CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Tạp Ghi KÝ SỰ DU LỊCH ALASKA (tiếp theo và hết)

KÝ SỰ DU LỊCH ALASKA (tiếp theo và hết)

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Khi đến thành phố Skagway, tài xế liền cho xe đậu tại ngã tư đường số 7 Ave và đường Broadway.

Vì từ đây đến du thuyền không xa nên chúng tôi rủ nhau đi bộ để xem phố phường tỉnh Skagway như thế nào. Trước khi từ biệt anh tài xế đẹp trai, hào hoa phong nhã cũng như ăn nói thật dịu dàng, gia đình chúng tôi đã tặng cho anh ta một số tiền tip thật hậu hĩnh. Vì xe buýt dừng lại tại địa điểm gần bên Viện Bảo Tàng của thành phố nên chúng tôi rủ nhau vào xem. Vừa bước vào trong, chúng tôi thấy rất nhiều bức hình lịch sử của thành phố treo đầy cả trên tường. Nhiều bức tượng được các nhà điêu khắc sáng tác thật tinh xảo và đầy ý nghĩa về lịch sử chiến tranh hay là nguồn gốc hình thành của thành phố nầy.

alt

Viện Bảo Tàng thành phố Skagway

alt

alt

alt 

Trên đây là những bức hình trong Viện Bảo Tàng của thành phố Skagway.

Sau khi thưởng lãm tranh ảnh trong Viện Bảo Tàng, chúng tôi liền rủ nhau ra về. Nhưng các cháu nhỏ trong gia đình tôi vẫn còn say sưa ngắm nhìn mấy cổ vật thời xưa. Vì thế tôi và bà ngoại các cháu đành phải ngồi đợi chờ chúng ra để cùng đi một lúc.

Sau khi gia đình có mặt đầy đủ, chúng tồi bắt đầu thả bộ về hướng du thuyền đang thả neo tại bến cảng Skagway. Vừa đi chúng tôi vừa nhìn phong cảnh đô thị Skagway vừa chụp một vài hình ảnh làm kỷ niệm cho ngày đến thăm thành phố này. Mặc dầu là phố xá ở xứ lạnh lẽo và mưa rơi triền miên, nhưng hôm nay phố xá rất sầm uất, xe cộ qua lại tấp nập như các đô thị ở các tiểu bang khác có lẽ nhờ trời quang mây tạnh chăng. Nhớ lại sáng nay lúc tài xế lái xe lên vùng Yukon, khi đi trên một đoạn đường trên triền núi để chuẩn bị vào Canada, hình như trời mưa lâm râm và sương mù che mờ cả lối đi khiến tài xế phải bật đèn lên mới thấy rõ. So với phố xá chiều nay, đô thị Skagway đúng là một buổi chiều lý tưởng cho khách du lịch đến xứ này để thưởng ngoạn những danh lam thắng cảnh, và những di tích lịch sử đã một thời vang bóng.

Lúc ánh nắng chiều sắp buông xuống sau rặng núi ở phía non đoài, chúng tôi liền thấy chiếc du thuyền Norwegian Pearl hiện ra trước mắt.Sau khi làm thủ tục lên tàu như mấy lần trước, chúng tôi liền tắm rửa rồi lên phòng ăn để dùng cơm tối vì ai nấy đều đói bụng cả rồi.

Sáng ngày 18 tháng 06 năm 2015, như đã được thông báo, tất cả du khách đều ở trên du thuyền để chờ xem tảng băng vĩ đại của xứ Alaska. Vì vậy sau khi điểm tâm xong và trong lúc chờ đợi du thuyền chạy đến vịnh băng hà (Glacier Bay), chúng tôi đi khắp các tầng trong du thuyền để xem những nơi giải trí khác mà chúng tôi chưa được thấy, vì chỉ đọc được trên tờ Freestyle Daily mà thôi. Chẳng hạn như thư viện, phòng hội họa, phòng chơi game, v v…

alt

Thư viện

alt

 

 

Phòng chơi games

 

 

alt

 

Phòng casino trên du thuyền

Đi mấy vòng trên du thuyền mà du thuyền vẫn chưa đến được vịnh có các tảng băng (Glacier Bay) để xem, chúng tôi đành phải đến phòng ăn ở tầng 12 như thường lệ để dùng cơm trưa. Cũng như mọi ngày, mỗi lần bước vào phòng ăn là có nhân viên của du thuyền đứng cầm bình xịt sẵn trên tay xịt alcohole vào đôi tay của thực khách để khử trùng. Trưa qua vừa bước vào phòng ăn đã thấy anh chàng guitarist đứng trước cửa vừa đàn vừa hát đón chào thực khách. Nhưng hôm nay anh chàng guitarist này đã biến đâu mất, nhường chỗ cho một tay trống đón chào thực khách vào dùng cơm trưa. Dù chơi đàn hay đánh trống cũng làm tăng thêm niềm vui cho du khách trong những ngày lênh đênh trên du thuyền giữa biển cả bao la bát ngát.

Khi đến quầy để lấy thức ăn, bỗng có một nhân viên hoả đầu vụ đứng gần bên tôi chào hỏi rồi nhoẻn miệng cười. Thấy vậy tôi liền cười đáp lễ ngay rồi xin phép anh ta chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm

Cũng giống như những lần dùng cơm khác, chúng tôi thường thay nhau đi lấy thức ăn vì phải có người ngồi sẵn ở bàn ăn để giữ chỗ, nếu không người khác đến tưởng bàn còn trống họ sẽ ngồi vào bàn mình. Thông thường, gia đình nào ngồi chung gia đình đó để tiện việc lấy thức ăn cho nhau cũng như sum họp cùng nhau ăn uống để chuyện trò đùa vui bên nhau, cho dù có các cháu nhỏ trong gia đình. Nhưng trên du thuyền nầy, vẫn có phòng ăn riêng cho các cháu nhỏ để các cháu nhỏ muốn ăn riêng cứ đến đó mà ăn. Nhiều cháu nhỏ chỉ thích đến đây ăn một mình, lại có các cháu khác muốn cha mẹ đi cùng rồi dùng cơm tại đây luôn. Trên tường của phòng này, người ta trang trí những hình ảnh chim chóc đậu trên các cành cây, pha lẫn với những màu sắc xanh đỏ tím vàng rất sáng sủa và vui mắt.

                      alt

Phòng ăn dành cho các cháu nhỏ.

 

Khi chúng tôi vừa dùng cơm xong thì du thuyền cũng vừa đến vịnh có các tảng băng nổi. Vì đã chờ đợi từ lâu nên vừa thấy tảng băng vĩ đại xuất hiện trước mặt, du khách liền đổ xô lên tầng cao nhất của du thuyền để thưởng ngoạn. Để tất cả các du khách ở bất cứ tầng lầu nào của du thuyền, dù bên trái hay bên phải, dù đứng đầu hay cuối du thuyền đều có thể nhìn được các tảng băng này, ông thuyền trưởng liền điều khiển du thuyền quay từ từ, chầm chậm 180 độ. Đứng trên du thuyền, chúng tôi thấy đâu cũng màu trắng cả. Trên nặt biển, sóng xô đuổi nhau chạy vào bờ trắng xoá hoà lẫn với mấy tảng băng cũng trắng xoá đang nổi trôi. Các dãy núi trước mặt do tuyết phủ tạo thành những khối băng tuyết cũng trắng xoá dài dằng dặc, như vẫn nằm bất động nhìn trời cao quanh năm suốt tháng. Mây trên trời không hiểu sao giờ đây cũng trong trắng màu tuyết phủ và đang bay bay về nơi vô định. Bất giác, tôi cất tiếng hát bài “Tuyết Trắng” của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh giữa lúc gió chiều đang nhè nhẹ thổi vào du thuyền, làm cho tâm hồn du khách tràn đầy niềm vui và hạnh phúc bên nhau.

Anh biết chiều nay em anh buồn lắm          
Đã hẹn nhưng chẳng thấy bóng anh sang
Khi nắng cổng trường soi bước em
Khi chiều kéo lại bao nhiêu nhớ thương
Khi đường bay chờ anh tung cánh sắt.

Đây áo bay màu xanh xanh như tình ái
Thắt lại khăn ấm chính em đan
Khi gió quay cuồng sau cánh bay
Con tàu thét gầm cho tim ngất ngây
Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên.

Ngả nghiêng cánh chim
con tàu sẽ rời, rời xa thành phố rồi
mây giăng thật thấp
mây đan lụa trắng
mây pha màu nắng.

Vượt cao vút cao
mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần
tuyết ơi xin nhuộm
trắng trong tâm hồn em gái nhỏ tôi thương.

Khi nắng chiều đi không gian chợt tối
Xóa nhòa vùng tuyết trắng mông mênh
Anh ước sao tình mình như tuyết trinh
Cho dù chúng mình không gian cách chia
Cho dù tuyết trắng đã chìm trong màn đêm

 alt

alt

alt

Hình trích từ Wikipedia

Nhiều du khách thuê máy bay để bay ngay phía trên các tảng băng tận trong dãy băng hà, đi sâu vào triền núi để nhìn cho thoả thích một chuyến du lịch trên xứ Bắc cực này. Ai nghe vậy cũng thích cả. Tuy nhiên, nghe đâu tiền thuê loại máy bay nầy cũng đắt lắm! Nhưng rồi một chuyện buồn đã xảy ra khi chúng tôi từ Alaska trở lại nhà mấy ngày sau nghe tin rằng, một máy bay bay trên dãy băng hà bị lâm nạn làm tất cả 9 du khách đều thiệt mạng vì máy bay đụng núi rồi rơi xuống đất!

Thế là hằng trăm du khách thay phiên nhau chụp hình làm kỷ niệm cho ngày đến thăm vịnh có những tảng băng vĩ đại, đã nằm trơ gan cùng tuế nguyệt hằng trăm năm ở xứ cực Bắc của quả địa cầu.

Được biết The Glacier Bay hình thành từ lâu cách đây cũng hàng trăm năm.  Đây là vùng hoang dã ở phía Đông Nam Alaska.

Bao phủ đến 3.3 triệu mẫu Anh bởi những núi đá lởm chởm, những băng tuyết giá lạnh, với những rừng mưa dìu dịu, và những eo biển sâu thẳm, Công Viên Quốc Gia Vịnh Băng Hà là vùng nổi bật nhất tại xứ Alaska. Tại đây có 25 mẫu Anh là di sản của thế giới nằm trong những vùng rộng nhất của quốc tế được bảo vệ. Từ trên đỉnh đến mặt biển, Vịnh Băng Hà là vùng thiên nhiên con người có thể phiêu lưu mạo hiểm vô giới hạn tại nơi nầy.

Từ đáy của những eo biển sâu nhất đến đỉnh núi cao nhất, Vịnh Băng Hà bao quanh một vài vùng rừng núi hoang dã đầy kỳ bí nhất của lục địa. Đây đúng là một vùng đất thiên nhiên tái tạo, một thế giới đã được hồi sinh. Nếu ai ước mơ một địa danh hấp dẫn và gây nhiều cảm hứng thì đây đúng là nơi con người cần đến. Vịnh Băng Hà là quê nhà của chúng ta, một phòng thí nghiệm tuyệt vời, một công viên quốc gia, một vùng hoang dã đúng nghĩa, và là di sản của thế giới có một không hai. Đây là một công viên dưới biển nơi các nhà thích phiêu lưu mạo hiểm muốn vào đây để thưởng ngoạn. Và cũng là công viên trên đất liền với những dãy núi tuyết phủ trắng xoá, với những tảng băng nằm bất động rất ngoạn mục cùng với rừng cây xanh mát đẹp tuyệt trần.

Tuỳ theo thời tiết của Bắc cực, lúc trời quang mây tạnh, mưa thuận gió hoà, lúc bão tố phong ba hay lúc nắng ấm dịu hiền mà thú vật xuất hiện hay ẩn núp .

alt

 

Các con Hải mã xuất hiện lúc nắng ấm về giữa vùng Bắc cực

alt

 

Thú vật xuất hiện lúc nắng ấm về giữa vùng Bắc cực

Trước cảnh băng hà đang nằm xa xa trong tầm mắt, du khách say sưa nhìn mãi vẫn ưa nhìn cho đến lúc trời chiều nhạt nắng. Sau khi thưởng thức dãy băng hà của xứ Alaska muôn đời lạnh lẽo, chúng tôi liền rủ nhau đi ăn cơm chiều rồi đến hội trường đêm trước để xem văn nghệ như chương trình đã ghi sẵn trong tờ Freestyle Daily.

Sáng ngày 19 tháng 06 năm 2015, chúng tôi dậy sớm dùng điểm tâm để chuẩn bị đi thăm thành phố Ketchikan.

 

alt

Cảnh nhìn bao quát thị trấn Ketchikan từ trên cao

 

 alt

Thị trấn Ketchikan

Được biết thị trấn Ketchikan được đặt tên giống tên con lạch nước Ketchikan, chảy băng qua thành phố. Ketchikan do danh xưng Tlingit về con lạch nước, Kitschkhin, ý nghĩa này không rõ ràng cho lắm, mà có tên như vậy. Cũng có nghĩa là “ Con sông thuộc về Kitschk”; lại có ý nghĩa khác là “Những Cánh Chim Đại Bàng SấmSét”. Cho đến bây giờ, danh xưng nầy được dịch là Kichxáan. Ketchikan Creek là nơi cư dân lập nên trại chuyên về ngư nghiệp trong mùa hè trước khi ông Mike Martin thiết lập thành phố vào năm 1885. Gần cửa khẩu của lạch nước Ketchikan trong đầu bán thế kỷ thứ 20 đã mang tiếng xấu về “Khu đèn đỏ” (a red light district) được biết như là con đường mang tên “Creek Street” với những nhà thổ nằm hai bên lạch nước này.

alt
Ketchikan's famous Creek Street

(Hình trích từ Wikipedia)

Nền kinh tế của Ketchikan nhờ vào sự điều hành của guồng máy tỉnh, vào kỹ nghệ du lịch và ngư nghiệp. Những nhà quảng cáo dân sự và các mạnh thường quân đặt cho cộng đồng nơi đây một danh xưng là “Thủ đô Cá Hồi của Thế Giới” (The Salmon Capital of the World). Năm 1883, một người đàn ông tên là Snow đến Ketchikan lập một tổ hợp ướp muối cá hồi. Hai năm sau, các thương gia từ Portland và Oregon thuê ông Mike Martin đến khảo sát tình hình để xây dựng một xưởng đóng hộp cá hồi trên bờ của lạch nước Ketchikan. Đầu năm 1900, ông Mike Martin và ông quản lý xưởng đóng hộp cá hồi là George Clark bắt tay nhau hợp tác để thành lập một xưởng ướp muối cá hồi rồi xây dựng một xưởng tổng quát lớn hơn. Thế rồi hai năm sau, Ketchikan trở thành trung tâm ngư nghiệp phồn thịnh, các nhà buôn bán cá hồi vào ra tấp nập. Hằng ngày, tàu bè hay du thuyền ra vào tấp nập và nhộn nhịp tại hải cảng Ketchikan. Nhất là từ tháng 5 đến tháng 9, có ngày có đến 6 chiếc du thuyền vào hải cảng cùng một lúc.The Misty Fiords National Monument và The Tongass National Forest cũng là những danh lam thắng cảnh hấp dẫn du khách thường xuyên đến du lịch nơi đây mỗi độ hè về.

Ketchikan là nơi tích lũy những cột Totem đứng rộng nhất thế giới. Những cột nầy được tìm thấy trong thành phố tại bốn địa điểm quan trọng:

-Saxman Totem Park

-Totem Bight State Park

-Potlatch Park

-Totem heritage Center

Hầu hết, những Totem tại địa điểm Saxman Totem Park và Totem Bight State Park đang được khắc hình lại vào những cột cũ hơn, được thực hiện trong thời Tổng Thống Roosevet đang tại chức. The Totem Heritage Center trưng bày những cột của thế kỷ thứ 19, được phục hồi từ những địa điểm bị bỏ rơi trong làng gần Ketchikan. Nhìn những nét chạm trổ điêu khắc trên các cột thờ Totem tại các địa điểm Saxman Totem Park, Totem Bight State Park, Potlatch Park, Totem heritage Center, du khách có cảm tưởng như đang lạc vào những bộ tộc thời xa xửa xa xưa lúc con người còn mang khố. Những biểu tượng về văn hoá của các sắc tộc ở xứ Ketchikan này đã làm cho các nhà khảo cổ rất thích thú, khi họ đang đi sưu tầm nguồn gốc của các bộ tộc ở xứ lạnh quanh năm suốt tháng và mưa rơi triền miên suốt tháng quanh năm này. Ai cũng biết rằng Ketchikan là vùng đất mưa triền miên và lắm lúc nắng mưa bất thường. Vì thế người ta đã lập một máy đo hình dáng kiểu như nhiệt kế, nhưng to và lớn hơn nhiều để đo độ mưa hằng năm. Máy đo nầy được thiết lập cạnh Trung Tâm Tin Tức trong xưởng sửa chữa tàu để dân chúng bản xứ cũng như du khách vào xem để biết tình trạng mưa hằng năm ra sao.

alt

Nắng lỏng kế (Liquid Sunshine Gauge).

Cũng như những lần trước, chúng tôi phải làm thủ tục xuống tàu lúc đi và thủ tục lên tàu lúc về mỗi lần đi xem phố xá của các thành phố du khách muốn đến. Thủ tục rất giản dị: các du khách trao thẻ căn cước và chìa khoá phòng cho nhân viên kiểm soát để người ta ghi vào sổ là xong. Dĩ nhiên tất cả hành lý mang theo và cá nhân du khách phải đi ngang qua máy kiểm soát như tại phi trường. Sau khi làm thủ tục, cũng như tại các thành phố khác, du khách muốn đi đâu tuỳ thích. Hầu hết ai cũng muốn đi xem những danh lam thắng cảnh của tỉnh mình đến, nên mọi người đón xe buýt để đi. Cuối cùng xe buýt nào cũng đến các địa điểm danh lam thắng cảnh đó cả.

Sau khi xuống tàu, chúng tôi kéo nhau vào thành phố Ketchikan để xem. Phố xá cũng vui mắt, nhiều cửa hàng bày bán những đồ vật kỳ lạ, những con vật làm bằng bông được trang trí tại các góc phòng hay cửa ra vào thật ngoạn mục và vui mắt. Chúng tôi rủ nhau chụp hình làm kỷ niệm.

 

 

 

 

 

Du khách chụp hình làm kỷ niệm

Sau khi dạo phố Ketchikan một vòng cho biết, chúng tôi liền thuê xe buýt đến Trung Tâm Totem Bight State Historical Park nổi tiếng của xứ Ketchikan này.

Được biết Totem Bight State Historical Park là một công viên rộng 33 mẫu Anh trong tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ. Công viên này tọa lạc ở phía Bắc thị trấn Ketchikan. Đây là trung tâm tập trung những cột thờ Totem và được khắc lại theo mẩu chính của ngôi nhà cổ truyền của tù trưởng. Lối cấu trúc bằng khung gỗ tạo thành một lối vào hình bầu dục ở dưới thấp dẫn đến một phòng hình vuông với một cái hố lửa ở giữa, được trang hoàng bằng những cột nhà đã được điêu khắc, chạm trổ tinh vi. Một con quạ có vẻ kiểu cách được trưng bày trước mặt tiền. Ông Charles Brown, một người dân bản xứ của vùng Saxman là tác giả của những nét điêu khắc trên ngôi nhà. Việc quản lý rừng núi Hoa kỳ đã xử dụng ngân quỹ của Đoàn Thể Bảo Vệ Dân Sự để thuê các nhà điêu khắc tài ba của dân bản xứ Alaska, ngõ hầu sửa chữa và khắc lại những cột thờ Totem bị bỏ rơi lúc dân bản xứ gia nhập vào cộng đồng vì công ăn việc làm. Đoàn Thể Bảo Vệ Dân Sự đã xây dựng ngôi nhà của cộng đồng và cũng đã dựng nên 15 cột thờ Totem, hầu hết đều phỏng theo các cột thờ Totem của thế kỷ 19. Totem là một ý niệm về tinh thần, một vật linh thiêng và là một biểu tượng hàm ý tượng trưng của một nhóm người như gia đình, đoàn thể, chủng tộc, bộ lạc. Biểu tượng Totem là hình thức nhắc để nhớ lại tổ tiên của một nhóm người có họ hàng bà con thân thuộc. Hay nhắc lại về huyền thoại quá khứ của một bộ lạc, một chủng tộc. Từ Totem bắt nguồn từ chữ “ojibwe”, niềm tin vào tinh thần, vào các vị thần linh không bị giới hạn đối với các dân tộc bản xứ của châu Mỹ, nhưng thông thường đối với một vài nền văn hoá khắp thế giới. Niềm tin vào Totem được tìm thấy trong các vùng của Phi Châu, Ả Rập, Á Châu, Úc Châu, Âu Châu và Bắc Cực.

Trung tâm nầy có rất nhiều bức tượng được khắc trên các cột bằng gỗ gọi là cột thờ Totem, sơn đủ loại màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng, nâu, đen, được thiết lập trong tư thế ngồi, nằm, hay đứng sừng sững dưới trời trong khu rừng thưa hoang vắng. Đây đúng là biểu tượng thuần tuý của Totem Bight. Vì đây cũng là những hình ảnh kỳ lạ có một không hai này nên du khách đua nhau chụp hình làm kỷ niệm.

alt

alt

alt

alt

 

 

Ngoài những cột thờ Totem khắc những hình thù đặc biệt, nhiều bảng với những nội dung giải thích về nguồn gốc của Totem, về nền văn hoá cổ truyền của tôn giáo hay những bài thơ nổi tiếng viết để ca ngợi núi rừng hoang dã v v…, cũng được dựng lên để du khách đến thưởng ngoạn đọc cho biết. Chẳng hạn như bài thơ dưới đây mang tựa đề “The Spoken Forest” của Thi Sĩ Ernestine Hayes:

alt

 

The Spoken Forest

by Ernestine Hayes

I was thinking about the forest one day
and it came to me—
our stories,
our songs,
our names,
our history,
our memories
are not lost.

All these riches are being kept for us
by our aunties, our uncles,
our grandparents, our relatives—
those namesakes who walk and dance
wearing robes that make them seem like bears
and wolves

Our loved ones.
Those beings who live in the spoken forest.
They are holding everything for us.

 by Ernestine Hayes

 

Tạm dịch:

Cánh rừng tuyệt diệu

 

Có một ngày

Tôi nghĩ về cánh rừng ấy

Ngờ đâu

Tôi đã vào được nơi đây:

Bao nhiêu chuyện tình

Bấy nhiêu bản nhạc

Cùng những danh xưng

Và lịch sử

Không ngờ vẫn còn đây.

Nền văn hoá cổ truyền đã được bảo tồn

Nhờ những thân bằng quyến thuộc:

Ông bà, cha mẹ

Cậu, mợ, cô, dì.

Chính họ đã từng khoác bộ lễ phục

Rồi cùng nhau đi bộ

Và nhảy nhót

Như những chú gấu và mấy con chó sói trong rừng.

 

Những vị ân nhân của chúng ta

Sống giữa cánh rừng già

Đang bảo vệ nền văn hoá cổ truyền

Cho chúng ta

Ernestine Hayes

 Sau khi đi vòng vo quanh quẩn trong công viên nầy để thưởng ngoạn những tác phẩm điêu khắc tức là những cột thờ Totem về nền văn hoá Totem Bight này, chúng tôi liền lên xe buýt để trở về lại du thuyền sau một ngày “phiêu bạt giang hồ” trong tỉnh Ketchikan này.

Theo chương trình du lịch đã “order” sẵn lúc bắt đầu mua vé đi Alaska, ngày thứ bảy, 20 tháng 06 năm 2015, chúng tôi dành trọn ngày để đến Victoria BC ở bên Canada xem phố Tàu cổ kính và vườn hoa The Butchart Gardens nổi tiếng khắp thế giới, với diện tích rộng đến 55 mẫu Anh (acre) và hằng trăm hàng ngàn loại kỳ hoa dị thảo khoe sắc thắm tươi.

Sáng ngày 20 tháng 06 năm 2015, sau khi điểm tâm xong, chúng tôi đến trạm kiểm soát trên boong tàu làm thủ tục lên bờ như thường lệ. Vừa bước xuống tàu, chúng tôi thấy một toán thanh niên nam nữ đứng sẵn trên bến cảng vừa ca hát vừa vỗ tay để chào mừng du khách, làm cho lòng du khách cảm thấy tràn đầy hạnh phúc khi vừa bước chân qua Canada.

alt

Toán thanh thiếu niên ca hát và vỗ tay chào mừng du khách

 

Chúng tôi liền tiến vào văn phòng làm thủ tục rồi ra bến xe taxi để thuê xe đến thị tứ Vitoria xem vườn hoa The Butchart Gardens. Khi ghé vào văn phòng làm thủ tục xuất cảnh, thấy bản đồ hướng dẫn du khách đến vườn hoa The Butchart Gardens nằm trên kệ, tôi liền lấy một bản để xem lộ trình đến đó cho khỏi lạc đường. Nhân thấy một tấm bảng ghi giá trị tiền tệ giữa đồng tiền Canada với đồng tiền các nước khác, tôi tạt qua xem cho biết luôn.

alt

alt

alt

Vì mỗi anh tài xế nói một giá tiền khác nhau nên du khách phải tìm anh tài nào cho giá tương đối rẻ hơn. Cuối cùng gia đình chúng tôi chọn được một bác tài xế lớn tuổi, rất lịch thiệp. Bác tài này lại lái một chiếc xe loại cũ kỹ nhưng vẫn rất tốt, đủ 10 chỗ ngồi. Thế là chúng tôi tất cả lên xe ngay và bác tài cho xe trực chỉ đến vườn hoa The Butchart Gardens. Trên đường đến vườn hoa The Butchart Gardens, bác tài xế cho xe chạy vào thị tứ Victoria, và khu phố Tàu để chúng tôi quan sát theo lịch trình của du thuyền.

Được biết Victoria là thủ phủ của British Columbia của Canada, tọa lạc trên đỉnh phía nam của đảo Vancouver, tận ngoài khơi bờ biển Thái Bình Dương của Canada. Dân số khoảng chừng 80,017 người, trong lúc vùng đô thị của Greater Victoria dân số lên đến 344,615 người, khiến cho vùng đô thị của Canada là một trong những vùng đông dân nhất được xếp vào hàng thứ mười lăm. Victoria cách thành phố rộng nhất của British Columbia trong lục địa đến 62 dặm. Phải mất 60 dặm đường để đi từ Seattle đến Victoria bằng máy bay hay bằng tàu thuỷ. Được đặt tên giống tên Nữ Hoàng Victoria của xứ Liên Hiệp Anh, Victoria là một trong những thành phố cổ nhất ở Tây Bắc Thái Bình Dương, nơi người Anh đến định cư bắt đầu từ năm 1843. Thành phố có một số dinh thự mang tính lịch sử, đặc biệt là hai lâu đài nổi tiếng nhất mang những tên Legislative Building và The Empress Hotel. Phố Tàu của thành phố này là phố cổ nhất sau San Francisco. Cũng giống như những cộng đồng lục địa Vancouver, Victoria tiếp tục chấp thuận dân từ các quốc gia đầu tiên đến đây định cư, bao gồm dân từ lục địa Vancouver hay xa hơn nữa. Được biết như là thành phố của vườn tược, Victoria là một đô thị đầy quyến rủ và là nơi du lịch nổi tiếng với một nền kỹ thuật tân tiến, đang trên đà phát triển một nền kỷ nghệ tư nhân sinh nhiều lợi tức nhất. Theo Numbeo, Victoria là một trong 20 thành phố có cuộc sống tuyệt vời nhất trên thế giới. Rất đông sinh viên từ các nước trên thế giới đến thành phố nầy để theo học tại các đại học The University of Victoria, Camosun college, Royal Roads University, the Victoria College of Art, the Sooke Schools International Programme an the Canadian College of Performing Arts. Victoria cũng là nơi rất nổi tiếng với những nhân vật lướt ván điêu luyện và du ngoạn bằng thuyền trên những bờ biển tuyệt đẹp. Đô thị Victoria cũng là nơi nổi tiếng cho những người đã về hưu để họ đến đây hưởng thụ một cuộc sống thoải mái và yên lành trong buổi chợ chiều của cuộc đời.

alt

 

Danh lam thắng cảnh ở Victoria

Được biết khu phố nầy là một khu phố thứ hai cổ kính nhất ở Bắc Mỹ sau San Francisco. Cứ mỗi lần đến gần những lâu đài hay địa danh nào quan trọng của phố Tàu này, bác tài xế liền lái xe chạy chậm lại cho chúng tôi dễ quan sát.

alt

alt

alt

Sau khi xem một số lâu đài cổ kính ở phố Tàu xong, bác tài xế chở chúng tôi đến thẳng vuờn hoa The Butchart Gardens luôn.

Trước khi xuống tàu để qua Canada xem vườn hoa The Butchart Gardens, Ban Tham Mưu của du thuyền đã phát sẵn cho du khách một số tài liệu liên quan đến tiểu sử, lịch trình thăm viếng, các loài hoa, bản đồ để đi xem trong vườn hoa The Butchart Gardens v v…Vì thế chúng tôi đã phải xem trước để có một ý niệm tổng quát về vườn hoa nổi tiếng nầy, và để khỏi bỡ ngỡ khi lạc vào “động hoa vàng”.

alt

alt

Được biết, The Butchart Gardens là một hệ thống vườn tược trưng bày các loài hoa tại Brentwood Bay trong tỉnh British Columbia của Canada, toạ lạc gần Victoria trên bán đảo Vancouver Island. Hằng năm, khoảng một triệu du khách đến thưởng ngoạn những khu vườn nầy. Vì quá nổi tiếng trên toàn thế giới nên các khu vườn nầy được xem như là Trung Tâm Lịch Sử Quốc Gia của Canada. Ông Robert Pim Butchart (1856-1943) đã bắt đầu chế tạo xi-măng Portland vào năm 1888 gần nơi ra đời của ông ta, Owen Sound thuộc Ontario ở Canada. Ông và bà vợ Jennie Butchart (1866-1950) đã đến bờ biển phía Tây của Canada vì nơi đây có rất nhiều đá vôi cần cho việc sản xuất xi-măng. Năm 1907, một nhà vẽ kiểu 65 tuổi tên là Isaburo Kishida của xứ Yokohama đã đến Victoria, theo lời yêu cầu của người con trai của ông, để kiến tạo một khu vườn trà cho công viên Esquimalt Gorge. Khu vườn này toạ lạc tại một mảnh đất dễ thấy và rất phổ biến trước quần chúng. Một vài công dân nổi tiếng đã ủy nhiệm những vườn hoa Nhật Bản từ Kishida cho những đồn điền của họ. Ông ta trở lại Nhật Bản năm 1912. Năm 1909, khi các hầm làm bằng vôi bị hư hại, Jennie liền quay sang thực hiện The Sunken Garden và đã hoàn thành năm 1921. Họ đặt tên cho ngôi nhà này là “Benvenuto” (tiếng Ý, có nghĩa là “đón chào”) và bắt đầu tiếp nhận khách vào thăm. Năm 1926, họ thay sân đánh tennis thành vườn hoa Ý Đại Lợi. Năm 1929, họ lại thay vườn rau thành vườn trồng hoa hồng, hình tượng theo lối phác họa Butler Styrtevant của Seattle. Samuel Maclure, người đã tham vấn về vườn The Butchart Gardens, đã phản ảnh được cái mỹ học của phong trào công nghệ và nghệ thuật của người Anh. Năm 1939, The Butcharts đã tặng toàn bộ khu vườn cho người cháu mình tên là Ian Ross (1918-1997) nhân ngày sinh nhật thứ 21 của cháu mình. Ross điều khiển và quản lý khu vườn nầy đến 58 năm sau mới qua đời. Năm 1953, người ta chôn dây điện dưới đất dài đến mấy dặm để thiết lập một hệ thống ánh sáng về ban đêm cho toàn khu vườn The Butchart Gardens nhân kỷ niệm 50 năm, ngày thành lập khu vườn nầy. Năm 1964, một hệ thống phun nước tạo hình thành những thác nước cũng được thành lập để kỷ niệm 60 năm ngày thành lập khu vườn. Năm 1994, chính phủ Canada đã ban thưởng huy hiệu riêng cho The Butchart Gardens. Năm 2004, hai cột thờ Totem cao 9.1 mét cũng được dựng lên để đánh dấu 100 năm ngày thành lập khu vườn nầy và The Butchart Gardens được xem như là trung tâm lịch sử của quốc gia. Sau này, quyền sở hữu của The Butchart Gardens vẫn là những người thuộc con cháu trong dòng họ Butchart quản lý. Từ năm 2001, người cháu gái tên là Robin-Lee Clarke, gọi The Butchart bằng cố, quản lý và là giám đốc của khu vườn The Butchart Gardens nầy.

Vừa đến bến xe của vườn hoa, Bác tài xế liền tìm chỗ đậu xe gần cổng rồi dừng xe lại. Sau khi tất cả chúng tôi xuống xe, bác tài xế dẫn chúng tôi vào thăm vườn hoa The Buchart Gardens ngay. Lúc chuẩn bị bước vào cổng, thấy thời khoá biểu cho du khách vào xem đặt trên một cái giá ba chân, tôi liền đến gần để xem mới biết đây là thời khoá biểu ứng dụng cho bốn mùa trong năm. Mùa Xuân thì vào tháng ba và tháng tư, mùa Hạ thì tháng sáu và tháng chín, mùa Thu tháng mười, tháng mười một, tháng chạp, mùa Đông tháng giêng. Trong tất cả bốn mùa, giờ mở cửa bắt đầu từ 9:00 giờ sáng, còn giờ đóng cửa tuỳ theo thời tiết từng mùa mà cửa sẽ đóng sớm hay muộn, nhưng muộn nhất là 10:00 giờ tối vào tháng sáu lúc hè về.

Giờ mở cửa tại vườn hoa The Butchart Gardens:

Spring

 

March 1 – 31

9:00 am – 4:00 pm

April 1 – June 14

9:00 am – 5:00 pm

 

Summer

 

June 15 – September 5

9:00 am – 10:00 pm

September 6 - 15

9:00 am – 9:00 pm

September 16 – 30

9:00 am – 5:00 pm

 

Autumn

 

October 1 – 31

9:00 am – 4:00 pm

November 1 to 30

9:00 am – 3:30 pm 

 

Christmas

 

December 1 – January 6

9:00 am – 9:00 pm

December 25

1:00 pm – 9:00 pm

 

Winter

January 7 – February 28

9:00 am – 3:30 pm

 

 

alt

Du khách đang đi vào vườn hoa

Vừa vào trong sân, chúng tôi đã thấy một vài bức tượng có vẻ kỳ lạ và ngoạn mục. Những bức tượng hình người, hình thú vật được các nhà điêu khắc khắc rất công phu và thật tinh xảo. Tất cả những bức tượng này đều được đúc bằng đồng và có lẽ cũng đã đứng trơ gan cùng tuế nguyệt gần một thế kỷ rồi. Bức tượng đẹp nhất nằm ngay giữa sân là bức tượng hình con rồng bằng đồng đang phun nước. Mới đây, The Butchart Gardens vừa được Trung Hoa tặng thêm một bức tượng hình con rồng bằng đồng cao 2 m, dài 3 m, nặng 2,700 kg nhân kỷ niệm 35 năm ngày kết nghĩa giữa hai thành phố Suzhou của Trung Hoa và Victoria của Canada. Cũng như bức tượng hình con rồng cũ, hình bức tượng mới cũng phun nước rất đẹp và lộng lẫy hơn.

alt

alt

alt

 

Đi thêm vài bước nữa chúng tôi thấy một bức tuợng hình một con thú vật bằng đồng. Bác tài xế liền chỉ tay vào bức tượng này rồi nói cho chúng tôi biết rằng, du khách nào vào thăm vườn hoa này nếu đụng tay vào bức tượng hình thú vật nầy sẽ gặp may mắn. Thế là chúng tôi ai cũng đưa tay ra sờ hay thoa vào nó để kỷ niệm một chuyến đi, dù biết rằng đó chỉ là vấn đề dị đoan mà thôi. Tại đây, bác tài xế nói với chúng tôi là bác ra ngoài xe ngồi đợi, khi nào chúng tôi xem hoa xong bác ta sẽ chở về lại du thuyền. Chúng tôi liền tiến sâu vào trong để đi bộ xem hoa.

 alt

 

Du khách sờ tay vào bức tượng thú vật để cầu may.

 Vì vườn hoa rộng đến 50 mẫu Anh nên nếu đi bộ xem tất cả mấy nghìn loại hoa, qua các vườn hoa Sunken Garden, Concert Lawn Walk, vườn hoa Hồng , vườn hoa Nhật Bản, vườn hoa Ý Đại Lợi, và vườn hoa Địa Trung Hải, chắc chắn không ai có thể xem hết được vì sẽ mỏi chân và không đủ thời gian. Thế nên du khách cũng chỉ xem những nơi có những loài hoa nổi tiếng là đẹp, những luống hoa đúng nghĩa là kỳ hoa dị thảo mà thôi. Ước gì có một con ngựa, du khách sẽ “cưỡi ngựa xem hoa” thì thú biết bao nhiêu. Càng tiến sâu vào vườn hoa, chúng tôi càng thấy thích thú vì được nhìn hằng trăm loại hoa đang khoe màu khoe sắc, đang hớn hở cùng cười trước gió chiều như để chào đón du khách từ phương xa đến thưởng ngoạn. Chính những kỳ hoa dị thảo này đã làm cho lữ khách xem hoa chạnh lòng nhớ đến những loài hoa biết nói đã một thời vang bóng.

Không biết ngày xửa ngày xưa, Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên đẹp như thế nào mà say sưa nhìn hoa thơm cỏ lạ, mải mê say đắm Tiên Nga đến nổi không chịu bay về hạ giới. Chứ ngày hôm nay, chúng tôi có cảm tưởng như đang lạc vào chốn Bồng Lai Tiên Cảnh, vì bị hằng trăm hằng ngàn kỳ hoa dị thảo đang thôi miên, nên không biết được giờ nào sẽ về lại du thuyền tận bên xứ Alaska của nước Mỹ. Biết đâu trong lúc đang say đắm giữa hằng trăm hoa thơm cỏ lạ, đang đắm say với cảnh Non Bồng Nước Nhược đẹp tuyệt trần, một bà phù thủy nào đó từ đâu xuất hiện, dùng một phép biến hoá nhiệm màu để thôi miên lại hằng trăm dị thảo kỳ hoa, may ra kéo chúng tôi ra khỏi “mê hồn trận” nầy mới tĩnh táo mà ra về. Nếu không, có lẽ chúng tôi cũng không thể bay về “hạ giới” được vì đang bị lạc vào Động Thiên Thai bên xứ Victoria của Canada này.

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

Sau khi dành một ngày để xem vườn hoa The Butchart Gardens, chúng tôi liền ra cổng gặp bác tài xế để bác ta chở về lại du thuyền. Lúc chia tay bác tài xế tại bến xe taxi trên bến cảng, bác ấy trao cho chúng tôi một “business card” rồi hẹn ngày tái ngộ. Nhìn vào “business card” mới biết bác ta tên là Brian Clarke.

Sau khi trở lại du thuyền vào phòng tắm rửa để chuẩn bị dùng cơm tối, tôi thấy hai mẩu giấy trắng để trên giường ngủ với nội dung sẽ tưởng thưởng cho những du khách nào muốn tiếp tục “enjoy” du thuyền Norwegian Pearl của công ty Norwegian Cruise Line này trong những tuần tới. Theo nội dung trên hai mẩu giấy này, nếu du khách nào ghi danh để chuẩn bị cho những lần du ngoạn kế tiếp trên du thuyền nầy, sẽ được thưởng trong trương mục của du khách đã sẵn có trên du thuyền. Có lẽ đây là phương thức quảng cáo kiếm khách cho du thuyền để trong tương lai, du khách sẽ tiếp tục đi du lịch trên Alaska bằng du thuyền Norwegian Pearl nầy được đông hơn.

alt

 

Sáng ngày 20 tháng 06 năm 2015, như thường lệ, chúng tôi đến phòng điểm tâm để ăn sáng. Hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc du ngoạn nên chúng tôi đành phải từ giả Alaska để trở lại “quê nhà” ở California. Thế nên chúng tôi chẳng có gì phải bận rộn như những ngày qua, vì phải vội vàng theo chân các hướng dẫn viên để đi xem danh lam thắng cảnh. Lúc còi tàu hú vang rền và nhổ neo rồi lướt sóng đại dương để về bến cảng Seattle, chúng tôi ngồi nhìn phố xá của Alaska mà lòng buồn vời vợi, vì phải xa cách xứ sở của băng hà tuyết trắng, của sóng biển dạt dào giữa đại dương bao la bát ngát mà mới hôm qua đây, chúng tôi đã ngụp lặn và đắm chìm trong hạnh phúc và tràn đầy niềm vui của mấy ngày du ngoạn tại Alaska, và trên du thuyền Norwegian Pearl ở tận cực Bắc của địa cầu. Ngồi dùng điểm tâm sát bên cửa kính trên du thuyền, tôi đưa tay vẫy chào lần cuối bến cảng ở Alaska và thấy bến cảng xa dần, xa dần rồi mất hẳn ở tận chân trời đầy tuyết trắng.

 alt

alt

alt

 

Hình chụp từ trên du thuyền lúc tàu nhổ neo rời bến cảng

Lúc chiếc du thuyền ra giữa đại dương tràn ngập ánh bình minh đẹp tuyệt trần, tôi vẫn còn nhìn về phía chân trời xa vời vợi, nơi có dãy băng hà phủ cả một góc trời suốt tháng quanh năm và mải mải trơ gan cùng tuế nguyệt.

alt

 

Bất giác tôi ngâm bài thơ “Alaska Trắng” của Thi Sĩ Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang đăng trong bài “Mười Điều Về Alaska, Đất, Mặt Trời Nửa Đêm”của chính tác giả, như để tiếc nuối thời gian du ngoạn quá ngắn ngủi ở xứ tuyết trắng băng hà nầy.

ALASKA TRẮNG

Yêu em trắng dải băng hà,

Trắng từ thiên cổ, trắng già muôn năm.

Yêu em trăng ngọ (1) rất rằm,

Muôn đom đóm tuyết (2) chỗ nằm đùa chơi.

Bắc quang nhẩy múa rạng ngời (3),

Hoàng hôn khuya tím, mặt trời nửa đêm (4).

Yêu em. Gió cứng. Bão mềm,

Sương treo. Nắng lỏng (5). Mây chìm. Khói hoang.

Yêu em. Tuyết ngược. Mưa ngang (6).

Bỏ thôi, hạ giới (7), nhân gian hồ đồ.

Đời ta trắng Eskimo,

Nghìn thu trang sử cột-thờ-totem (8).

Bao la riêng của anh, em.

Ghi Chú (của Thi Sĩ Nguyễn Xuân Quang)

(1) Trăng ngọ: ở Alaska có ngày trăng tròn như trăng rằm còn thấy vào lúc đúng ngọ, giữa trưa.

(2) Những tinh thể tuyết lóng lánh như muôn ngàn đom đóm tuyết bay lượn.

(3) Bắc quang là áng sáng Bắc cực (aurora borealis, Northern lights)

(4) Ở Alaska có khi quá nửa đêm mặt trời mới lặn. Có chỗ có khi hơn ba mươi ngày mặt trời không lặn, không có đêm, lúc đó một ngày ở đó dài hơn ba mươi ngày «hạ giới».

(5) Nắng lỏng : ở Ketchikan một năm gần 360 ngày mưa,  có năm độ mưa lên tới 3.900 mm. Mưa bụi hay giọt bụi nắng, mưa trong nắng gọi là ‘liquid sunshine’.

(6) Tuyết ngược: gió hất tung tuyết từ mặt đất lên trời mang đi chỗ khác rơi xuống thành tuyết ngược.

Mưa ngang: gió trên Bắc Cực thổi tạt ngang bưng những trận mưa từ phương xa lại tạo thành những trận mưa ngang.

(7) Dân Alaska gọi những người Mỹ ở 48 tiểu bang phía dưới là «dân 48 miệt dưới» (lower 48), hạ giới.

(8) Cột thờ totem có một khuôn mặt dùng ghi lại lịch sử, truyền thuyết, tình sử…

 

California ngày 25 tháng 07 năm 2015

Dương Viết Điền

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Tuesday, 06 October 2015 16:01 )  
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account