CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Nghệ Thuật Nhiếp Ảnh Ðối chiếu Phim và Digital

Ðối chiếu Phim và Digital

E-mail Print
User Rating: / 9
PoorBest 

GSLeVanKhoa

 

 

Khoảng đầu thập niên 90 khi dạy lớp ảnh của Hội Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam Bắc California, ở Oakland, nhiếp ảnh gia Ngô Thanh Tùng có hỏi tôi: “Ngành ảnh digital đang lên, anh có nghĩ trong tương lai nó sẽ diệt ảnh phim nhựa?”

Tôi trả lời cách quả quyết: “Không diệt được đâu, nhưng cả hai bên đều sẽ gắng sức củng cố ngôi vị của mình. Anh nhớ khi truyền hình xuất hiện người ta nghĩ điện ảnh sẽ tiêu. Nhưng không, cả hai đều đã có những bước tiến vượt bực và cả hai vẫn sống hùng, sống mạnh.”

Tuy nói mạnh như vậy, nhưng ngay sau đó tôi cũng dè dặt: “Dù sao sự tiến bộ của khoa học vẫn phục vụ con người. Người làm nghệ thuật sẽ tân dụng phương tiện khoa học để phục vụ nghệ thuật.”

Mấy năm sau tôi vui vì thấy bên phim nhựa có tiến bộ quan trọng. Càng vui hơn khi thấy bên digital có những bước nhảy vọt nhanh chóng để qua mặt khả năng của máy ảnh dùng phim nhựa trong nhiều lãnh vực. Trong bài này, với đối tượng là người chụp ảnh trung bình, tôi chỉ ghi nhận những đối chiếu căn bản, tránh đi sâu vào lý thuyết, kỹ thuật, lịch sử tạo máy ảnh, phương thức ghi nhận ảnh của hai loại ảnh phim và ảnh digital.

Tôi chỉ tóm ghi những điểm chính dẫn đến sự hình thành nhiếp ảnh ngày nay, như sau:

Ta thấy nhiếp ảnh có lai lịch khá dài. Từ thời rất xưa, người Ai Cập (khoảng 500 S.C.) đã khoét lỗ cho ánh sáng rọi hình lên tường trong phòng tối đen để thấy hình bên ngoài hiện ra trên tường và vẽ theo đó.

Đến thế kỷ 16 người ta gắn ống dòm vào lỗ ấy để thấy hình sáng và rõ hơn.

Qua thế kỷ 17, phòng tối (camera obscura) được các họa sĩ dùng thường hơn dưới hình thức chiếc kiệu di động.

Năm 1800, ông Thomas Wedgwood tạo “ảnh mặt trời” bằng cách để một vật che sáng lên miếng da thuộc có tẩm muối bạc (silver nitrate). Hình ảnh được ghi lại, nhưng bị hư rất nhanh nếu để hình đó nơi có ánh sáng mạnh hơn ánh sáng chiếc đèn cầy. Tuy nhiên đó là bước đầu của phát minh ghi lại hình ảnh không bằng cách vẽ.

Năm 1813, một người Pháp tên Nicéphore Niépce bắt đầu thí nghiệm ghi lại hình ảnh bằng giấy cảm nhạy ánh sáng. Đến năm 1816, ông thực hiện ảnh âm và dương trong phòng tối (camera obscura).

Néciphore Niépse

7-3-1765 – 5-7-1833

 

Mười năm sau, năm 1826, Nicéphore Niépce tạo được cách giữ hình lâu.

Ðây là ảnh (heliograph) thực sự đầu tiên của Nicéphore Niépce chụp năm 1825. (Heliograph theo tiếng Hy-Lạp helios = mặt trời và graphein = viết). Ông phải mất 8 tiếng đồng hồ để “chụp” lại tranh khắc trên bảng đồng từ thế kỷ 17, hình người dẫn ngựa.

William Fenry Fox Talbot

11-2-1800 – 17-9-1877

 

Năm 1834 Williamn Henry Fox Talbot (Anh) tạo được âm bản lâu bền bằng cách nhúng giấy vào silver chloride và định hình với dung dịch muối. Ông ép âm bản giấy với một tờ giấy khác để chuyển hình âm qua dương. Phương pháp Calotype này được công bố năm 1841.

Louis Daguerre

18-11-1789  – 10-7-1851

Đến năm 1837, ông Louis-Jacque-Mandé-Daguerre (cộng tác với Niépce trong thời gian cuối đời của Niépce) ghi hình lên miếng đồng đánh bóng thật kỹ rồi tẩm trong iode bạc và hiện hình với mercury ấm. Phương pháp này gọi là phương pháp Daguereotype. Ông được chính phủ Pháp tài trợ để đổi lấy phát minh làm hình của ông cho dân Pháp dùng. Ngày 12-8-1839 chính phủ Pháp tuyên bố cho thế giới sử dụng tự do phát minh của ông Daguerre. Nhờ đó phát minh này được phổ biến rộng và tên Daguerre gắn liền với nhiếp ảnh.

Một biến chuyển lớn xảy ra tại Hoa Kỳ vào năm 1880. Một thanh niên 24 tuổi tên George Eastman dựng công ty bản kẻm tên Eastman Dry Plate Company ởRochester,New York. Nhờ đó ảnh đầu tiên được in trên nhật báo, tờ New York Graphic.

George Eastman

(12-7-1854 – 14-3-1932

George Eastman không dừng lại đó. Ông lập công ty Kodak. Tám năm sau, năm 1888, một biến cố quan trọng khác do George Eastman tạo: Máy ảnh Kodak đầu tiên với 20-foot giấy cuộn để chụp 100 ảnh 2 inch rưởi. Ðây là máy ảnh đầu tiên mà giới trung lưu có thể đụng tới, bắt đầu thế hệ dùng nhiếp ảnh để chụp hình tài liệu lưu niệm gia đình, là ảnh người thân trong gia đình. (George Eastman sáng chế nhiều loại máy ảnh, máy quay phim và đủ các loại, các cỡ phim, máy ảnh digital, máy in ảnh. Ông là một tên tuổi rất lớn trong kỷ nghệ nhiếp ảnh. Năm 1924, ông cống hiến nửa gia tài là 75 triệu Mỹ Kim để lập Eastman Music School cho Rochester University ở New York  và Massachusetts Institute of Technology tại Boston. Ông tự tử chết năm 72 tuổi, để lại mảnh giấy ghi: “Việc tôi đã xong. Còn chờ đợi gì?” (My work is done. Why wait?)

Chỉ một năm sau (1889) Kodak cho ra đời máy ảnh cải tiến, dùng phim cuộn thay cho giấy cuộn.

Năm 1990 Kodak giới thiệu Kodak Brownie, máy ảnh hộp (box camera) dùng phim cuộn.

Qua lãnh vực phim màu thương mãi thì hãng Lumière của Pháp cho ra đời phim bảng Autochrome đầu tiên năm 1907.

Hãng Nippon Kogaku K.K. được thành lập năm 1917 ở Tokyo, Nhật Bản, và trở thành Nikon.

Oscar Barnak

1-11-1879 – 16-1-1936

 

 

 

Năm 1924 hãng Ernst Leitz tung ra thị trường máy ảnh “Leica” 35mm đầu tiên với phẩm chất cao. Đây là kết quả của việc ông Oscar Barnak, trưởng phòng chế tạo máy ảnh của Leitz, từ năm 1914 yêu cầu chế tạo máy ảnh nhỏ. Ông bị suyển không vát máy lớn được nên yêu cầu hãng chế tạo kính hiển vi Leitz, chế tạo máy ảnh dùng khổ phim 24x36 tân thời (lớn gấp đôi phim movie 18x 24). Ông quan niệm chụp hình với phim nhỏ để phóng ra lớn trong phòng tối. Vì đệ nhất thế chiến làm đình trệ nên đến năm 1824 máy leica mới được sản xuất 1.000 máy.

Hãng phim Fuji được thành lập năm 1934.

Đến 1938 hãng Fuji chế tạo thêm máy ảnh và ống kính.

Năm 1948 Thụy Điển cho ra đời máy Hasselblad, máy chụp hình với phim trung, medium format (6x6). Nhật Bản sản xuất máy ảnh Pentax với màng chập tự động. Polaroid sản xuất máy ảnh chụp hình đen trắng lấy liền.

Năm 1949, Đông Đức bán ra máy ảnh Contax S, máy ảnh phản chiếu đầu tiên mà hình không bị lộn ngược, nhờ ngắm hình qua lăng kính năm mặt (pentaprism).

Máy ảnh Nikon F ra đời năm 1959.

Năm 1963 máy Polaroid chụp ảnh màu lấy hình liền xuất hiện. Kodak tung ra thị trường máy chụp hình Instamatic. Năm này cũng xuất hiện Nikonos, máy chụp hình dưới nước.

Texas Instrument đăng ký máy ảnh không dùng phim, năm 1972 .

Tháng Tám 1981 Sony giới thiệu máy Mavica (magnetic video camera). Ðây không phải là máy chụp hình thực sự mà là máy thu video ghi hình rời.

1985, Minolta cho ra thị trường hệ thống máy ảnh phản chiếu một ống kính đầu tiên lấy nét tự động (auto focus).

Năm 1987, hệ thống máy ảnh Canon EOS xuất hiện với tất cả ống kính điện tử.

Photoshop ra mắt thị trường thế giới năm 1990.

Cũng năm 1990, máy ảnh digital đầu tiên được giới thiệu ra thị trường cho công chúng sử dụng là máy ảnh Dycam I.

Năm 1991, hãng Kodak cho ra đời hệ thống máy ảnh digital chuyên nghiệp đầu tiên (DCS) nhắm vào các nhiếp ảnh gia chuyên làm phóng sự nhiếp ảnh. Máy ảnh Nikon F-3 được trang bị với bộ phận cảm nhận 1.3 megapixel của Kodak. Song song với Kodak, Sony cho ra đời máy Pro Mavica MVC-5000.

Năm 1993, photo.net ra đời, bắt đầu việc chuyển hình rộng rãi qua internet.

Năm 2000, điện thoại chụp hình được giới thiệu ở Nhật Bản do công ty Sharp/J-Phone.

Ðầu năm 2004, Kodak ngưng sản xuất máy ảnh dùng phim, báo hiệu sự xuống dốc của ảnh phim. Tháng Mười Một phân bộ Agfa-Gevaert, AgfaPhoto ở Ðức tách ra làm hai. Mấy tháng sau họ nộp đơn khai phá sản.

Năm 2005, hãng Kodak giữ lại dưới một phần ba nhân viên sánh với 20 năm trước.

Ðầu năm 2006, Nikon tuyên bố sẽ ngưng sản xuất tất cả máy ảnh dùng phim trừ hai hạng máy ở hai đầu phẩm chất là Nikon FM10 và Nikon F6. Cùng lúc ấy hãng Konica Minolta tuyên bố lui khỏi thị trường nhiếp ảnh. Pentax giảm số máy ảnh dùng phim.

Tháng Ba 2007, Konica Minolta Imaging, Inc. ngưng sản xuất phim và giấy màu.

Tất cả máy ảnh dù dùng phim hay digital đều cần thấu kính và màng chập để nhận đủ ánh sáng cho việc ghi hình. Phim ghi nhận hình ảnh và màu sắc bằng hóa chất. SD card ghi nhận hình ảnh và màu sắc bằng ký hiệu điện tử. Kỹ thuật ghi nhận hình ảnh bằng điện tử thì ngày nay quá phổ thông, từ máy ảnh trong điện thoại di động cho đến Thiên Lý Kính Không Gian (Hubble Space Telescope) và những máy móc dùng trong các đài thiên văn.

George E. Smith

10-5-1939 --

 

The Hubble Space Telescope

Willard S. Boyle

19-8-1924 – 7-5-2011

 

 

 

Nói đến ảnh digital thì phải kể George E. Smith (USA) và Willard Boyle (Canada) là cha đẻ ra CCD (charge-coupled device) ngày 17 tháng Mười 1969, trong phòng thí nghiệm của hãng Bell. Chỉ cần vài tiếng đồng hồ hai giáo sư vật lý George Smith và Willard Boyle vẽ xong sơ đồ CCD. Sự ra đời này đúng vào lúc trận chiến gián điệp bằng vệ tinh giữa Nga và Mỹ lên cao độ. Chính phủ thúc đẩy ngành tạo ảnh digital. Bên dân sự cũng hưởng được nhiều lợi ích qua nỗ lực này. Nhờ CCD mà ảnh từ vệ tinh chuyền về địa cầu rất nhanh và rõ. (Sau khi chế tạo và thí nghiệm vài phân bộ CCD thành công, ông Smith tiên đoán: “Với phát minh này, ảnh dùng hóa chất đã đến ngày cáo chung.” Hai giáo sư đã được nhiều giải thưởng lớn và quan trọng nhất là giải Nobel Vật Lý năm 2009.)

Tóm lại, ta thấy thời gian từ lúc việc ghi được hình bằng ánh sáng đến khi có bảng hình màu, mất trên 100 năm. Rồi từ lúc có máy ảnh đầu tiên cho dân chúng dùng (Kodak 1888) đến khi có máy ảnh digital thực sự đầu tiên cũng gần 100 năm (1990). Nhưng từ ngày có máy ảnh digital đến nay (2011) chỉ 21 năm, mà máy ảnh digital đã lan tràn khắp thế giới. Còn máy ảnh trong điện thoại di động mới xuất hiện năm 2000, chỉ 11 năm sau, dường như không còn loại điện thoại di động nào không có gắn máy chụp hình. Mỗi năm các nhà sản xuất máy ảnh đều có cải tiến, do đó ta khó đoán được tương lai của nhiếp ảnh như thế nào.

Bây giờ ta thử đối chiếu những điểm lợi và thất lợi rõ ràng nhất của phim và digital.

Phim càng nhạy sáng (fast film = 400 ISO hay cao hơn), ảnh càng nổi hột to khi phóng lớn. Phim ít nhạy sáng (slow film = 100 ASA hay ít hơn) là phim mịn, hột nhỏ, rất tiện dụng cho loại ảnh sẽ được phóng lớn.

Khổ phim thông dụng

 

35mm                                                                          120 cho máy medium format             

20 hoặc 36 hình tùy chọn phim                                   8, 12, hoặc 16 ảnh tùy loại máy ảnh


 

 

 

 

Phim 35mm

Phim 120

 

 


 

 

 

 

SD cards

     4 gig                                      8 gig                              16 gig                         32 gig

 

 

 

           

 

 

SD card có nhiều loại, từ 2 đến 32 Gigabite, có sức chứa từ nhiều trăm đến nhiều chục ngàn hình tùy chọn card và tùy cách chọn phẩm chất của hình.

So sánh giá căn bản của mỗi hình được chụp:

Mỗi cuộn phim 35 mm chụp được 36 ảnh.

Ektarcolor                               $4.35 một cuộn           $0.121 mỗi ảnh

Ektachrome                             $7.50 một cuộn           $0.208 mỗi slide

Tri X đen trắng                       giá tương đương với phim màu

Một cuộn phim 36 ảnh giá trung bình $4.50. Tiền phim cho mỗi ảnh là $0.125

Nếu chụp 360 ảnh                   tiền phim             $45.00

-id-          3.600 ảnh                    -nt-                $450.00

-id-        36.000 ảnh                     -nt-              $4500.00

Đó là chưa kể tiền tráng phim và in ảnh.

Giá 1 SD card 8 GB trên dưới $18.00. Giá mỗi ảnh chụp nếu chỉ dùng SD card một lần thôi:

MộtSDcard 8 GB có thể chụp được 1533 ảnh    12 MB                  $0.01174  mỗi ảnh

                        -nt-                              1543 -nt-    11.5 MB               $0.01165     -nt-

                        -nt-                              1615 -nt-    10.5 MB               $0.01115     -nt-

                        -nt-                              2578 -nt-      5 MB                  $0.00698     -nt-

                        -nt-                            34631 -nt-      0.3 MB               $0.00052     -nt-

Với 0.3 MB ảnh đủ lớn để gửi qua internet.

MỗiSDcard sau khi dùng xong, xóa đi, chụp hình lại. Dùng rất nhiều lần trên một SD card, nên giá của mỗi ảnh chụp kể như không có gì hết.

Nếu chỉ dùng 2 lần một SD card 8GB ở dạng 0.3MB, ta sẽ có 69.262 ảnh. Nếu chỉ xem một ảnh trong 2 giây, phải mất hơn 38 giờ mới xem hết. Trên thực tế, không ai xem ảnh chỉ trong 2 giây đồng hồ và chắc chắn không ai có thể xem ảnh 38 giờ liên tục.

Dù tiền mua SD card 18GB hoặc 32GB không cao nhưng tôi không đề nghị dùng nó, vì rủi bị xóa lộn, card bị hư hay bị mất, ta sẽ mất quá nhiều hình trong nháy mắt.

Giá mỗi cuộn phim không cao bằng SD card, nhưng muốn chụp hình thêm, phải mua phim thêm. Lâu ngày tiền phim nhập lại có thể lên nhiều lần cao hơn tiền mua máy ảnh.

Phim đen trắng và phim màu riêng biệt

 

Muốn có hình đen trắng phải chụp hình với phim đen trắng, muốn có ảnh màu phải dùng phim màu. Phim màu làm hình có hai loại: Ánh sáng mặt trời (day light - nhạy nhiều với màu đỏ) và ánh sáng đèn (tungsten light hay là artificial light – vì ánh sáng này nhiều màu đỏ nên phim được cấu tạo để nhạy nhiều với màu xanh). Phim chụp với ánh sáng mặt trời được dặn chỉ dùng 2 tiếng đồng hồ sau khi mặt trời mọc và 2 tiếng đồng hồ trước khi mặt trời lặn để có màu sắc đúng. Ánh sáng trời gần vào lúc mặt trời mọc là lặn ngả qua màu đỏ, vào gần trưa, ngả qua màu xanh. Nếu muốn chụp hình màu thật chính xác, phải dùng máy đo độ nóng của ánh sáng và phối hợp với kính lọc màu (loại chế tạo riêng cho phim màu) bằng cách gắn vào trước thấu kính. Có cả chục kính lọc khác nhau. Phim màu để in ảnh (color = Kodacolor, Agfacolor v.v. . .) khác với phim màu để chiếu lên màn ảnh (chrome  =  Kodachrome v.v. . .)

SD card dùng chung cho tất cả các loại hình

Ghi tất cả hình chụp vô trong một SD card. Muốn có ảnh đen trắng hay màu tùy ý quyết định lúc làm hình. Thay vì dùng các loại phim màu khác nhau và kính lọc màu để chỉnh màu sắc, ta chỉ cần chọn WB (white balance) có sẵn trong máy ảnh. Với người chụp ảnh thông thường, chỉ cần chỉnh vào automatic white balance, máy ảnh tự điều chỉnh để có màu trắng đúng trong hầu hết các điều kiện ánh sáng khác nhau. Không cần quang kế, không cần kính lọc riêng, do đó việc đi chụp ảnh xa, không có trở ngại nhiều.

Thời gian cần thiết để có ảnh          


Phim:

 

Muốn xem ảnh phải tráng phim, phơi phim khô xong, tới giai đoạn in hoặc phóng ảnh, tráng hình, làm khô, mới xem được hình, mất cả tiếng đồng hồ hay lâu hơn. Làm hình màu nếu cần gửi đi xa, là việc không dễ, mất thì giờ chuẩn bị và chờ đợi nếu gửi đường bưu điện. Ngày trước ở ViệtNamphải gửi phim màu ra nước ngoài để in hình màu, thường phải chờ cả tuần lễ đến cả tháng mới xem được hình. Nếu làm hình ở nhà phải có phòng tối, có máy phóng ảnh, giấy ảnh độ tương phản khác nhau và nhiều loại hóa chất khác nhau. Sau khi pha trộn, hóa chất không giữ được lâu. Nếu không có ảnh vừa ý, thường không chụp lại được.

Digital:

Xem thấy hình ngay sau khi chụp ảnh để quyết định cần chụp lại hay không. Rất lợi trong việc thông tin. In ảnh qua computer tại nhà thì có ảnh trong vài phút. Có thể gửi hình vừa chụp xuyên lục địa trong nháy mắt.

 

Ðộ nhạy của phim

Ðộ nhạy sáng cố định cho từng loại phim. Có thể chụp theo độ nhạy gia giảm của phim đang dùng và khi tráng phim sẽ gia giảm thời gian tráng phim tùy theo phần chụp hình nào là quan trọng hơn hết. Hy sinh phần ít quan trọng hơn. Phải rất thiện nghệ mới làm được việc này.

Ðộ nhạy của digital

Ðộ nhạy sáng tùy nghi, chỉ cần bấm vào chỗ chọn lựa là thay đổi độ nhạy sáng trước khi chụp hình, bất cứ lúc nào. Ai cũng làm được. Không cần đem nhiều loại phim khác nhau.

 

 

Những ý kiến trái ngược từ hai phe

Phim là nhất


1. - Phẩm chất ảnh phim nhựa cao hơn ảnh digital.

Câu này đúng ở thập niên 1990. Nhưng phẩm chất của ảnh digital đã biến đổi rất nhiều. Thử xem lại ảnh đầu tiên của Niépce (bên trên) và đối chiếu với ảnh của ngày nay thì thấy sự khác biệt ra sao. Từ đầu thập niên 2010 ảnh digital không thua kém phim nhựa và trong tương lai không ai biết được ảnh digital sẽ tiến đến mức nào?

2. - Chỉnh và sửa ảnh bằng photoshop là giả tạo, không còn tính chất nghệ thuật.

Ðây là câu ta thường nghe từ phe binh vực ảnh phim. Nhưng từ xưa các nhiếp ảnh gia đều có điều chỉnh ít nhiều những hình mình chụp được, trước khi đưa ra cho người ngoài xem. Ðó là chưa kể việc cạo sửa phim và ảnh. Ði xa hơn, có người ghép hình từ nhiều phim vào một ảnh, hay áp dụng những kỹ thuật vô cùng cầu kỳ để biến đổi một ảnh chụp thông thường thành một tác phẩm độc đáo, tân kỳ. Ngày xưa khi phải phóng ảnh trong phòng tối, người làm phòng tối bị giới hạn rất nhiều do thời gian và ánh sáng hạn chế, họ chỉ có thể đưa giấy ảnh ra ánh sáng trắng trong vài giây, đến vài phút nếu dùng ánh sáng đỏ trong phòng tối, họ  không cần photoshop. Nói đúng hơn, lúc bấy giờ photoshop chưa được nghĩ tới. Thế mà họ tạo được tác phẩm mà ngày nay dù có photoshop, cũng không dễ thực hiện, thật đáng phục. Một số kỹ thuật mà ngày nay nhờ photoshop, việc thực hiện được dễ hơn. Nhưng phải chăng cần thật nhiều khó khăn để thực hiện một ảnh, thì ảnh đó mới được gọi là nghệ thuật?

Với lập luận trên ta có thể hiểu người này chưa biết nhiều về kỹ thuật digital.

Mời bạn xem hai ảnh dưới đây: “Bến Thuyền” của Nguyễn Bá Mậu và “Trong Sương Sớm” của Ðơn Hồng Oai. Nguyễn Bá Mậu áp dụng một kỹ thuật rất độc đáo, chụp hình bến vắng , đem chớp sáng (solarize) trong phòng tối, rồi tăng độ sang viền quanh vật thể bị ảnh hưởng của hóa chất khi gặp ánh sáng trắng đột ngột. Anh dùng âm bản ấy, kẹp với một âm bản khác chụp hình thuyền trống và thuyền có người để phóng ra giấy ảnh. Kỹ thuật này không có mấy người làm được, và Nguyễn Bá Mậu đã thực hiện từ đầu thập niên 1970. Trong khi đó Ðơn Hồng Oai chuyên môn phóng nhiều âm bản khác nhau xuống giấy ảnh để tạo một ảnh vững vàng. Ðể thực hiện ảnh Trong Sương Sớm, Oai phải sắp xếp để ghép lại từ ít nữa là ba (3) âm bản với độ tương phản khác nhau.

Tôi chỉ giới thiệu vài ảnh trong kho tàng ảnh nghệ thuật ViệtNam. Những ảnh này đã xuất hiện mấy mươi năm trước photoshop nên không thể nói nhờ photoshop mới ghép được hình, photoshop mới nghệ thuật. Dĩ nhiên cũng không thể nói hình ghép không phải là nghệ thuật. Hai ảnh này đã được dùng kỹ thuật để tăng giá trị nghệ thuật.

“Bến Thuyền”                                        Nguyễn Bá Mậu

“Trong Sương Sớm”            Ðơn Hồng Oai

 

 

 

 

 

Digital là nhất

1.- Làm ảnh với photoshop mới nghệ thuật.

Ðây là ý kiến của phe digital, rất cần được xét lại. Nói thế mặc nhiên phải loại bỏ tất cả tác phẩm nhiếp ảnh từ trước cho đến ngày có photoshop và cả sau này nếu không dùng photoshop để làm ảnh nghệ thuật. Trên thực tế photoshop có giúp người ảnh rất nhiều trong việc điều chỉnh một ảnh chụp được cho đẹp hơn, và trong nhiều trường hợp, nhờ ghép ảnh dễ dàng hơn xưa mà ảnh có nghệ thuật hơn nếu ảnh không được ghép. Nhưng trong thực tế người ghép ảnh lắm khi còn rất nhiều sơ hở, hoàn toàn vô lý và đối chọi nhau trong một ảnh, kể cả trong những ảnh dự thi quốc tế, như thế làm sao gọi là nghệ thuật được? Vả lại trước thời digital người làm ảnh đã ghép và chỉnh hình rất lâu trước khi có photoshop, như hai ảnh dẫn chứng bên trên.

Nên nhớ photoshop không phải là nghệ thuật. Nó chỉ là phương tiện. Nhiều người ỷ lại vào photoshop nên chụp ảnh cẩu thả, không còn nghệ thuật và photoshop không thể thay đổi được. Còn nói photoshop mới là nghệ thuật thì người nói chưa hiểu biết đủ về kỹ thuật làm ảnh với phim, giấy và hóa chất.

Có phải pixel nhiều là hình tốt?

Nhiều người mua máy ảnh digital, lựa máy nào có nhiều pixel để mua. Pixel tương tự như hột phim, pixel nhiều thì ảnh mịn, cũng như phim mịn hột. Hột phim hay pixel của digital không quyết định độ rõ nét của ảnh. Người ta tính ảnh với 12MB pixels thì tương đương với phim 35mm. Máy ảnh digital ngày nay đã vượt quá con số này. Với 16MB thì kể như hơn phim nhựa rồi.

Xem hai ảnh dưới đây, ảnh 1 tuy ít pixel hơn ảnh 2, nhưng hình rõ ràng hơn, chứng tỏ không phải nhiều pixel là ảnh rõ và đẹp hơn ảnh ít pixel.

 (ảnh trích từ internet)

Lợi điểm của máy ảnh dùng Film:

Chụp hình nhanh, chụp liền liền nhiều ảnh. Máy ảnh chụp nhanh nhất được chế tạo để chụp ảnh Thế Vận Hội Mùa Hè 1984 (Canon F1-n với bộ phận phụ lên phim thật nhanh) có thể chụp được 14 ảnh trong một giây, có thể chụp liên tục được gần 100 ảnh. Máy Nikon F5 giới hạn chụp ảnh liên tục là 36 ảnh vì đó là chiều dài của phim 35mm. Phẩm chất tốt (cũng còn tùy nhiều yếu tố khác) nhưng nhiều khi không cần tới. Tòa án dễ chấp nhận hình chụp bằng phim hơn digital. Dù máy có dùng pin, nhưng nếu không có pin, người chụp hình có thể sử dụng lối dùng tay để điều chỉnh máy mà chụp hình. Chỗ sáng của ảnh có thể còn ít nhiều chi tiết. Dùng ISO cao ảnh sẽ bị nổi hột phim (vỡ hạt) nhưng dễ chịu hơn image noise của ảnh digital. Vì phim mắc tiền và số ảnh hạn chế trong mỗi cuộn phim, nên người chụp ảnh cẩn thận hơn trong việc chụp hình, do đó ít hình xấu.

Lợi điểm của máy ảnh digital:

Nhỏ, nhẹ, gọn, rẻ tiền. Xem được hình ngay để chụp lại nếu cần, hoặc xóa bỏ hình để dành bộ nhớ chứa thêm hình khác. Chụp ảnh trong chỗ ít sáng dễ hơn chụp với phim nhựa. Có thể chụp một loạt rất nhiều hình nếu là loại máy ảnh chuyên nghiệp như Nikon D3, có thể chụp 11 ảnh trong một giây. Máy ảnh Canon EOS-1D Mark III có thể chụp một lúc 110 ảnh ở dạng JPEG với phẩm chất cao. Chụp hình tiếp sau khi máy ảnh chuyển vào SD card các ảnh nơi kho lưu trữ tạm. Một SD card chứa được rất nhiều ảnh tùy cách dùng (xem bản đối chiếu bên trên). Giá SD card càng ngày càng rẻ tùy thị trường và sự cạnh tranh. Digital giữ được nhiều chi tiết trong bóng tối hơn phim. Vừa chụp ảnh vừa quay video có âm thanh trong một máy ảnh.

Thất lợi của máy dùng phim:

Máy nặng, lớn, mắc tiền, cần nhiều kính lọc, người ảnh đem theo nhiều loại phim, và phim chịu ảnh hưởng thời tiết. Một cái bấm máy kể như mất một phần của cuộn phim trong máy dù hình có dùng được hay không. Nếu vì ISO cao mà ảnh bị nổi hột thì không có cách nào làm giảm được. Không chụp được một loạt nhiều hình hơn số hình hạn chế trong mỗi cuộn phim (36 ảnh cho phim 35mm và 12 ảnh 6x6 cho phim 120). Chụp hết một cuộn phim phải quay phim trở về cuộn, mở máy, thay phim, lắp phim, đóng máy, lên phim, chụp hình tiếp. Không tiện cho việc chụp ảnh phóng sự. Máy ảnh chỉ dùng để chụp ảnh. Muốn thu video phải mua máy thu hình video.

Thất lợi của máy digital:

Với máy ảnh digital thông dụng cho đại chúng và dùng lối auto, không chụp nhanh như máy phim vì thời gian máy đo ánh sáng, canh máy và sau khi chụp, chuyển ghi hình vào SD card chậm nếu dùng thể RAW và SD card thường. Máy không có pin thì không dùng được. Nếu phải ở lâu trong vùng không có điện để tiếp điện cho pin thì máy không sử dụng được. Vì vậy khi đi xa, rất cần đem pin phụ. Phần sáng nhiều của ảnh dễ mất hết chi tiết. Dùng ISO cao, ảnh có thể bị image noise biểu hiện bằng nhiều đốm màu sắc khác nhau. Ta có thể làm giảm noise ngay trong máy ảnh tùy máy, hoặc bằng phầm mềm (soft ware) của máy vi tính, nhưng việc này có thể cũng làm ảnh kém phẩm chất của ảnh ít nhiều. Vì một SD card có thể chứa rất nhiều hình nên người chụp ảnh ít cẩn thận khi chụp hình. Họ nghĩ cứ chụp thật nhiều để về nhà tuyển lựa lại. Nhưng hình nhiều quá, không có thì giờ và cũng không biết phải chọn hình nào.

Thất lợi của ảnh và phim:

Ảnh sẽ bị phai màu do ánh sáng hoặc không được lưu giữ cẩn thận. Phim cũng bị hư theo thời gian và có thể bị hư hoại hoàn toàn, không cách gì cứu được. Phải mua thêm phim mãi. Phim càng ngày càng khó tìm, giá phim sẽ tăng tùy thị trường. Phải đưa đến tiệm in ảnh vì rất ít người biết in ảnh ở nhà, và dù biết làm, không phải ai cũng có phòng tối, có máy phóng và hóa chất để làm hình.

 

Thất lợi của hình digital:

Ảnh in ở nhà rất tiện nhưng nếu không có máy in và nhất là mực và giấy ảnh tốt, ảnh có thể bị hư hoàn toàn rất mau. Máy ảnh tuy rẻ tiền nhưng mực in không rẻ và mực màu bị hết không đều nhau.

Dù “phim và ảnh digital” được lưu trữ trong máy vi tính không bị phai màu, nhưng nếu máy bị hỏng nặng, bị xóa vì rủi ro, có thể tất cả ảnh lưu trữ bị mất hết trong nháy mắt.

Lợi điểm của hình digital:

Ảnh gốc được lưu trữ trong máy vi tính không bị phai màu. Để tránh trường hợp máy bị hư, mất, ta có thể sang nhiều bản, lưu trữ ở các nơi khác nhau, phòng trường hợp mất bản gốc. Có thể gửi ảnh đi ngay sau khi chụp, trong trường hợp chụp hình phóng sự. Có thể nhờ các nơi làm ảnh in ảnh, hoặc mua máy in ảnh để in ảnh tại nhà. Máy in rẻ nhưng mực in không rẻ.

Sự suy thoái của kỷ nghệ phim nhựa

Từ lúc có máy ảnh digital, sự sa sút của loại phim nhựa được thấy rõ. Kodak là công ty sản xuất rất nhiều loại máy ảnh dùng phim cho đại chúng sử dụng, đã ngưng sản xuất các máy này từ năm 2004. Về sau Kodak cũng ngưng sản xuất giấy làm loại hình thật lớn từ phim nhựa. Những quầy hàng, những tiệm tạp hóa khắp nơi có bày bán các loại phim Kodak,Fuji, Agfa, Ilford, Ansco v.v. . . ngày trước, nay không còn nữa. Sự tiến bộ của kỹ thuật điện tử quá nhanh làm Kodak tuyên bố ngưng sản xuất máy ảnh dùng phim, trước khi Kodak được trao giải thưởng “camera of the year” cho máy ảnh dùng phim. Từ năm 2002, loại máy ảnh digital rất phổ thông trên các quốc gia tân tiến, nhưng các xứ chậm tiến vẫn còn dùng máy ảnh phim. Ví dụ như Guatemala, thuế đánh trên tất cả các sản phẩm digital rất cao, người dân không mua nổi máy ảnh digital, nên vẫn dùng máy chụp hình với phim. Về kinh tế nói chung, nhiều tiệm chụp hình đóng cửa, cả thợ chụp ảnh, chuyên viên phòng tối và chuyên viên sửa ảnh phải thất nghiệp.

Công dụng của ảnh

Ảnh trước tiên được các nhà phát minh dùng để toàn thiện sự sáng chế của họ. Khi được phổ biến cho đại chúng, ảnh được dùng như là tài liệu qua việc chụp hình người thân trong gia đình, sau đó, ghi nhận những biến đổi của xã hội. Ðến thời đại internet ngày nay, ảnh được dùng như phương tiện thông tin của mọi người qua facebook, group mail, Twitter, Flickr, Picassa v.v… Việc thông tin công cộng, hay liên lạc xã hội ngày càng phát triển rộng, giúp nhiếp ảnh lan ra rất nhanh trong thời đại digital này.

Tronbg khía cạnh khác, người làm nghệ thuật dùng bất cứ phương tiện thích nghi nào để làm đẹp cho đời và nói lên sự suy tư của mình, nên nhiếp ảnh cũng được dùng cho nghệ thuật.

Trở lại câu hỏi đầu tiên, liệu digital có tiêu diệt phim? Câu trả lời của tôi ở trên đã bị lung lay. Ngày xưa khi người ta bắt đầu dùng nhiếp ảnh để chụp hình phong cảnh và chân dung rất đẹp, nhiều người lo sợ ngành hội họa chân dung và phong cảnh sẽ không còn người theo, nhưng chúng vẫn còn đến ngày nay và sẽ còn mãi mãi, vì đó là phương tiện nghệ thuật mà lúc nào cũng có người muốn vào. Ảnh phim (có thể) cũng vậy, vì nó là ngành nghệ thuật mà luôn luôn có người muốn khắc phục. Nói đến khắc phục, ta thử xem ngày nay với phương tiện di chuyển hiện đại, dù có tàu thủy, xe lửa tốc hành, máy bay thật nhanh, nhưng vẫn có người muốn khắc phục đại dương bằng thuyền buồm, vẫn có người dùng xe ngựa để di chuyển mà không dùng xe hơi. Tuy nhiên số người này rất ít và phương tiện còn có thể tìm được. Với nhiếp ảnh, nếu phim nhựa và giấy ảnh dùng hóa chất không được sản xuất nữa, thì người chụp ảnh bằng phim đành bó tay.

Trong vị trí người tiêu thụ phổ thông, với vài so sánh bên trên, hẳn bạn đã có câu trả lời cho chính mình trong việc lựa chọn phương tiện phim hay digital để chụp hình. Dù bằng cách nào, tôi cũng xin chúc bạn thành công trọn vẹn.

Lê Văn Khoa

Add comment


Security code
Refresh


Related articles:
Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Friday, 25 November 2011 19:53 )  

Show Other Articles Of This Author

Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account