên tôi tiếp tục sáng tác những bài hùng ca cho các anh chị em trong ban hợp ca hát. Song song với đó, ông cũng khuyến khích tôi cùng sáng tác với ông những bản nhạc đấu tranh. Với sự khích lệ của ông, bài hát "Thắp Sáng Việt Nam" và sau đó là bài "Việt Nam Ơi! Việt Nam Ơi!" đã ra đời.

**Đêm nhạc Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng**

Ngày 12 tháng 11, năm 2015, nền âm nhạc Việt Nam của chúng ta mãi mãi mất đi một thiên tài đã cống hiến một kho tàng âm nhạc vô giá với hơn 600 ca khúc ông đã để lại. Riêng đối với Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, chúng tôi mất đi một người Sáng Lập Viên, một người Thầy, một vị Niên Trưởng khả kính luôn quan tâm, hướng dẫn và hỗ trợ tinh thần cho các anh chị em trong Ban Văn Nghệ của CLB TNS.

Trong niềm thương tiếc và để tưởng nhớ đến ông, chúng tôi dự định sẽ tổ chức một chương trình Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng. Lúc đầu, chương trình tưởng niệm được dự định sẽ tổ chức sau khi tang lễ của Nhạc sĩ Anh Bằng đã xong và mọi người đã nguôi ngoa phần nào nỗi đau thương. Tuy nhiên, khi tôi liên lạc với anh Lê Hoan để hỏi thăm về việc tổ chức chương trình trên đài của anh như chúng tôi đã từng tổ chức Đại Nhạc Hội live show "Hát Cho Quê Hương Việt Nam" vào tháng Tư vừa qua, anh Giám đốc của Đài TV đề nghị là chúng tôi nên thực hiện chương trình sớm trong khi mọi người vẫn còn trong niềm thương tiếc nhạc sĩ Anh Bằng. Anh đề nghị tổ chức chương trình vào ngay ngày hôm sau, tức là vào ngày thứ Bảy 14 tháng 11.

Trong một khoảng thời gian chỉ hơn 24 tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị. Sau một thông báo ngắn gọn được gửi ra cho các thành viên trong Ban Văn Nghệ, chỉ trong một thời gian ngắn, đã có hơn 20 anh chị em ghi tên tham dự.

Khi ngồi soạn lời giới thiệu cho các bản nhạc, lòng tôi cứ dâng lên niềm xúc động vì cứ mỗi bản nhạc mà tôi dự định đưa vào chương trình thì làm tôi lại nhớ đến một vài kỷ niệm của riêng cá nhân tôi với ông lúc còn sinh tiền.

Bản nhạc mở màn do Ban Hợp ca của CLB Tình Nghệ Sĩ trình diễn là ca khúc "Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc" với những kỷ niệm mà tôi đã chia sẻ ở phần trên khi có dịp sáng tác chung với nhạc sĩ Anh Bằng. Chúng tôi chọn bài hát này để mở đầu cho chương trình tưởng niệm như một lời chia tay gửi đến ông, người nhạc sĩ kính mến với hoài bão thành lập một tổ chức nhằm đoàn kết các anh chị em ca nhạc sĩ ở hải ngoại để khuyến khích và hỗ trợ nhau trong việc sáng tác, ca hát đồng thời nâng đỡ những tài năng mới trong mục đích bảo tồn và phát huy nền văn hoá Việt Nam ở hải ngoại. Đài TV đã trích một đoạn ngắn lời phát biểu rất mộc mạc và chân tình của Chú về lòng yêu quê hương, đất nước qua những ca khúc đấu tranh bất bạo động, kêu gọi mọi người ý thức và tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc, đứng lên bảo vệ quê hương nên không có lý do gì mà những người cầm quyền cộng sản phải cấm cản. Các anh chị em trong Ban Văn Nghệ đã quen thuộc với giọng nói của ông trong những buổi sinh hoạt văn nghệ trước đây, mà lần cuối cùng khi ông đến tham dự chương trình khi Ban Văn Nghệ CLB TNS đến hát ở đài SBTN để yểm trợ cho chương trình gây quỹ cho đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi. Lần đó, mặc dầu sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng đã bắt đầu có những triệu chứng bất ổn, nhưng ông vẫn cố gắng đến và chụp chung tấm hình kỷ niệm với các anh chị em.

Không ai có thể ngờ rằng đó cũng là tấm hình cuối cùng mà tất cả mọi người trong Ban Văn Nghệ có dịp chụp chung với ông. Lần đó, ông cho biết rất vui khi thấy sự lớn mạnh và phát triển của CLB Tình Nghệ Sĩ theo thời gian. Giờ đây, khi nghe lại giọng nói thân quen mà các anh chị em trong ban văn nghệ biết rằng sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn có dịp được thấy ông, một vài người không ngăn được những dòng nước mắt. Từ station của chỗ dành cho MC điều khiển chương trình cùng với Mỹ Linh, tôi nhìn qua sân khấu và thấy lòng mình như chùn xuống khi nghe những tiếng sụt sùi và thấy những giọt nước mắt của các anh chị em...

Một bản nhạc đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng được chọn để trình diễn trong chương trình là nhạc phẩm "Nỗi Lòng Người Đi". Chắc chắn nhiều độc giả còn nhớ câu chuyện mạo nhận bài hát này từ một nhạc sĩ trong nước. Tôi còn nhớ lúc đó, chúng tôi rất lo lắng vì sợ việc này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần và sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến gặp, ông vẫn giữ một thái độ rất điềm nhiên, khuyên chúng tôi không nên nao núng và giữ bình tỉnh trước sự việc này. Cũng qua sự việc mạo nhận bài hát này mà tôi biết thêm nhiều chi tiết do ông kể liên quan đến bài hát để tôi có thể dùng làm tài liệu viết bài phản biện bài viết của nhà báo Nguyễn Thụy Kha khi ông ta đưa ra những chi tiết không đúng sự thật. Bài viết "Cảm Nhận Sau Khi Đọc Bài Tôi Xa Hà Nội" của tôi viết đã được đăng và còn lưu lại trên một số báo và các trang website. Một vài chi tiết lịch sử mà tôi được ông kể lại, ví dụ như những chiếc tàu há mồm chở người di cư từ Bắc vào Nam thường đậu sát bến cảng, chứ không đậu xa ở ngoài cửa biển để chàng nhạc sĩ mạo nhận bài hát và cô người yêu có dịp ngồi trên con thuyền nhỏ chèo ra cửa biển trong khi anh nhạc sĩ hát và dạy người yêu bài "Tôi Xa Hà Nội" trong những cơn sóng nước vỗ vào mạn chiếc thuyền như bài viết nhắc tới. Một chi tiết khác trong bản nhạc "Nỗi Lòng Người Đi" mà có lẽ ít ai biết đến khi ở đoạn cuối, nhạc sĩ Anh Bằng cho biết hình ảnh "tôi hái hoa tiên cho đời" đã được ông dựa vào một câu chuyện truyền thuyết là có một bông hoa trên trời và nếu ai hát được để tặng người yêu, thì tình yêu của họ sẽ được bền vững. Khi biết được chi tiết này qua lời ông kể, người đọc sẽ thấy sự thêu dệt khi ông Khúc Ngọc Chân cho rằng ông ta liên tưởng đến hình ảnh cánh tay giơ tay lên cao của Nữ Thần Tự Do của Hoa Kỳ để viết thành câu "tôi hái hoa tiên cho đời"! Trong thời điểm lịch sử năm 1954, quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam chưa có sự hiện diện ở Việt Nam và chắc chắn hình ảnh về nữ Thần Tự Do của Hoa Kỳ còn là một hình ảnh rất xa lạ vào thời gian đó. Sau này, bản nhạc "Nỗi Lòng Người Đi" cũng đã được trả lại cho tác giả của nó, là nhạc sĩ Anh Bằng, nhưng qua sự việc này, tôi học được tính điềm tỉnh của ông khi đối phó với việc mạo nhận này cũng như những bài viết "thừa nước đục thả câu" của một số người khác có ý tấn công cá nhân ông do sự ganh tị từ trước.

Trong số nhiều ca khúc nổi tiếng được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc, chúng ta không thể không nhắc đến ca khúc "Chuyện Hoa Sim". Đây là một bài hát được phổ từ bài thơ "Màu Tím Hoa Sim" do thi sĩ Hữu Loan sáng tác từ năm 1949. Bài thơ đã được một vài nhạc sĩ khác phổ nhạc như nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng qua cách phổ nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng, bài hát mang một phong cách riêng, và đã được khán giả yêu thích khi lần đầu tiên được ca sĩ Như Quỳnh trình bày. Đó là phong cách phổ nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng mà khi chúng tôi có dịp nghe ông tâm tình là làm sao khi phổ nhạc, người nghe không biết đó là một bài hát được phổ từ thơ. Khi tôi tò mò hỏi bí quyết sáng tác nào để những nhạc phẩm của ông có thể đi vào lòng người, ông cho biết ông thích viết theo lối ngũ cung vì nó gần gũi với âm hưởng của dòng nhạc dân ca Việt Nam. Ông cũng chỉ cho tôi biết cách thức viết nhạc theo lối ngũ cung của ông. Nhìn ông cặm cụi với đôi tay run run ghi nốt minh họa xuống trên trang giấy, tôi cảm thấy thật cảm động trước tấm lòng của ông luôn mong muốn truyền lại những kinh nghiệm cho thế hệ tiếp nối. Theo ông, điều quan trọng nhất để cho bài hát dễ đi vào lòng người, không phải chỉ về phương pháp và cách thức sáng tác, mà làm sao cho bài nhạc "khi hát lên phải dễ hát, dễ nhớ và có hồn".

Điểm đặc biệt và đáng phục ở ông là để cho bản nhạc dễ đi vào lòng người và có "hồn", khi ông phổ nhạc những bài thơ của bạn bè, đôi khi ông chỉ dùng ý tưởng khoảng 30 phần trăm từ bài thơ, nhưng lúc nào ông cũng dành sự trân trọng bằng cách ghi tên của thi sĩ vào phần lời thơ mà không ghi tên mình vào. Đó là một đức tính rất khiêm nhượng rất đáng quý.

Một bài hát khác được chọn để hát trong chương trình tưởng niệm là nhạc phẩm "Anh Còn Nợ Em". Đây là một ca khúc đã trở nên rất quen thuộc đối với quần chúng, được ông phổ nhạc từ bài thơ của thi sĩ Phan Thành Tài. Tôi không muốn bàn đến khía cạnh nhạc hay nội dung của bài hát, mà xin được kể lại kỷ niệm vui với ông qua bài hát này. Lần đó, chúng tôi có dịp đi ăn ở quán phở "Hoa Soan Bên Thềm Cũ" mà nhạc sĩ Tuấn Khanh vừa khai trương trước đó không lâu. Trong khi ăn, ông cho biết ông nấu phở cũng rất ngon và ông ước gì cũng mở một quán phở, cũng như nhạc sĩ Tuấn Khanh, và lấy tên từ một nhạc phẩm nổi tiếng của ông là bài "Anh Còn Nợ Em" để đặt tên cho tiệm phở. Ông cười rất hồn nhiên và đùa rằng tiệm phở "Anh Còn Nợ Em" chắc chắn sẽ đông khách không thua gì tiệm phở "Hoa Soan Bên Thềm Cũ". Tôi nhìn ông với ánh mắt ái ngại và lo là với sức khoẻ của ông và thời gian mà ông bận rộn không ngừng nghỉ với công việc sáng tác, thì làm sao ông có thể mở và trông coi một nhà hàng. Tuy nhiên, câu trả lời của ông đã làm cho tôi thật xúc động. Ông nói ông rất thương và tội nghiệp cho các anh chị em trong Ban Hợp Ca của CLB TNS đã hy sinh nhiều thời gian và công sức để tham gia các buổi tập dợt cũng như đi hát trong những chương trình cuối tuần hoàn toàn thiện nguyện, nên ông mong muốn nếu tiệm phở thành công, ông sẽ dùng tiền lời thu được để giúp cho các anh chị em. Ước mơ đó sẽ không còn thực hiện được, nhưng tấm lòng của ông dành cho các anh chị em trong CLB TNS chắc chắc sẽ mãi mãi để lại trong tim mọi người một hình ảnh thật đẹp về nhạc sĩ Anh Bằng.

Bài hát mà chúng tôi chọn để kết thúc chương trình Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng là bản nhạc hợp ca mà chúng tôi đã có dịp giới thiệu trên các diễn đàn và được nhiều người ủng hộ trong vài tuần lễ trước đây. Đó là bài hát "Việt Nam Ơi! Việt Nam Ơi!". Một bản nhạc được sáng tác để ca ngợi lịch sử hào hùng, nét đẹp và điểm đặc trưng của ba miền Nam Trung Bắc với ba địa danh của quê hương là Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Khi hai Chú cháu ngồi sửa lại những nốt nhạc cuối cho bản nhạc này, tôi có linh cảm đây sẽ là bài hát cuối cùng mà tôi sẽ có dịp được sáng tác chung với nhạc sĩ Anh Bằng. Sức khoẻ của ông đã sa sút rất nhiều. Ông gần như ăn uống rất ít và luôn cảm thấy bị đau trong người. Lần cuối cùng là chứng đau tai làm ông khổ sở chịu đựng trong vài tuần lễ chữa trị. Tuy đau đớn về thể xác, nhưng tinh thần của ông vẫn luôn rất cao. Ông vẫn quan tâm thăm hỏi các anh chị em trong Ban Văn Nghệ của CLB TNS. Tình yêu quê hương, yêu dân tộc, yêu thương các anh chị em nghệ sĩ mà ông thường ưu ái gọi họ là những "chiến sĩ văn hóa" vẫn như ngọn lửa trong bản nhạc "Thắp Sáng Việt Nam", mãi mãi không bao giờ tắt trong ông.

Nhạc sĩ Anh Bằng đã vĩnh viễn ra đi, nhưng di sản âm nhạc đồ sộ mà ông đã để lại cho nền âm nhạc Việt Nam sẽ mãi mãi được trường tồn. Tấm lòng yêu thương quê hương, dân tộc và đấu tranh không ngừng nghỉ cho quê hương sớm có ngày được tự do, dân chủ qua những bản nhạc hùng ca đầy khí thế quật cường sẽ được sống mãi trong lòng mọi người. Riêng đối với chúng tôi, hình ảnh của ông sẽ mãi mãi là tấm gương sáng của một người Thầy, một vị Nhạc Sĩ Niên Trưởng, một Chiến Sĩ Văn Hoá đáng kính mà chúng tôi có may mắn được là một phần đời của ông; người Nhạc Sĩ Của Dân Tộc Việt Nam.

Cầu mong cho ông được yên nghỉ với nụ cười hiền hoà, không còn phải chịu đựng những nỗi đau về thể xác và chắc chắn linh hồn ông sẽ cùng với chúng ta trở về trên quê hương Việt Nam dân chủ, tự do, nhân quyền trong một ngày không xa.

Một số hình ảnh về NS Anh Bằng trong link bên dưới:

https://www.youtube.com/watch?v=nrVI3BmOL9Q


Cao Minh Hưng
11/2015

Last Updated ( Sunday, 29 November 2015 23:58 )
 

Nhạc Sĩ Anh Bằng Và Tôi

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Xin giới thiệu bài viết của Nhạc sĩ Phan Ni Tấn về Nhạc sĩ Anh Bằng.

 

"Blue Moon"- Đêm "Trăng Thanh" của Nữ Danh Ca Thanh Lan

E-mail Print
User Rating: / 4
PoorBest 

Có lẽ không phải là sự ngẫu nhiên khi "Blue Moon" được chọn là chủ đề của đêm nhạc. Vào mùa Thu, nếu như năm nào có đủ bốn lần trăng tròn trong một mùa, thì đêm trăng tròn lần thứ 3 trong mùa được gọi là trăng xanh hay trăng thanh. Theo chu kỳ, cứ khoảng 2 năm rưỡi đến 3 năm, thì chúng ta mới có một đêm trăng xanh.

Last Updated ( Friday, 23 October 2015 22:56 )
 

Người Bạn Lớn

E-mail Print

Phan Ni Tấn


Để nhớ Bùi Giáng
(Sơn dầu trên giấy 18 x 24 in) – Đinh Cường

Last Updated ( Thursday, 22 October 2015 17:34 )
 

CÁI NẮM TAY

E-mail Print

(Tản Mạn - Phi Yên)

(Sẽ đến một ngày, chúng ta không còn cầm tay nhau lần nào nữa...)

 

Một Thoáng Hương Xưa Qua Nét Nhạc & Cung Đàn

E-mail Print

Sống giữa cuộc sống xô bồ, hỗn độn đến mệt nhoài, nhiều khi tôi thèm ngồi một mình trong tĩnh lặng để nghe lại những bản tình ca xưa của những nhạc sĩ tài danh ở khắp mọi miền đất nước, hầu tìm lại những âm vọng một thời bềnh bồng, phiêu lãng, nay được kết tinh thành những kỷ niệm long lanh. Chỉ thèm một chút hoài niệm nhỏ nhoi thôi, vậy mà cuối cùng, nhờ hạnh của trời và đất đã giúp cho ước muốn của tôi trở thành hiện thực.

 

KÝ SỰ DU LỊCH ALASKA (tiếp theo và hết)

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Khi đến thành phố Skagway, tài xế liền cho xe đậu tại ngã tư đường số 7 Ave và đường Broadway.

Last Updated ( Tuesday, 06 October 2015 16:01 )
 

"Ngoại Ơi Con Vịt Chết Chìm!" (Tùy bút Nguyễn Hà)

E-mail Print


Last Updated ( Friday, 11 September 2015 21:14 )
 

Ký Sự Du Lịch Alaska (Tiếp theo)

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Sau thời gian băng rừng để nhìn tuyết phủ trên núi, chúng tôi liền theo hướng dẫn viên Teresa băng qua một con đường mòn trong rừng để ra lại bến xe buýt hồi nãy. Tại đây, sau khi điểm danh lại số khách du lịch của đoàn chúng tôi, cô Teresa bảo mọi người lên xe và tài xế lái xe trực chỉ đến bờ biển để lên tàu nhỏ ra khơi xem cá voi theo chương trình đã vạch sẵn. Khi xe buýt dừng lại, chúng tôi được hướng dẫn đi băng qua một chiếc cầu tương đối ngắn và nhỏ để đến bến tàu.

Đến bờ biển được khoảng mười lăm phút thì cô Teresa đã liên lạc được ca-nô. Thế là chúng tôi nhảy ngay lên ca-nô nho nhỏ và ông tài công cho nổ máy rồi khởi hành ra biển ngay.

Tàu chạy với tốc độ nhanh làm cho sóng biển rẽ thành hai đường thật đẹp mắt. Trên tàu có một cửa kính được mở ra nên khi có cơn gió thổi mạnh, nước biển theo gió tạt vào trong tàu làm ướt áo vài du khách ngồi xem sóng biển. Cô Teresa đứng ngay bên ông tài công vừa nhìn du khách vừa giải thích và trình bày về địa điểm cũng như thời gian cá voi xuất hiện cho du khách biết. Lại chỉ có một du khách nho nhỏ có đầu óc thích tìm tòi, học hỏi và đam mê những điều mới lạ, nhất là bầy cá voi đang quậy trước cảnh đại dương bao la bát ngát, nên đã liên miên hỏi hướng dẫn viên Teresa về những điều cậu ta muốn biết. Đó là cậu David Châu, 8 tuổi, du khách đã chất vấn cô ta trong rừng thưa mấy giờ trước đây cả đoàn ai cũng biết. Dĩ nhiên cô Teresa cảm thấy rất thích thú khi có người nêu câu hỏi. Vì thế cô ta nhất định làm vừa lòng cậu du khách nho nhỏ này bằng cách từ từ trả lời những câu hỏi của cậu David Châu để làm cho cậu ta thoả mãn. Một du khác người ngoại quốc ngồi bên tôi khi thấy cậu nho nhỏ này cứ hỏi cô Teresa mãi cũng có vẻ thích thú nên nhìn tôi mỉm miệng cười hoài. Bỗng mọi người trên ca-nô la lên rồi chồm về mạn tàu bên phải để nhìn khi thấy mấy con cá voi nhảy lên trên không, lượn vòng đùa giỡn rồi lặn chìm lại xuống biển. Nhìn mấy con cá voi đang đùa giỡn trong nắng giữa biển cả bao la, tôi chợt nhớ đến một bài thơ mang tựa đề “What Whales and Infants Know” của Thi Sĩ Kim Cornwall sáng tác năm 2012:

What Whales and Infants Know

A beluga rising
from the ocean's muddy depths
reshapes its head to make a sound
or take a breath.

I want to come

at air and light like this,
to make my heart
a white arc above the muck of certain days,
and from silence and strange air

send a song

to breach the surface
where what we most need
lives.

Kim Cornwall

Tạm dịch:

Cá voi mẹ và con

 

 

 Một con cá voi nhô đầu lên

từ lòng đại dương

Tạo lại hình dáng của chiêc đầu

rồi phát thành tiếng kêu

hay là đang thở.

 

Tôi muốn đến

 

Giữa lòng đại dương đầy ánh sáng

Như thế này.

Để cho tâm hồn mình

Được uốn lượn thành hình cung màu trắng

Một vài ngày.

Từ sự tĩnh lặng và bầu không khí lạ thường.

 

Gởi một bản tình ca

Làm rối bời

khuôn mặt đại dương

Nơi đây chúng ta cần sự sống.

Kim Cornwall

alt

alt

 

Tung tăng trên mặt nước, khi thì chúng đùa giỡn bên phải, khi thì chúng giỡn đùa bên trái. Tuỳ theo vị trí cá voi xuất hiện, ông tài công cho tàu quay qua quay lại để du khách nhìn được dễ dàng. Vì tàu quay qua, quay lại, quay tới quay lui nên bị chóng mặt rồi say sóng vì chưa bao giờ đi biển cũng như tuổi còn quá nhỏ dại nên cậu David Châu, người thường xuyên làm cho cô Teresa có việc làm, đã phải đến nằm kê đầu vào bố nình vì cảm thấy buồn nôn. Du khách trên tàu vẫn mỏi mắt nhìn ra khơi. Nếu người nào thấy cá voi xuất hiện ở đằng xa thì chỉ tay cho mọi người trên tàu cùng xem. Bỗng tàu di chuyển qua lại gần mấy thùng màu đỏ làm mốc định vị cho tàu bè đi ngang qua biết, chúng tôi thấy hai con cá voi đang nằm trên mấy thùng màu đỏ đó thật vui mắt.

alt

Sau hơn một tiếng đồng hồ nhìn mấy con cá voi đùa giỡn trên biển, hướng dẫn viên Teresa báo cho ông tài công đã đến lúc rời địa điểm để trở lại du thuyền Norwegian Pearl dùng cơm trưa.

Cũng như thường lệ, mỗi lần dùng điểm tâm hay cơm trưa, tối, chúng tôi thường lên tầng 12 theo thói quen, ít khi đi địa điểm khác. Cứ mỗi lần du khách bước vào phòng ăn là có nhân viên của du thuyền đứng chờ sẵn trước cửa để xịt thuốc (alcohol) vào tay du khách hay trao một miếng giấy ẩm ướt cho du khách lau tay để khử trùng. Trưa ấy tôi tách khỏi gia đình để đi trước lên phòng ăn. Khi vừa bước vào phòng, tôi thấy một thanh niên đang đứng đánh đàn guitare ngay cửa ra vào để đón chào du khách vào dùng cơm trưa. Chàng ta vừa đàn vừa hát, bên cạnh là một nữ nhân viên đứng cầm bình xịt alcohol để khử trùng hai bàn tay cho du khách.

alt

Một du khách đang vỗ tay bên cạnh chàng guitarist.

Nhìn chàng thanh niên vừa đàn vừa hát làm cho một du khách vốn là một nghệ sĩ, cảm thấy hân hoan trong lòng nên anh du khách này liền mượn cây đàn guitare và cũng đứng ngay cửa ra vào, rồi vừa đàn vừa hát bản nhạc “ L’amour c’est pour rien” của Enrico Macias cho các du khách khác trên du thuyền Norwegian Pearl vào dùng cơm trưa nghe.

alt

Một du khách mượn đàn để đàn bản nhạc “L’amour c’est pour rien”.

L'amour c'est pour rien

Comme une salamandre, l'amour est merveilleux
Et renait de ses cendres comme l'oiseau de feu,
nul ne peut le contraindre
Pour lui donner la vie.
et rien ne peut l'eteindre
Sinon l'eau de l'oubli.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux l'acheter.
Quand ton corps se revelille,
Tu te mets a trembler.
Mais si ton coeur s'eveille,
Tu te mets a rever.
Tu reves d'un echange avec un autre aveu,
Car ces frissons etranges
Ne vivent que par deux.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux l'acheter.
L'amour, c'est l'esperance,
Sans raison et
sans loi.
L'amour comme la chance
Ne se merite pas.
Il y a sur terre un etre
Qui t'aime a la folie,
Sans meme te reconnaitre
Pret a donner sa vie.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le prendre.
L'amour, c'est pour rien.
Mais tu peux le doner.
L'amour, c'est pour rien.
L'amour, c'est pour rien.

 

Enrico Macias



 

 

Sau khi dùng cơm trưa xong chúng tôi liền thả bộ lên các tầng lầu trong du thuyền để xem. Lúc bước chân lên cầu thang, một bảng nhỏ gắn vào tay vịn của cầu thang đập vào mắt mọi người. Nội dung khuyên mọi người phải vịn vào bên cạnh lúc lên hay xuống, đề phòng trượt chân té nhào xuống dưới cầu thang.

alt

 

Đi vòng vo tam quốc trên du thuyền khoảng một giờ, chúng tôi được thấy rất nhiều địa điểm giải trí cho những du khách nào thích thể dục thể thao. Lên hết bậc thang cuối cùng để đến tầng cao nhất của du thuyền, ngay ở cuối du thuyền là một sân bóng rổ hiện ra trước mặt chúng tôi. Nơi đây, một số thanh thiếu niên đang cùng nhau đùa vui có vẻ thoả thích. Nhìn thật kỹ thì sân bóng rổ này cũng có thể chơi được bóng chày, chơi được tennis thật là tiện lợi.

alt

 

Nhớ lại lúc bước lên cầu thang khi nhìn phía bên trái, một bảng hiệu màu tròn xuất hiện trước mặt du khách. Đọc kỹ mới biết đây là địa điểm trò chơi leo trên tường đá để các du khách muốn chơi thì dừng lại mà chuẩn bị những vật dụng, dưới sự hướng dẫn của các nhân viên chuyên nghiệp của du thuyền. Thảo nào, vừa bước xong tam cấp cuối cùng của thang lên boong tàu, chúng tôi đã thấy một bảng hình tròn mang chữ Rock Climbing Wall nằm bên trái cầu thang.

 

 

Khi đi ngang qua đây thấy bức tường đá này, chúng tôi liền dừng lại để xem. Thì ra môn “leo núi” nầy người ta đứng xem cũng khá đông nhưng thỉnh thoảng mới thấy người đến tham dự. Có lẽ vì leo cao quá nên du khách ít thích cho lắm, ngoại trừ những người hiếu kỳ hay muốn thử chơi trò giải trí này xem sao mà thôi.

alt

Du khách đang xem người leo lên tường đá

Cậu David Châu, du khách 8 tuổi nầy đã từng làm cho cô Teresa hôm qua trả lời mệt nghỉ khi cậu ta nêu lên nhiều câu hỏi suốt cuộc hành trình, liền xin cha mẹ cậu ta cho phép cậu nhảy vào cuộc chơi! Sau khi cha mẹ David Châu chấp thuận, cậu ta liền đến gặp nhân viên chuyên nghiệp về trò chơi, để được nai nịt tất cả vật dụng cần thiết ngõ hầu chuẩn bị chu đáo cho vấn đề leo lên bức tường truớc mặt. Sau khi mọi việc chuẩn bị xong xuôi, David Châu bắt đầu leo lên bức tường trước mặt trước sự huớng dẫn và cầm chắc sợi dây thừng của nhân viên chuyên nghiệp. Lúc David Châu đang cố gắng leo lên cho đến đích, gia đình của David Châu đứng dưới nhìn lên hồi hộp đợi chờ. Khi David Châu đã đến được đích và kéo chuông kêu thành tiếng, mọi người đứng dưới nhìn lên vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

alt

Nhân viên chuyên nghiệp đang chuẩn bị nai nịt an toàn cho David Châu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 alt

 

David Châu đã đến được đích.

Sau đó, một vài du khách cũng nhảy vào cuộc chơi trong đó có ba của David Châu.

alt

Sau màn leo tường đá của cháu David Châu, chúng tôi liền rủ nhau đi vòng quanh trên boong tàu để xem cảnh trời chiều giữa đại dương bao la bát ngát. Mới đi khoảng vài phút thì thấy một bàn cờ đam trước mặt. Tại đây, hai du khách một nam một nữ như đang miệt mài suy nghĩ để tìm nước đi. Bàn cờ chỉ có hai màu đen trắng nổi bật, được thực hiện trên nền xi măng choán ngay cả lối đi trên boong tàu.

alt

Hết xem đánh cờ đam, chúng tôi lại vòng qua bên trái boong tàu thì thấy du khách đang chơi trong sân golf. Sân golf nho nhỏ xinh xinh được thiết lập ở một góc nhỏ trên boong tàu, chung quanh sân được bao bọc một lớp lưới để khi chơi, banh khỏi văng xuống biển.

alt

Xem sân golf xong thì trời đã về chiều. Chúng tôi liền về phòng ăn để dùng cơm tối, đặng chuẩn bị đến hội trường Summer Palace để xem những màn ảo thuật theo chương trình đã ghi trên tờ Freestyle Daily để sẵn trên giường mỗi buổi sáng. Sau đó đúng 07 giờ 30, gia đình chúng tôi đã có mặt đầy đủ để xem ảo thuật do các nhà ảo thuật của du thuyền Norwegian Pearl biểu diễn. Đặc biệt tối hôm nay, hội trường chật ních cả du khách, không còn một ghế trống. Trong đêm trình diễn này, có nhiều màn ảo thuật mọi người đã từng xem, nhưng cũng có những màn thật ngoạn mục và kỳ lạ chưa thấy bao giờ. Đặc biệt có một ảo thuật gia dáng người không cao lắm, tài diễn xuất của anh ta thật tuyệt vời. Đặc biệt hơn nữa là chàng ta chỉ xử dụng đôi tay, đôi chân và nụ cười để biến thành ngôn ngữ giải thích cho những màn ảo thuật mà không cần nói một lời nào, làm cho du khách trong hội trường đã vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Ai đã từng xem những phim do Charlot (Charles Chaplin), kịch sĩ nổi tiếng của Pháp quốc, đóng cũng biết ông hề trứ danh này đã xử dụng toàn cơ thể từ đầu đến tay, chân, cách đi đứng, quay tới, quay lui, té xuống, đứng lên, chuyển động toàn thân v v… và chỉ nở nụ cười trên môi mà không bao giờ mở miệng nói lời nào cả. Thế mà hằng ngàn khán giả từ Đông sang Tây ai ai cũng phải khâm phục và tán thưởng nhiệt liệt, đến nỗi có nhiều nhân vật suốt đời không bao giờ cười nhưng rồi khi xem phim Charlot đóng cũng phải bật cười: đó là cựu Thủ Tướng Jawaharlal Nehru của Ấn Độ!

Ảo thuật gia của rạp hát trên du thuyền nầy dù không bằng tài diễn xuất của Charlot, nhưng cũng có rất nhiều động tác rất tuyệt vời. Vì cảm kích trước tài năng tuyệt vời này cũng như những màn ảo thuật hấp dẫn, nên tôi đã xin chụp hình chung với anh ta để làm kỷ niệm lúc tình cờ thấy anh ta đứng lấy thức ăn bên cạnh tôi.

Sau màn ảo thuật của anh ta là những màn ảo thuật của chàng và một người đẹp cũng rất ngoạn mục. Có lẽ đây là một cặp chuyên lo những màn ảo thuật thường xuyên với nhau cho du thuyền trong các buổi trình diễn văn nghệ nên họ phối hợp với nhau rất nhuần nhuyễn, thuần thục và nhanh nhẹn. Thế rồi đúng hai tiếng đồng hồ thì show ảo thuật chấm dứt. Chúng tôi liền về phòng nghỉ ngơi để sáng mai lên đường đi xem tỉnh Skagway như chương trình đã được ghi sẵn trong Freestyle Daily. Trong chuyến du lịch đến tỉnh Skagway này có đoạn đường băng qua biên giới Hoa kỳ (Alaska) và Canada. Vì vậy Ban Tham Mưu du thuyền phát một mẩu khai báo để du khách khai trước rồi nộp ngay trong đêm để sáng mai lên đường cho tiện lợi.

Sáng ngày 17 tháng 06 năm 2015, sau khi dùng điểm tâm xong, chúng tôi liền đến địa điểm đã được thông báo để làm thủ tục xuống tàu đi xem phố phường trong tỉnh Skagway. Cũng giống như thủ tục xuống tàu ngày hôm qua, chúng tôi sắp hàng nối đuôi nhau rồi trao chìa khoá phòng và thẻ căn cước cho nhân viên phụ trách, sau đó bước qua máy kiểm tra toàn cơ thể như ở phi trường là xong.

alt

Tỉnh Skagway nhìn từ trên du thuyền

 

 


Khuôn dấu

Nickname(s): " Cổng vào the Klondike"


Bản đồ tỉnh Skagway (màu đen)

Skagway là một đô thị hạng nhất tại xứ Alaska ở trên vùng đất nhô ra ngoài biển của tiểu bang Alaska. Theo bảng thống kê năm 2010, dân số tại Skagway là 920 người, ước tính năm 2014 là 1,012 người. Số dân tại tỉnh này tăng gấp đôi vào mùa hè để phục vụ cho hơn 900,000 khách du lịch đến du ngoạn. Trước đây, nột thành phố được hình thành do sự hợp nhất vào năm 1900. Sau đó tái cấu trúc như là một đô thị vào ngày 25 tháng 06 năm 2007. Hải cảng Skagway là nơi cập bến của các du thuyền và các tàu buôn. Vấn đề buôn bán của các phú thương là một trong những nguồn lợi quan trọng cho nền thương mại Skagway. The White Pass and Yukon Route narrow gauge railroad (Đèo Trắng và đường xe lửa nhỏ hẹp đến đô thị Yukon), dành cho dân đi khai mỏ tìm vàng trong quá khứ, bây giờ chỉ hoạt động thuần tuý cho thương mãi trong những tháng mùa hè mà thôi. Địa danh Skagway là nguồn cảm hứng cho Nhà văn Jack London để hoàn thành tác phẩm “The Call of The Wild” và cho Tiểu thuyết gia Joe Haldeman viết nên cuốn “Guardian”. Danh từ riêng Skagway bắt nguồn từ chữ “Shgagéi”, một thành ngữ của Tlingit mang ý nghĩa biển cả đầy sóng gió ba đào trong lạch nước ở vùng Taya do những ngọn gió Bắc phương thổi về. Skagway là một tỉnh mà trước đây cả thế giới đều biết như là một vùng có rất nhiều mỏ vàng nằm trong vùng Klondile. Xứ Klondile của Skagway là nơi núi non hiểm trở có nhiều cánh đồng đầy những mỏ vàng nên chính quyền địa phương đã thiết lập một hệ thống đường xe lửa để tiện lợi cho vấn đề di chuyển. Cách đây một, hai thế kỷ, sau khi khám phá có quá nhiều mỏ vàng tại Klondile, hàng ngàn người đã đổ xô về đây để tìm vàng. Vì thế để đến cho được vùng nầy, những người đi tìm vàng phải đi bộ rất vất vả, trèo đèo vượt suối đầy giá lạnh, băng qua sa mạc mấy mươi dặm đường mới đến được mỏ vàng mà khai thác.

alt

Dân đang đổ xô đi tìm vàng

(Hình trích từ Wikipedia)

alt

Dân đang đổ xô đi tìm vàng (năm1897)

(Hình trích từ Wikipedia)

 

 

Dân chúng rời San Francisco để đến Klondile tìm vàng. (Hình trích từ Wikipedia).

Nói là đi xem thành phố của tỉnh Skagway nhưng khi đến thành phố này cũng như đến thủ phủ Juneau của tiểu bang Alaska, du khách muốn đi đâu tùy sở thích. Người thì thích đi shopping, kẻ thì thích đi xem những di tích lịch sử, người thì muốn đi xem danh lam thắng cảnh v v…Dĩ nhiên tất cả du khách đã chọn trước lúc mua vé nên khi đến các thành phố này, du khách đã chuẩn bị tâm tư để theo các hướng dẫn viên đến những nơi mình đã chọn. Cũng như lần trước, chúng tôi ra bến xe buýt để đợi xe đến. Trong lúc đợi chờ xe, tôi đến quầy báo để sẵn tặng du khách, lấy một tờ đọc để giết thì giờ. Đọc sơ qua nội dung tờ nhật báo, tôi thấy người ta đăng quảng cáo đủ thứ chuyện liên quan đến xứ Skagway này. Vừa đọc vừa liếc mắt ra ngoài canh chừng xem xe buýt khi nào đến mà lên xe đi cho kịp với mọi người trong toán

 

alt

Các tài xế xe buýt đang cầm bảng hiệu cho các du khách thấy .

alt

Nhật báo xuất bản tại Skagway.

Khoảng mười phút sau xe đến chở chúng tôi lên đường để bắt đầu cuộc hành trình. Tài xế xe buýt kiêm hướng dẫn viên đoàn chúng tôi là một thanh niên người Mỹ tên là J J, khoảng 23 tuổi, rất đẹp trai, dễ thương, hiền hoà. Ăn nói rất khiêm tốn, nhã nhặn. Lúc leo lên xe ngồi cạnh tài xế, tôi nói nhỏ như vui đùa với tài xế rằng, anh ta hãy chuẩn bị tâm tư để trả lời khoảng một nghìn câu hỏi do một cậu nho nhỏ tên là David Châu đang ngồi ở băng ghế sau sẽ hỏi. Nghe nói như vậy, anh tài xế vừa cười vừa quay mặt phía sau nhìn xem cậu nho nhỏ có tên là David Châu là cậu nào. Sau đó anh tài xế nói với tôi rằng anh ta sẽ trả lời tất cả những câu hỏi, những thắc mắc mà cháu David sẽ hỏi, khi xe dừng lại từng thắng cảnh, từng danh lam hay dọc đường lúc xe đang chuyển bánh.

alt

Anh tài xế và cậu David Châu.

Sau khi toàn thể gia đình chúng tôi đã ngồi hết trên xe, tài xế xe buýt bắt đầu cho xe chuyển bánh. Như đã sắp xếp trước những danh lam thắng cảnh lúc đến tỉnh Skagway chúng tôi sẽ đến, tài xế cứ thế mà lái xe đến từng địa điểm theo chương trình đã định sẵn. Ngồi trên xe để đến xem từng danh lam thắng cảnh của tỉnh Skagway, tài xế vừa lái xe vừa giải thích cũng như trình bày về lịch sử và địa lý của từng địa điểm cho chúng tôi nghe. Như đã nói lúc mới lên xe buýt về một nghìn câu hỏi mà cậu David Châu sẽ hỏi, khi nghe anh tài xế trình bày xong, cậu David Châu liền hỏi ngay những điều cậu ta thắc mắc mà chẳng ngại ngùng gì cả. Vĩ đã nghe tôi dặn dò từ trước nên khi nghe cậu David ngồi ở ghế sau lưng hỏi, anh tài xế liền nhìn tôi ngồi bên cạnh rồi nhoẻn miệng cười như có ý cho tôi biết tôi nói không sai. Thế là anh tài xế từ từ trả lời cho cậu David nghe trong suốt thời gian đi xem danh lam thắng cảnh của xứ Skagway này. Theo chương trình, chúng tôi vừa đến sa mạc Caross Desert thì anh tài xế cho xe dừng lại để chúng tôi xem cảnh nơi đây.

 Sau khi thăm sa mạc Caross Desert, tài xế chở chúng tôi qua xứ Yukon. Vì địa điểm này sát biên giới Canada và xứ Yukon một phần lãnh thổ thuộc phần đất Alaska, một phần thuộc phần đất của Canada nên tài xế đã lái xe qua Canada để chúng tôi thưởng ngoạn những phong cảnh hữu tình này luôn. Lúc qua Canada thì trời đã đúng ngọ. Du khách ai cũng nghĩ là đến đây chắc trời lạnh và mưa rơi. Có ngờ đâu bầu trời lúc nầy thật đẹp với trời xanh, mây trắng và nắng hồng. Chúng tôi liền vào tiệm ăn để dùng cơm trưa. Trước khi đến Alaska, người ta bảo khi nào lên xứ này nhớ gọi ngay loại thịt Caribou vì đây là đặc sản nổi tiếng của xứ này. Nhưng vì “order” trễ quá nên loại thịt đó không còn nữa. Thế là chúng tôi chỉ mua tạm vài miếng hamburger và một vài thức ăn để dùng cơm trưa thôi. Khi chủ quán thối tiền lại, cầm tờ giấy bạc trên tay nhìn qua nhìn lại mới biết đây là tiền Canada nên cũng cầm đi luôn để làm kỷ niệm.

alt

 

Vì thực khách đã ngồi chật ních trong tiệm nên chúng tôi ra dãy bàn ghế ngoài sân để ngồi ăn. Sau khi ăn qua loa cho xong bữa ăn trưa và vì thấy nhà cửa nơi đây mang nhiều hình ảnh chạm trổ, điêu khắc kỳ kạ cũng như nhiều màu sắc chói chang và hấp dẫn, nên chúng tôi đã thả bộ vòng quanh địa điểm nầy để nhìn. Toàn bộ phong cảnh nơi đây có vẻ như là trung tâm thương xá của tỉnh lẻ. Đặc biệt nơi đây có mấy cột gỗ khắc hình người và khuôn mặt người rất kỳ lạ giống như những bộ tộc sống từ mấy thế kỷ trước. Đây là những cột thờ Tôtem, biểu tượng của những nền văn hoá của một số dân tộc bản xứ. Chúng tôi sẽ thưởng ngoạn rất nhiều cột thờ Tôtem như thế này lúc đến thăm công viên Bight State History Park trong cánh rừng thưa ở thành phố Ketchikan vào những ngày sắp tới. Nơi đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu được đầy đủ khi chứng kiến trước mắt đủ loại cột Tôtem do dân bản xứ dựng lên.

alt

alt

alt

Sau một giờ nghỉ ngơi để dùng cơm trưa, tài xế liền gọi chúng tôi tập họp lên xe để tiếp tục cuộc hành trình trong ngày. Từ Canada, xe chúng tôi lại chạy vòng vo trên núi để trở về lại Alaska. Sau khi làm thủ tục giấy tờ tại biên giới Canada và Alaska, xe chúng tôi chạy khoảng một thời gian rất ngắn thì thấy tấm bảng “Welcome to Alaska” trước mặt.

alt

alt

alt

Lối vào tỉnh Skagway giữa biên giới Canada và Alaska (Hoa Kỳ)

Chúng tôi được tài xế lái xe đến xem một thác nước nổi tiếng và đẹp mắt trên núi rừng thuộc tỉnh Skagway . Tại đây chúng tôi đã chụp thêm hình làm kỷ niệm cho chuyến đi ngày hôm nay.Sau khi say sưa chụp hình thác nước tuyệt đẹp nầy làm kỷ niệm quên cả thời gian, tài xế liền thúc giục chúng tôi lên xe để trở lại du thuyền. Trên đường về lại thành phố, chúng tôi thấy phong cảnh hai bên đường thật là ngoạn mục.

Phía dưới là thành phố Skagway nằm im lìm trong thung lũng phản chiếu ánh chiều tà trông thật đẹp mắt.

alt

(Còn tiếp)

Dương Viết Điền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ký Sự Du Lich Alaska (tiếp theo)

E-mail Print

alt 

 

Du khách vừa dùng điểm tâm vừa nhìn ca-nô đang chạy dưới biển cạnh du thyền

.alt

alt

 

Du khách thuê ca-nô, thuỷ phi cơ để du ngoạn trên biển

 

 

alt

Du khách tí hon Emily ngồi thưởng thức cà phê sát cửa kính trên du thuyền

Sau khi điểm tâm xong chúng tôi bắt đầu đi dạo một vòng khắp du thuyền cho biết xứ “bồng lai tiên cảnh”, “khách sạn mấy sao” như thế nào. Nhưng rủi thay sáng nay đang trời quang mây tạnh, nắng đẹp hiền hoà bỗng dưng lại “mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ”. Đã thế, trời lại trở gió mạnh khiến tất cả du khách chỉ ngồi nhìn ra đại dương xem cảnh mưa rơi trong nắng vàng mà thôi. Mặc dầu gió thổi mưa rơi, nhưng mấy cháu nhỏ tôi lại thích tung hoành ngang dọc trên du thuyền, nên chúng đã liều lĩnh lên boong tàu chạy tung tăng qua lại, để rồi các con tôi buộc lòng phải chạy theo chúng để canh chừng. Thấy cả gia đình tôi đều lên boong tàu cả nên tôi cũng chạy theo lên quan sát đại dương lúc mưa rơi trong nắng. Vì đi ngược chiều gió thổi nên tôi đến gần địa điểm cấm trên boong tàu mà không để ý. Vì thế khi nhìn tấm bảng gắn trước mặt, tôi lại phải đi lui ngay.

alt

 

Lúc lên đứng giữa boong tàu, tôi thấy gió thổi quá mạnh, không một bóng người, mưa vẫn rơi rơi làm cho các cháu nhỏ vừa chạy vừa đùa giởn ra vẻ thích thú. Thấy tình trạng này không được tốt cho lắm vì sợ các cháu dầm nước mưa nên nhân danh là “tổng tư lệnh”, tôi bắt tất cả tìm chỗ trú mưa, không được chạy tung tăng trong mưa gió nữa.

Khoảng nửa giờ sau thì đã hết mưa, rồi trời quang mây tạnh. Gia đình chúng tôi bắt đầu đi vòng quanh du thuyền, đến các phòng ốc đặc biệt để thưởng ngoạn rồi cứ thấy phòng nào gần, chúng tôi vào trước, phòng nào xa chúng tôi sẽ đến sau. Tình cờ đang đi bỗng thấy phòng ART GALLERGY & INTERNET CAFÉ trước mặt nên chúng tôi liền vào xem phòng này trước.

alt

 

Đây là phòng trưng bày những bức ảnh do một số họa sĩ nổi tiếng sáng tác. Nhiều bức ảnh trông rất hấp dẫn, những bức khác trông thật đẹp mắt. Thôi thì đủ các trường phái như siêu thực, tượng trưng, lập thể v v…Nhiều bức ảnh có đề chữ “sold out” ở phía dưới chứng tỏ đã có người đặt cọc mua rồi. Hầu hết những bức ảnh mang nhiều màu sắc loè loẹt, chói chang làm loá mắt cả người xem. Đối diện với những bức ảnh là một vài bàn đặt computer trên đó để cho du khách ai muốn xử dụng computer thì cứ tự nhiên ngồi vào mà dùng. Dĩ nhiên phải trả tiền theo giá cả xuất hiện trên màn ảnh computer. Nếu muốn mỗi phút 50 cent thì mất 125$ trong trong 250 phút, mỗi phút 75 cent thì mất 75$ trong 100 phút và 24$99 cho một ngày không giới hạn thời gian theo ấn định của Ban Tham Mưu trên du thuyền.

 

alt

alt

alt

Du khách đang xem tranh ảnh trong Art Gallery.

Bước ra khỏi phòng Art Gallery là đến phòng trà ngay. Phòng này tương đối đẹp mắt, lãng mạn đầy nghệ sĩ tính. Một màn ảnh thật lớn trong phòng để máy chiếu khuếch đại hình ảnh của các nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu nằm trước mặt.Tại đây ban nhạc của du thuyền trình diễn thường xuyên cho du khách đến thưởng thức. Cũng như nhiều show hài hước hay trò chơi cho các trẻ nhỏ để giải trí cho du khách từng giờ.

alt

 

Một cầu thang bằng nhôm đã được thiết lập từ phòng nghe nhạc lên tầng trên, để du khách nào muốn lên ngồi nghe nhạc trên ấy thì cứ tự nhiên như người Hà nội, với những chậu cây hoa lá cành thật thơ mộng nằm cuối cầu thang. Nhiều cặp tình nhân du khách trẻ tuổi đến đây thấy phòng này có vẻ ấm cúng và lãng mạn nên ngồi nghe nhạc suốt ngày. Họ thường ngồi ở tầng trên để vừa nhâm nhi cà phê, vừa nghe nhạc cổ điển Tây phương của Mozart, Bethoveen, Strauss, Chopin, Tchaikovsky, v v…, vừa nhìn sóng biển đang xô đuổi nhau giữa lòng đại dương dưới ánh nắng vàng. Lắm lúc có nhiều trò chơi tiêu khiển dành cho giới trẻ, hay hai nhân viên thuộc ngành hoả đầu vụ biểu diễn trên sân khấu làm cho du khách ngồi uống cà phê nơi đây được nhiều phen cười đùa thoả thích. Nhiều lần khán giả vỗ tay hoan hô nhiệt liệt vang dội cả một góc du thuyền. Nhiều du khách khoái chí kêu bia hay rượu uống thay vì gọi cà phê khi thấy hai nhân vật đóng kịch quá hấp dẫn và tài tình.

alt

Sau khi rời phòng trà để đến những địa điểm giải trí khác, vừa đi khoảng một phút, tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy một cô gái ngồi uống cà phê chỉ một mình thôi giống hệt như chiều hôm qua, khi đi ngang qua đây, tôi cũng thấy cô ta chỉ ngồi một mình. Đi du lịch mà thơ thẩn một mình chắc phải có uẩn khúc gì đây về cuộc sống chăng? Hay vì tuyệt vọng về chuyện tình yêu đôi lứa? Nói đến tình tuyệt vọng, tôi bỗng nhớ đến bài thơ “Sonnet” của Thi Sĩ nổi tiếng người Pháp là Alexis Félix Arvers, sinh năm 1805, qua đời năm1850. Ông có xuất bản tập thơ “Mes heures perdues” nhưng ít người biết đến. Thi Sĩ Alexis Félix Arvers chỉ nổi tiếng nhờ bài thơ “Sonnet”mà thôi. Nhờ cảm hứng thình lình mà ông ta đã sáng tác nên bài thơ này.Thấy cô gái kia buồn bã ngồi nhìn ra biển cả bao la, tôi như cảm thông được chuyện tình buồn vời vợi của nàng, nên vừa đi vừa đọc bài thơ “Sonnet” của Thi Sĩ Alex Félix Arvers đầy cay đắng, ngậm ngùi.

alt

Cô gái buồn bã ngồi nhìn ra biển cả bao la.

 

S O N N E T

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un amour éternel en un moment conçu.
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.

Hélas ! J’aurais passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire.
Et j’aurais jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.

Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.

A l’austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle:
-“Quelle est donc cette femme?” et ne comprendra pas.

Alexis Félix Arvers

TÌNH TUYỆT VỌNG

Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi ! Người đó ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên,
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng :
“Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?”


Khái Hưng dịch

Nhìn đồng hồ đã thấy 12 giờ 00 trưa thảo nào nghe như kiến bò trong bụng. Chúng tôi liền từ giã phòng Art Gallery & Internet Café để đến phòng ăn dùng cơm trưa. Cũng như ngày hôm qua, chúng tôi cũng đến phòng ăn cũ ở tầng 12 để dùng cơm. Mấy ngày trước vì mới lên du thuyền nên ăn uống xong rồi về phòng nằm nghỉ. Hôm nay rảnh rỗi nên tôi vừa lấy thức ăn vừa quan sát khắp nơi tại phòng ăn cũng như tại địa điểm hoả đầu vụ. Thực khách đến lấy thức ăn đủ mọi thành phần chủng tộc ở khắp các lục địa: Á châu, Úc châu, Phi châu, Âu châu, Mỹ châu. Mỗi dân tộc nói một thứ tiếng khác nhau và cách ăn mặc cũng biểu lộ những nét đặc trưng của từng chủng tộc, từng quốc gia. Tại quầy thức ăn, rất nhiều nơi bày loại cá Hồi kho, canh, chiên, xào cho du khách thưởng thức vì vùng nầy là thủ đô cá Hồi của tiểu bang Alaska, coi như là đặc sản. Đến Alaska mà không ăn ca Hồi là một thiếu sót không thể tha thứ được đối với dân sành điệu về thức ăn.

Sau khi chọn bàn ăn xong, ai nấy đến nơi quầy thức ăn để lấy đồ ăn. Thôi thì tha hồ mà lựa chọn. Ai muốn ăn gì cứ lấy vá để sẵn rồi múc thức ăn vào dĩa xong qua thức ăn khác, giống như ăn theo kiểu buffet vậy. Kẻ đến người đi tới lui tấp nập, ngày nào cũng như ngày nào cứ mỗi lần đến giờ ăn cơm. Nhiều khi suýt đụng nhau rồi xin lỗi lia lịa vì người thì đông mà đường đi thì hẹp. Tại quầy lấy thức ăn, nhân viên hoả đầu vụ trang hoàng nhiều cảnh thật đẹp mắt. Nhiều trái dưa hấu, trái bí được khắc rồi đẽo gọt thành khuôn mặt con người, trên đầu đội thêm một cái mũ trông thật vui mắt. Bên cạnh, người ta đặt thêm đủ loại trái cây như cam, nho, táo, mận, đào v v… làm cho quầy thức ăn tráng miệng thêm phần linh động bên cạnh những quầy rau, trái cây, bánh v v…

alt

alt

alt

alt

Người lớn tuổi đi lấy thức ăn là chyện thường tình, nhưng các cháu nhỏ cũng rủ nhau đi lấy thức ăn rất là vui và thật dễ thương. Nhiều cháu ăn xong lại đến các quầy lấy đồ ăn tráng miệng hay xin các nhân viên tại quầy các loại kem để dùng.

 

alt

Sau khi dùng cơm trưa xong chúng tôi liền về phòng nằm nghỉ mặc dầu có nhiều chương trình văn nghệ do du thuyền tổ chức ở các phòng khác như đã thông báo trước.

Khoảng 04 giờ chiều gia đình tôi liền rủ nhau đi dạo trong du thuyền để đến xem những phòng đặc biệt khác. Riêng tôi lại nhớ đến thời gian tập thể dục mỗi buổi chiều ở nhà. Vì vậy tôi liền tách rời gia đình để vào trung tâm thể dục của du thuyền, ngồi trên máy đạp vài chục vòng cho khí huyết được lưu thông may ra kéo dài tuổi thọ thêm vài tháng nữa chăng! Vừa đến địa điểm gần vào cửa trung tâm thể dục, tôi thấy một cô gái người Mỹ đang đứng nói gì với hai ba du khách. Đến gần mới biết đây là chuyên viên hướng dẫn phương pháp làm sao để biết mình đi không đúng với trọng lượng cơ thể của mình bằng cách đứng trên một cái máy, sau đó nhấc chân của mình lên rồi dẫm trên một tờ giấy trắng. Hình dưới bàn chân của mình sẽ hiện trên tờ giấy trắng và nhìn dấu bàn chân trên giấy, cô ta sẽ giải thích cho mình nên đi như thế nào cho đúng với trọng lượng cơ thể của mình. Phụ trách việc phân tích dấu chân miễn phí này là một cặp thanh niên nam và nữ rất khả ái, dễ thương và hoạt bát. Chàng tên là Kevin, nàng tên là Elme.Cứ mỗi lần lấy dấu chân của một du khách nào, chàng và nàng chuyên viên giải thích rất rõ ràng và khuyên du khách có dấu bàn chân trên giấy, cố gắng tập tành như thế nào để vấn đề đi đứng trở lại bình thường với cơ thể của mình. Tuy nhiên không phải ai cũng muốn đến đây để “đo lường” cơ thể. Vì thỉnh thoảng mới có vài du khách đi ngang qua đây dừng lại xem rồi bỏ đi xem nơi khác vui thú và nhộn nhịp hơn. Dĩ nhiên có nhiều người, vì vấn đề đi đứng không được cân đối, nên đã nhờ cô Elme giải thích rõ ràng và cẩn thận hơn.    

alt              

alt

 

Hai chuyên viên phân tích dấu bàn chân

Thấy vậy tôi cũng đến xin cô ta đứng trên máy rồi dẫm chân trên hai tờ giấy trắng, xong lấy kết quả hai dấu bàn chân trên hai tờ giấy trắng bỏ vào túi làm kỷ niệm rồi vào phòng tập thể dục.

Phòng tập thể dục có rất nhiều máy đặt dọc theo cửa kính của du thuyền nên du khách vừa tập vừa có thể nhìn ra biển cả bao la bát ngát. Mỗi máy lại có một TV nho nhỏ gắn trước mặt nên khi tập, du khách có thể xem tin tức hay muốn đài nào thì thay đổi tuỳ mình. Tuy nhiên, hầu hết người ta thường thông báo tin tức về thời tiết, giờ giấc trên du thuyền cho du khách biết nhiều hơn.

 

alt

 

Du khách đang tập thể dục tại trung tâm

 

 

alt

 

Du khách đang ngồi trên máy tập và xem đá banh trên TV.

Sau khi tập thể dục khoảng một tiếng đồng hồ, tôi liền vào phòng tắm rửa để về cùng gia đình đi ăn cơm chiều và chuẩn bị đến hội trường đêm qua để xem show ảo thuật như đã thông báo trong tờ Freestyle Daily.

Chương trình văn nghệ tối nay thật là hấp dẫn. Đặc biệt và xuất sắc nhất là những màn ảo thuật do nam nữ ảo thuật gia của du thuyền Norwegian Pearl diễn xuất bao sân. Hai anh chị ảo thuật gia nầy đã trình diễn những màn ảo thuật mới lạ khác thường, với tài diễn xuất rất linh động, nhanh nhẹn, mềm dẻo, làm cho khán giả say mê từ đầu đến cuối; và khán giả luôn luôn tặng cho hai ảo thuật gia này những tràng pháo tay làm vang dội cả hội trường.

Ngày kế tiếp là thứ ba, 16 tháng 06 năm 2015, đọc trên tờ Freestyle Daily chúng tôi được biết hôm nay, du khách trên thuyền sẽ xuống thăm thành phố đầu tiên của tiểu bang Alaska vì du thuyền đã đến tiểu bang Alaska rồi. Đó là thành phố Juneau: thủ phủ của tiểu bang Alaska.

Được biết The City and Borough of Juneau là thủ phủ của tiểu bang Alaska. Đây là đô thị hợp nhất tọa lạc trên Gastineau Channel trong vùng đất nhô ra ngoài biển của Alaska. Và là thành phố thứ hai lớn nhất của Hoa kỳ. Juneau là thủ phủ của Alaska từ năm 1906 lúc cơ cấu hành chánh của vùng Alaska di chuyển về từ Sitka do quốc hội chấp thuận từ năm 1900. Đô thị đã hợp nhất vào ngày 01 tháng 07 năm 1970 lúc thành phố Juneau, thành phố Douglas và Borough sáp nhập vào một. Juneau rộng hơn Rhode Island và Delaware, nhưng lại gần bằng hai tiểu bang này kết hợp lại. Theo bảng thống kê vào năm 2010, dân số Juneau là 31,2715 người. Đến năm 2013, dân số đã lên đến 32,660 theo bảng thống kê dân số của Hoa kỳ. Đây là thành phố thứ hai đông dân nhất tại Alaska sau Anchorage. Từ giữa tháng 05 đến tháng 09, dân số tăng lên khoảng 6000 người do du khách đến du ngoạn từ các du thuyền. Danh xưng của thành phố được đặt tên giống như tên của một người đi tìm vàng là Joe Juneau mặc dầu lần đầu tiên, nơi đây được gọi là Rockwell sau đó là Harrisburg.

Sau khi làm thủ tục giấy tờ, chúng tôi theo đoàn người xuống tàu đứng chờ xe buýt chở đến địa điểm xem tuyết phủ trên núi. Tại đây, nếu du khách nào không đi xem danh lam thắng cảnh thì tham dự cuộc đấu giá về những tác phẩm văn học nghệ thuật do du thuyền tổ chức, như chúng tôi đã được thông báo tối qua bằng một tờ giấy do người bồi phòng để sẵn trên giường. Riêng những du khách nào thuê ca nô hay thuỷ phi cơ, hoặc chọn những địa điểm thích thú khác thì cũng xuống tàu một lần rồi bắt đầu xuất phát cũng tại bến cảng này luôn.

Vì có rất nhiều toán của nhiều du thuyền cùng đi xem danh lam thắng cảnh. Vì vậy các hướng dẫn viên của các du thuyền đứng cầm bảng của du thuyền mình để du khách thấy mà tìm đến. Riêng toán chúng tôi cứ tìm nhân viên nào cầm bảng có tên mang du thuyền Norwegian Pearl thì đó chính hiệu con nai vàng là người hướng dẫn cho toán chúng tôi.

 

alt

Du khách đang chờ xe buýt đến.

alt

 

alt

 

Bến xe buýt tại địa điểm du khách đến thưởng ngoạn.

Người hướng dẫn đoàn chúng tôi là một cô gái còn trẻ khoảng 23 tuổi tên là Teresa. Cô ta ăn nói thật duyên dáng và có vẻ thông thạo địa hình địa vật nơi đây. Xe buýt chạy vòng vo khoảng mười lăm phút rồi dừng lại bên một cánh rừng thưa. Chúng tôi tất cả đều xuống xe để băng qua rừng đến địa điểm nhìn tuyết phủ trên núi suốt tháng quanh năm. Được biết dãy băng hà The Grand Pacific Glacier này đóng thành băng đã 200 năm rồi. Chiều dài khoảng 1,200m, chiều rộng khoảng 32 km. Nơi đây, cứ mỗi ngày có 2 du thuyền, 3 chiếc ca nô, 6 tàu thuỷ, 25 chiếc thuyền của tư nhân cập bến vào mùa hè chở khách du lịch đến. Theo bảng thống kê của The National Park Service năm 2009, có khoảng 444,653 du khách đến du lịch ở đây vào mùa hè.

alt

Cô Teresa, hướng dẫn viên, đang chuyện trò với cháu David Châu trong đoàn chúng tôi.

Lúc đi bộ băng qua rừng thưa, thỉnh thoảng cô Teresa dừng lại chỉ vào mấy mô đất nho nhỏ phủ đầy một số rong, tảo, rồi giải thích về sự hình thành và phát triển kỳ lạ của loài cây này cho chúng tôi nghe. Có một du khách nho nhỏ khoảng 8 tuổi tên David Châu, là nhân vật thường xuyên đặt câu hỏi với cô hướng dẫn viên Teresa này khiến cô Teresa cảm thấy thích thú vì có người nêu câu hỏi để cho cô ta có việc làm! Cô ta cũng lấy làm ngạc nhiên khi cả đoàn có rất nhiều người lớn mà chỉ có cậu bé nho nhỏ này hỏi cô ta thôi. Đoán được đây là một cậu bé thích sưu tầm và học hỏi về những điều mới lạ nên khi nghe David Châu hỏi câu nào, cô ta trả lời câu nấy rất rõ ràng cho cậu ta nghe.

 

alt 

Cô Teresa đang giải thích sự phát triển cây rong, tảo cho cậu David Châu và các em của David nghe.

Sau khoảng 30 phút băng qua rừng thưa và nghe cô Teresa giải thích sự hình thành và phát triển của một số loài thảo mộc đặc biệt, đoàn chúng tôi đã đến ven biển nên cô hướng dẫn viên cho đoàn dừng lại. Tại đây, cô Teresa chỉ cho chúng tôi thấy dãy núi bên kia eo biển bị tuyết phủ ngập thường xuyên quanh năm suốt tháng.

alt

 

Dưới biển nổi trên mặt nước là những khối băng nho nhỏ nằm trơ gan cùng tuế nguyệt suốt tháng quanh năm và chỉ tan ra khi trời nắng gắt mà thôi. Thấy một khối băng nho nhỏ nằm ngay sát bờ, chúng tôi liền cầm lên quan sát rồi thay nhau chụp hình làm kỷ niệm, bởi mấy khi lên được xứ lạnh cóng triền miên ở tận vùng Bắc cực nầy.

alt

(Còn tiếp)

 

 

 
Page 4 of 37
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account