CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Văn Biên Khảo Chút Quê Nhà, Chút Bolsa...

Chút Quê Nhà, Chút Bolsa...

E-mail Print
User Rating: / 2
PoorBest 

 

Bài này gồm 2 phần, Phần I tại tiệc của Hội Ái Hữu Bình Dương; Phần II: buổi Thi Tuyển Lựa Giọng Ca Hay. VHLA.

Phần I

Chút Quê Nhà...

ThuDauMot-Binh_Duong

Thị xã Thủ Dầu Một - Tỉnh Bình Dương

Nhạc sĩ Phan Ni Tấn gửi ra diễn đàn một bài hát về Bình Dương, anh phổ thơ của nhà thơ La Toàn Vinh, tựa đề cho thơ là "Về Bình Dương", và nhạc là "Bình Dương Quê Tôi", trích đoạn "Về Bình Dương Quê tôi ở hướng mặt trời; mang mang niềm nhớ bao lời ca dao. nhớ mùa trái chin lao xao thì thầm nỗi nhớ ru vào tình em Nức lòng mời bạn đến xem một ngày xứ Thủ khó tìm đâu ra Bình Dương vẫn thắm màu hoa nụ cười ngọt lịm chan hòa cùng em… Quê tôi ở tận lòng người mênh mông bến nước con đò đợi ai một lòng chung thủy chẵng phai yêu từ cụm đất miệt mài tình quê… qua Bến Cát nhớ dấu xưa nhớ cây trứng cá đong đưa sau hè râm ran vui lắng tiếng ve một chiều trở lại hàng me bên đường. Quê tôi ở tận miền Đông một miền soi mãi ánh hồng  thái dương về lại đây để yêu thương trong từng vạt nắng khu vườn thiết tha... LTV 2011".

Mới đây ngày Chủ Nhật, 18 tháng 3, năm 2012, Hội Ái Hữu Đồng Hương Bình Dương tổ chức buổi tiện mừng Tất Niên 2012 thật long trọng được sự hưởng ứng đông đảo đồng hương Bình Dương cũng như quý thân hữu của Hội. Tôi là người Tây Ninh tức một tỉnh láng giềng với Bình Dương. Theo mặt địa lý thì phía tây của Bình Dương tiếp giáp với Tây Ninh, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và tây nam giáp Sài Gòn, và phía đông giáp Biên Hòa. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một, cách trung tâm Sài Gòn không xa lắm khoảng 30 cây số hay độ 18.5 dặm Anh (mile

Ca sĩ Ngọc Quỳnh hỏi tôi Thủ Dầu Một ở đâu trên bản đồ Bình Dương. Huhu... tôi bảo em gái Thủ Dầu Một là một thị xã hiện nay là trung tâm (capital hay headquarter) của tỉnh Bình Dương, hình thù địa lý của tỉnh trên bản đồ mang hình tam giác mà mũi nhọn chĩa xuống hướng nam. Thủ Dầu Một nằm sát ở cạnh tây nam, tức giáp ranh giới với Sài Gòn. Tôi hy vọng giáo sư sử địa Phạm Đình Lân cho tôi con 'A" vì là quảng diễn tỉnh nhà của ông theo sách vở. Thủ Dầu Một cũng là nơi GS. Dương Minh Kính đã bỏ quên con tim, nếu như ca sĩ trứ danh Tony Bennett cất tiếng ca "I Left My Heart in San Francisco" làm say mê nước Mỹ một thuở của thập niên 50s, thì cũng bởi vì cô Kính có gốc Thủ Dầu Một theo tôi được biết như vậy. GS Dương Minh Kính đã nhận chức rể Thủ Dầu Một hay rể Bình Dương, tôi gặp thầy và cô tại buổi tiệc này năm nay. Bình Dương có trường trung học Trịnh Hoài Đức cạnh chợ Búng, không xa Thủ Dầu Một, chợ Búng là tâm điểm năng động về kinh tế tấp nập, nơi học trò chúng tôi thuở xưa cuối tuần cưỡi Honda từ Sài Gòn mon men theo quốc lộ 13 mau mắn chạy một lèo lên Lái Thiêu, chỉ có 13 miles hay 25 cây số gần xịt thôi, ghé qua các vườn cây sai trái vào xơi trái cây như bòn bon, dâu, soài, sầu riêng, măng cụt, mít tố nữ xong, vọt thêm 5 cây số nữa ghé vào chợ Búng đớp món bánh bèo bì, bánh tầm bì, bì bún nem chua, ôi khung trời kỷ niệm xa xưa mà các cô em tôi như Ngọc Quỳnh, Phi Loan, Hà Trúc Mai, Lâm Mai Thy, Bạch Liên Houston những kỷ niệm chưa hề có, chưa hề biết vùng đất dấu yêu của quê hương, ngoại trừ chàng nhạc sĩ Cao Minh Hưng hay ông hội trưởng Nguyễn Hữu Của, tức ông chủ tịch Văn Bút Tây Nam Cali đương kiêm, có lẽ không xa lạ vì Bình Dương là quê hương của 2 vị này. Địa danh trung học Trịnh Hoài Đức, nơi mà GS Nguyễn Thanh Liêm đảm nhiệm chức hiệu trưởng một thuở, cũng là trường mà GS. Trần Văn Thuần Houston nhận nhiệm sở dạy học. Về sau thầy Thuần tức nhạc sĩ Hoàng Sa về dạy tại trung học Gia Long và bỏ quên con tim với Gia Long, như khúc tình ca "I Left My Heart in San Francisco", nhạc của George C. Cory, Jr. và lời của Douglass Cross. Thầy Liêm về dạy tại Petrus Ký và rồi đảm nhiệm chức hiệu trưởng, có huông may mắn của hai vị thầy khả kính về từ Bình Dương chỉ ca cùng khúc tình ca của Douglass Cross, nhưng khác ở chỗ là "We left our hearts in Gia Long".

Địa danh chợ Búng nằm giữa Thị xã Thủ Dầu Một và Lái Thiêu, cách đều mỗi đầu 5km, và cách Sài Gòn 25km, nằm cạnh quốc lộ 13, có tuyến xe đò Đồng Hiệp chạy từ chợ Thủ về bến ngã Bảy Sài Gòn ngang qua chợ Búng, cạnh đó lại có sông Búng, một nhánh sông nhỏ đổ ra sông Sài Gòn nên giao thông thuỷ bộ đều thuận tiện. Ngoài ra vùng đất bãi bồi ven sông Sài Gòn đã tạo nên một vùng sản xuất trái cây mà nổi tiếng nhất là măng cụt, sầu riêng, mít tố nữ,… mang tên Lái Thiêu,

Trong bài viết "Quê Tôi Trái Ngọt Cây Lành" của nhà văn Nguyễn Hữu Của ở trang 61-79 trong Đặc San 33 Bình Dương, tác giả viết nhiều chi tiết về tỉnh nhà, như từ thổ sản, các món ngon của quê anh, anh kể về vùng đất địa linh nhân kiệt này, cùng danh lam thắng cảnh.

binhduong1

Vườn Cây Lái Thiêu

Bây giờ ta hãy tìm hiểu Bình Dương qua lịch sử tạo dựng về địa lý và phát triển cư dân:

A/ Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Bình Dương

Cũng như hầu hết các địa phương thuộc lưu vực sông Phước Long (nay là sông Đồng Nai) và sông Tân Bình (nay là sông Sài gòn), vùng đất nay là Bình Dương cho đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vẫn còn là vùng đất hoang dã, rừng rậm. Lúc bấy giờ trên vùng đất mênh mông này mới chỉ có một ít cư dân thuộc các thành phần dân tộc : S’tiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ Nông, Khờ Me sinh sống. Các dân tộc với dân số ít ỏi, kỹ thuật sản xuất thấp kém, họ sống chủ yếu nhờ vào phá rừng làm nương, tỉa lúa theo phương thức du canh du cư, kết hợp với hái lượm và săn bắt, sống rải rác đây đó theo từng buôn sóc cách xa nhau cho nên ngoại trừ một vài vùng đất cao ở bìa rừng và một số gò đồi, đại bộ phận đất đai còn lại đều là rừng rậm chưa hề được khai phá. Chính vì lẽ đó mà cho đến giữa thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn đã ghi nhận trong sách Phủ biên tạp lục của ông rằng : "Ở phủ Gia định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp ( Soài Rạp), Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm".

Vùng đất Đồng Nai và Gia Định hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI, trở nên sôi động từ đầu thế kỷ XVII, sự xuất hiện của lớp cư dân mới - lưu dân người Việt từ miền Thuận Quảng nhập cư vào. Đây là số nông dân nghèo không chịu nổi sự vơ vét, bóc lột của nhà nước phong kiến Nguyễn và bọn địa chủ cường hào, cũng như cảnh sống cơ cực, lầm than, chết chóc do cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn gây ra. Đây toàn là những người mắc tội "Nghịch mạng triều đình" mà phải bị lưu đày đến đây, những người vì trốn tránh sưu thế, binh dịch phải chạy vào đây tìm chốn nương thân. Theo chân người Việt, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, một số người Hoa "Phản Thanh Phục Minh" cũng được Chúa Nguyễn cho lánh nạn vào đây sinh sống.

Số lưu dân người Việt khi vào tới đất Đồng Nai - Gia Định thì địa điểm dừng chân đầu tiên của họ, theo sử cũ "Gia Định thành thông chí" là vùng Mỗi Xuy (còn gọi là Mô Xoài) - Bà Rịa vì đây là đất địa cầu nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại ở giáp biển. Rồi từ Mô Xoài - Bà Rịa, họ tiến dần lên Đồng Nai (Biên Hòa) với các điểm định cư sớm nhất là : Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, An Hòa, Long Thành, Cù Lao Phố, cù Lao Rùa, Cù Lao Tân Chánh, Cù Lao Ngô, Cù Lao Tân Triều… Cũng có một bộ phận lưu dân vào cửa Cần Giờ, ngược sông Bình Phước (sông Lòng Tàu) lên vùng Sài Gòn - Bến Nghé và vùng ngày nay là huyện Thuận An và huyện Bến Cát.

Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai - Sài Gòn đã diễn ra liên tục trong suốt thế kỷ XVII và đến cuối thế kỷ này thì dân số đã hơn 40.000 hộ, phân bố gần như khắp vùng mặc dù mật độ dân cư còn tương đối thấp. Đó chính là cơ sở xã hội để vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu quyết định phái Thống suất Chưởng Cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào "kinh lược" (tức là thiết lập hệ thống quản lý hành chính vùng này) "lấy đất Nông Nại đặt làm Gia định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn" (theo tài liệu Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập trung và Tập hạ. Bản dịch tiếng Việt. S.1972, các trang 12,30,43.)

Sau khi thiết lập chính quyền, Nguyễn Hữu Cảnh lập tức chiêu mộ những lưu dân từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vô Nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập hộ tịch đinh điền (theo tài liệu Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập trung và Tập hạ. Bản dịch tiếng Việt, S.1972, các trang 12,30,43)

Khi mới lập, dinh Trấn Biên lãnh một huyện là Phước Long gồm 4 tổng là Tân Chánh (sau đổi thành Phước Chánh), Bình An, Long Thành, Phước An. Địa phận tổng Bình An lúc bấy giờ chính là địa phận hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước ngày nay. Địa phận tỉnh Bình Dương ngày nay nằm ở phần đất phía dưới của tổng Bình An. Đất vùng này nhờ có hệ thống kênh rạch thuận lợi cho việc tưới tiêu nên thích hợp với việc trồng cây lương thực, các loại cây họ đậu, cây công nghiệp ngắn ngày. Đặc biệt vùng đất phù sa cổ dọc sông Sài Gòn, sông Đồng Nai rất thích hợp với nhiều loại cây ăn trái đặc sản. Ngoài ra, lượng mưa ở vùng này tương đối điều hòa nên hầu hết các loại cây trồng đều phát triển nhanh. Chính vì môi trường tự nhiên của đất Bình An khá thuận lợi cho cuộc sống con người, cho nên đây cũng là nơi sớm thu hút lưu dân đến sinh cơ lập nghiệp. Thời kỳ ban đầu, lưu dân người Việt, người Hoa sống chủ yếu ven sông Đồng Nai, sông Sài Gòn. Càng về sau, dân số càng phát triển do sinh đẻ tự nhiên và do di dân bổ sung, họ mở rộng địa bàn cư trú và khai thác về phía Bắc.

Kết quả là chỉ trong vòng một thế kỷ từ sau ngày Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược (1698), vùng đất này có bước phát triển khá nhanh về kinh tế và xã hội. Chính vì vậy mà năm 1808, triều Nguyễn đã quyết định nâng huyện lên phủ, nâng tổng lên huyện, "xét đất rộng hẹp, dân nhiều ít, cứ theo địa thế liên lạc nhau mà chia đều, lại đặt thêm tổng đều lập giới hạn" (theo tài liệu Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập trung và Tập hạ. Bản dịch tiếng Việt. S.1972, các trang 12,30,43). Theo quyết định này, tổng Bình An được nêng lên huyện Bình An gồm 2 tổng (Bình Chánh, An Thủy) với 119 xã, thôn, phường, ấp, điểm.

B/ Nói về cư dân Bình Dương qua các thời kỳ lịch sử phải nói là dài dòng và rất thú vị.

Thuở ban đầu thời mở đất Phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc quận Tân Bình, phủ Gia Định. Đến năm 1808, khi quận Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên là một trong bốn quận của phủ này. Đất Bình Dương thuở đó nay chủ yếu thuộc địa bàn thủ đô Sài Gòn, chỉ có một phần vùng Dầu Tiếng, lúc đó là tổng Dương Hòa Hạ thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay. Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải trùng với địa bàn của huyện Bình Dương xưa kia. Và về sau này vào thời Việt Cộng tỉnh Bình Dương được tái lập, nhưng cũng không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh Bình Dương như trước năm 1975 của thể chế của Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy, trong lịch sử Bình Dương là tên của gọi những đơn vị hành chánh và lãnh thổ theo những cấp độ khác nhau (tổng, quận, tỉnh) với những địa bàn lãnh thổ khác nhau. Do vậy nên khi nói đến cư dân Bình Dương qua các thời kỳ lịch sử chỉ có tính chất tương đối, không thể phân định rõ ràng theo kiểu thống kê hộ tịch của một đơn vị hành chánh lãnh thổ cụ thể như hiện hành.

Bình Dương vốn gắn liền với Gia Định và Đồng Nai xưa, tức là miền Đông Nam phần ngày nay, cư dân Bình Dương là một bộ phận cư dân miền Đông Nam Việt Nam. Nhưng đồng thời với trung tâm là thị xã Thủ Dầu Một với một vùng phụ cận bên bờ sông Sài Gòn có những điều kiện môi trường sinh thái đặt biệt, cư dân Bình Dương cũng có nhũng đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ năng nghề nghiệp và lối hành xử trong cuộc sống của mình. 

Những trang sử cũ về vùng đất trù phú này được lật lên từ lòng đất Bình Dương qua các di tích khảo cổ học như Vườn Dzũ, Cù lao Rùa – Gò Đá, Dốc Chùa đã cho thấy cách đây hàng ngàn năm, con người nguyên thủy đã sinh sống và phát triển trên địa bàn Bình Dương. “Người Vườn Dzũ” (tức vùng Tân Uyên) là lớp cư dân đầu tiên khai phá vùng đất Đông Nam phần nói chung, Bình Dương nói riêng, cách ngày nay đã chục ngàn năm rồi.

Vào thời kỳ phát triển của xã hội nguyên thủy, trên đất Bình Dương có di tích khảo cổ Cù Lao Rùa – Gò Đá (Tân Uyên). Đó là những khu cư trú của con người tiền sử vào thời kỳ “hậu kỳ đá mới – đầu đồng thau” vào loại lớn nhất của Đông Nam Á. Chủ nhân của nó là những cư dân nông nghiệp dùng rìu, cuốc để rẫy, là một bộ phận quan trọng của cư dân xứ Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam phần vào thời tiền sử cách nay 3000 hay 4000 năm.

Cũng trên đất Bình Dương vào thời đoạn cường thịnh của người tiền sử - thời đại kim khí cách ngày nay khoảng 3000 – 2500 năm, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di tích Dốc Chùa (Tân Uyên) là một di tích của khu cư trú lâu dài, một xưởng thủ công đúc đồng có tầm cỡ, một khu mộ táng lớn có sưu tập di vật đồ đồng khuôn đúc nhiều nhất trong toàn vùng Đông Nam phần. “Người Dốc Chùa” qua nhiều thế hệ đã có sự giao lưu rộng rãi, đã hoạt động thuộc về ngành xuất nhập cảng, tứcnhập nguyên liệu, và xuất sản phẩm để phục vụ cho nghề thủ công đúc đồng nổi tiếng nhất vào thời bấy giờ.

Nói chung, cư dân tiền sử Bình Dương với những mốc phát triển trên đây là một bộ phận chủ nhân của một trong ba nền văn hoá kim khí nổi tiếng ở nước ta là văn hoá Đồng Nai (vùng Đông Sơn, Sa Huỳnh). Đó là lớp cư dân đầu tiên của Bình Dương nói riêng và của vùng đất Nam Bộ nói chung, cách ngày nay khoảng 4000 – 2500 năm. Rồi vào khoảng trước và sau Công Nguyên, họ đã mở rộng quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau trong khu vực lân cận, mở rộng cuộc khai phá đến vùng châu thổ sông Cửu Long, tạo lập nên nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng ở vùng miền Nam.

Sau 5 - 6 thế kỷ tồn tại và phát triển, những khu cư dân phồn vinh của văn hoá Óc Eo bị chôn vùi trong bùn lầy châu thổ và ven biển miền Nam, thì vùng miền Đông Nam phần lại nhanh chóng phát triển với nhiều lớp cư dân hỗn hợp. Trong đó, vùng trung lưu và cả thượng lưu Đồng Nai. Truyền thống văn hoá tiền sử muộn bắt đầu hồi phục trở lại và phát triển trong sự hiện diện của một số cư dân bản địa mà hậu duệ của họ vẫn còn sinh sống ở vùng đất ĐôngNamphần hay vùng Nam Tây Nguyên cho đến tận hiện nay. Đó là người Stiêng, Mạ, Châu Ro… Ngày nay rất ít người S’tiêng, Mạ, Châu Ro sinh sống. Phần lớn họ cư trú ở tỉnh Bình Phước, người anh em sinh đôi của Bình Dương và một số cư trú ở các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Lâm Đồng, Bà Rịa. Tuy vậy, trong lịch sử vùng đất Bình Dương ngày nay đã từng là nơi sinh sống một thời của các dân tộc thiểu số vừa nêu tên trên. Qua những chuyện kể từ dân gian mang tính chất hồi tưởng lịch sử về quê hương tổ tiên của mình, các dân tộc bản địa hiện đang sinh sống ở miền Đông Nam Bộ thường cho biết địa bàn sinh sống xưa kia của tổ tiên họ là đất gần biển, là những vùng ít núi non. Nhóm người Ta Mun ở sóc 5 xã Minh Hoà và nhóm người S’tiêng Budeh còn nói rằng cách đây không lâu, ông cha họ còn ở vùng Thuận An. Rất có thể họ là thành phần cư dân của “Vương quốc Mạ” trong lịch sử từng tồn tại theo hai bên bờ sông Đồng Nai ở trung lưu và hạ lưu. Và lúc ấy, địa bàn Bình Dương là một trong những vùng lãnh thổ của họ. Sau này, do áp lực của nhiều luồng di dân và do nhiều điều kiện lịch sử xã hội của thời kỳ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, các dân tộc bản địa vùng này đã lùi dần về vùng núi thượng lưu thuộc các tỉnh miền ĐôngNamphần và Nam Tây Nguyên hiện nay .

Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung tản mác về vùng hướng Đông Nam phần, trong đó có địa bàn Bình Dương, tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ không chịu đựng nỗi cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến. những người trốn lính, trốn thuế v.v… nhìn chung là vì những khó khăn của cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm vùng đất mới lập nghiệp nương thân. Có lẽ ngay từ những năm tháng đầu tiên, Bình Dương là một trong những nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với những địa bàn khác nhau như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé. Bởi ngày ấy dân di cư thường theo những cửa biển con sông để tìm những vùng đất. Và Bình Dương, đặc biệt là những vùng xung quanh thị xã Thủ Dầu Một, vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá.

Sau khi thiết lập hệ thống hành chánh, và sau đó là triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang lập làng vùng Gia Định và Đồng Nai. Trong bối cảnh đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu thì vùng Bình An (đất Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất của tỉnh Biên Hòa, cho nên có thể nói tại đây là vùng có đông dân cư nông nghiệp nhất. Và xung quanh Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi hay vùng Tân Khánh, Tân Uyên, Cù Lao Rùa là những xóm làng đông đúc của Bình Dương từ thuở đầu mở nước thời nhà Nguyễn.

Sau thế kỷ XIX, cư dân Bình Dương đã phát triển nhanh hơn. Đặc biệt trong thời kỳ này, cộng đồng người gốc Hoa đóng góp khá nhiều cho sự phát triển cho Bình Dương, họ đến định cư ngày một đông. Họ đến đây từ Cù Lao Phố hay Biên Hoà và từ Bến Nghé hay Gia Định. Những làng gốm của người Hoa xuất hiện ở vùng Lái Thiêu, Phú Cường, Tân Uyên với những sản phẩm được tạo ra đã có sự chuyển hóa khá rõ nét, vì những lò của người Hoa Quảng Đông chuyên về tượng trang trí, lò gốm người Hoa Triều Châu chuyên sản xuất đồ gia dụng, còn lò gốm người Hoa Phúc Kiến chuyên sản xuất vật dụng to lớn như lu, khạp v.v… Cho đến nay, người Hoa ở Bình Dương vẫn tập trung ở một số vùng “định cư truyền thống” của họ như thị xã Thủ Dầu Một, Lái Thiêu hay Thuận An, Tân Uyên. Ngoài nghề buôn bán, họ còn chung thủy với một số nghề truyền thống, mà trước hết là nghề gốm từ thuở ban đầu, tạo nên một nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc cho người Bình Dương qua các thời kỳ.

Từ khi tỉnh Thủ Dầu Một được thiết lập thì dân cư ở vùng này đã phát triển nhanh chóng. Nhiều ấp, làng mới được hình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Đặc biệt nhiều làng nghề trên đất Thủ Dầu Một được ra đời, trong đó đáng chú ý nhất là những làng mộc, và những cơ sở sản xuất sơn mài. Cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề kỹ thuật khảm xà cừ trên tủ thờ, ghế dựa tràng kỷ, hương án… đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quí (gõ, cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương. Miếu mộc tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa là các cụm dân cư độc đáo của Bình Dương. Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một, nghề mộc Bình Dương càng có điều kiện phát truển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn có đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả quốc tế.

Một ngành nghề nổi tiếng khác của Bình Dương là ngành sơn mài, điểm nổi bật của người dân Bình Dương vốn được những người lưu dân Việt từ Bắc và Trung mang theo khi đến định cư ở vùng đất này. Tương Bình Hiệp ở huyện Bình An xưa vốn là một huyện làm tranh cổ đã tiếp nhận những lưu dân có nghề từ Bắc và Trung vào đây lập nghiệp, dần dần đã trở thành “trung tâm sơn mài” của Bình Dương qua các thời kỳ. Một đặc điểm quan trọng khác trong sự biến đổi thành phần dân cư của Bình Dương vào thời kỳ này là sự xuất hiện những nhóm công nhân cao su ngày càng nhiều theo chiều mở rộng của các đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một thuộc miềnĐôngNamphầm. Từ đầu thế kỷ XX, Thủ Dầu Một đã trở thành tỉnh dẫn đầu về trồng cao su ở miềnNam. Theo đó các làng cao su lần lượt mọc lên trên đất Thủ Dầu Một ngày càng nhiều, nhất là xung quanh các đồn điền cao su nổi tiếng như tại Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Đa Kia, Quản Lợi, Phú Riềng, Xa Cam, Xa Cát…

Để kết luận về bài viết về Bình Dương khi tôi mở đề qua nhạc của Phan Ni Tấn, phổ thơ của nhà thơ La Toàn Vinh, tôi xin khép bài bằng trọn bài thơ của người thi sĩ này vậy:

Quê tôi ở hướng mặt trời;

mang mang niềm nhớ

bao lời ca dao.

nhớ mùa trái chin lao xao

thì thầm nỗi nhớ

ru vào tình em

Nức lòng mời bạn đến xem

một ngày xứ Thủ

khó tìm đâu ra

Bình Dương

vẫn thắm màu hoa

nụ cười ngọt lịm

chan hòa

cùng em…

Quê tôi ở tận lòng người

mênh mông bến nước

con đò đợi ai

một lòng

chung thủy chẵng phai

yêu từ

cụm đất

miệt mài tình quê…

qua Bến Cát nhớ dấu xưa

nhớ cây trứng cá

đong đưa sau hè

râm ran vui lắng tiếng ve

một chiều trở lại

hàng me

bên đường.

Quê tôi ở tận miền Đông

một miền soi mãi ánh hồng  thái dương

về lại đây để yêu thương

trong từng vạt nắng

khu vườn thiết tha..

LTV, 2011

 

- Tham khảo site wikipedia va datanet

oOo

Phần II:

Chút Bolsa...

 (Tiếp theo bài viết Chút Quê Nhà)

Nhạc sĩ Cao Minh Hưng và Giáo sư Lê Văn Khoa hẹn chúng tôi tại Hội Quán Lạc Cầm để tham dự Buổi Thi Tuyển Lựa Giọng Ca Hay do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tổ chức, được đài Global TV trên làn sóng 57.8 quen thuộc, thu hình. Khi đến nơi hai cô em Lê Thúy Vinh và Trina Thu Hà sắp xếp chỗ ngồi trong một gian phòng ấm cúng thích hợp cho các buổi nhạc nhẹ. Xung quanh thì quan khách đã ém cá mòi hộp chật ních căn phòng. Lạc Cầm trang trí thanh nhã và nghệ thuật, thích hợp cho số lượng ít người hơn.

Ban_Giam_Khao_Vong_So_Ket_So_1_resized 

 

Ban chấm thi, từ trái: Diệu Hương, Vũ Anh và Ngọc Hà

Ban tổ chức thuộc Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ mời được 3 vị giám khảo có kinh nghiệm về âm nhạc hay ca hát như ca nhạc sĩ Vũ Anh, ca sĩ Ngọc Hà và ca nhạc sĩ Diệu Hương. Người thí sinh đầu tiên và cuối số 17 là hai giọng kim, thí sinh Thanh Thảo với Trường Ca Sông Lô mang số một (#1), thí sinh (#17) là Thúy Quỳnh với bài Không Còn Mùa Thu. Đây là hai khúc ca hay và quen thuộc. Trước đây tôi chỉ biết Thanh Thảo qua 2 phạm vi địa ốc và xướng ngôn viên mà thôi, nay thì cô mang nghiệp dư ca hát. Thúy Quỳnh thí sinh cuối của buổi thi cho biết cô sang Mỹ được một năm, tôi nghe các giám khảo cho là một giọng ca triển vọng. Tôi nhận xét trong nuối tiếc vì ông trời không công bằng khi cho hiện trạng âm suy. Giọng ca nữ hôm nay như hoa lạc giữa rừng gươm, nam thí sinh vượt trội hơn với tỉ số 13/16. 

Ban giám khảo, theo nhận xét riêng của tôi,  đã làm công tác được giao phó, giữ vai trò chấm thi công bằng, vô tư và xây dựng. Tôi theo dõi những lời phê, lối trao chuyển thông điệp về kỹ thuật giọng ca và phong cách trình diễn. Một bài nhạc có thể được chuyển tải thành công khi ca sĩ giữ vững tiết nhịp, nắn nót giai điệu (melody) cho hợp với lời ca và dáng điệu vừa đủ để giúp nói lên nỗi lòng thay cho tác giả bài ca. Phần này quý vị giám khảo nhận xét, góp ý với ca sĩ nhưng đồng thời hướng dẫn khán giả bên dưới, nhiều người đồng ý với tôi, khi đi nghe tuyển lựa giọng ca cần những "tourguide" có khả năng hướng dẫn, thật là lý thú. Dự thi tuyển giọng ca thì có nhiều tài năng, nhiều người diễn đạt khác nhau, do năng khiếu và sự luyện tập, có người ca đúng vào âm vực đẹp của giọng ca mình mà bài ca cho phép, nhưng đôi khi cần nâng cao độ (pitch) cần thiết cho đúng âm thanh, hay ngân độ rung thích hợp (suitable vibration), cũng như khi trình diễn bài ca không nên đều giọng suốt bài mà cần tạo một cao điểm cho bài ca.  

Tôi nhận thấy các giám khảo nêu những nhận xét với ý hướng dẫn thí sinh trong tinh thần xây dựng, để họ trau dồi thêm cho giọng ca đạt sự tối hảo trong  tương lai.

Một thí thí sinh khi lên sân khấu, ngoài tài năng ca hát, các yếu tố khác cũng quan trọng không kém. Ví dụ, khi người hát một bài tình ca tương tư sao người cứ mãi ngó xuống nền nhà? Dù tâm trạng u buồn cũng nên tìm một đối tượng (thính giả) nào đó để dễ dàng diễn tả (eye contact hay "eye-to-eye" look), xin chớ e thẹn hay mắc cở bận sau.

Một trường hợp khác, một vị thí sinh hát bài ca mang ý tưởng "Bonjour Tristesse" của nhà văn nữ Françoise Sagan, bài tình ca "Buồn ơi ta xin chào mi" của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, thí sinh diễn tả bài ca khá trọn vẹn, cả 3 giám khảo hầu như đều có lời nhận xét thuận lợi về giọng ca, nhưng người ấy khi ca cứ mãi gửi ánh mắt lên trần nhà. Thí sinh ghi nhận, hứa sẽ áp dụng "scapegoat technique" dán mắt vào cô khán giả nào đó khi lên sân khấu bận sau . Tôi hiểu dù khi thí sinh gửi đôi mắt ngó xuống sàn nhà bóng lưỡng xinh xắn hay dán mắt tìm các vì tinh tú bay lạc loài trong vũ trụ hư        Giám khảo Ngọc Hà phát biểu ý kiến

vô cũng là cách diễn tả, nhưng nếu ghìm đôi của sổ của tâm hồn qua lối "eye-to-eye contact" sẽ ý nghĩa hơn chứ nhỉ.

Link nhạc ví dụ "Bonjour Tristesse":

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=vkJMIeaVBj

Nhận xét của ban giám khảo cho thấy vài thí sinh hát lên cao không đúng cung bực (pitch), có người hát xuống thấp (low register) không ra tiếng. Với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, âm nhạc có ba phần đi sát với nhau: 1. Sáng tác, 2. Trình diễn và 3. Thưởng thức. Người thi hát đứng ở giữa thành phần sáng tác và thưởng thức. Chọn một bài nhạc hay mà trình diễn không tới thì người nghe không thấy hay. Thiết nghĩ người thi hát không nên chọn bài hát thật khó mà nên chọn bài nào vừa tầm hát của mình để mình có thể chuyển ý lời ca và nét nhạc cho đạt, gây xúc động được cho người nghe, thì dễ thành công hơn. Ðây là cuộc tuyển lựa giọng ca hay chứ không phải thi tuyển bài ca hay.

Đi dự Buổi Thi Tuyển Lựa Giọng Ca Hay do đề nghị của các cố vấn âm nhạc như Anh Bằng và Lê Văn Khoa khuyến khích, con chim đầu đàn Cao Minh Hưng cùng các bạn thực hiện bước đầu khá lắm.  Vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi mong trong ngày gần, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ sẽ khám phá ra nhiều giọng ca mới và hay như ý muốn của Ban Tổ Chức.

Trần Việt Hải

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Wednesday, 18 April 2012 22:25 )  
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account