CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Tạp Ghi Ký Sự Du Lịch Alaska (Tiếp theo)

Ký Sự Du Lịch Alaska (Tiếp theo)

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

Sau thời gian băng rừng để nhìn tuyết phủ trên núi, chúng tôi liền theo hướng dẫn viên Teresa băng qua một con đường mòn trong rừng để ra lại bến xe buýt hồi nãy. Tại đây, sau khi điểm danh lại số khách du lịch của đoàn chúng tôi, cô Teresa bảo mọi người lên xe và tài xế lái xe trực chỉ đến bờ biển để lên tàu nhỏ ra khơi xem cá voi theo chương trình đã vạch sẵn. Khi xe buýt dừng lại, chúng tôi được hướng dẫn đi băng qua một chiếc cầu tương đối ngắn và nhỏ để đến bến tàu.

Đến bờ biển được khoảng mười lăm phút thì cô Teresa đã liên lạc được ca-nô. Thế là chúng tôi nhảy ngay lên ca-nô nho nhỏ và ông tài công cho nổ máy rồi khởi hành ra biển ngay.

Tàu chạy với tốc độ nhanh làm cho sóng biển rẽ thành hai đường thật đẹp mắt. Trên tàu có một cửa kính được mở ra nên khi có cơn gió thổi mạnh, nước biển theo gió tạt vào trong tàu làm ướt áo vài du khách ngồi xem sóng biển. Cô Teresa đứng ngay bên ông tài công vừa nhìn du khách vừa giải thích và trình bày về địa điểm cũng như thời gian cá voi xuất hiện cho du khách biết. Lại chỉ có một du khách nho nhỏ có đầu óc thích tìm tòi, học hỏi và đam mê những điều mới lạ, nhất là bầy cá voi đang quậy trước cảnh đại dương bao la bát ngát, nên đã liên miên hỏi hướng dẫn viên Teresa về những điều cậu ta muốn biết. Đó là cậu David Châu, 8 tuổi, du khách đã chất vấn cô ta trong rừng thưa mấy giờ trước đây cả đoàn ai cũng biết. Dĩ nhiên cô Teresa cảm thấy rất thích thú khi có người nêu câu hỏi. Vì thế cô ta nhất định làm vừa lòng cậu du khách nho nhỏ này bằng cách từ từ trả lời những câu hỏi của cậu David Châu để làm cho cậu ta thoả mãn. Một du khác người ngoại quốc ngồi bên tôi khi thấy cậu nho nhỏ này cứ hỏi cô Teresa mãi cũng có vẻ thích thú nên nhìn tôi mỉm miệng cười hoài. Bỗng mọi người trên ca-nô la lên rồi chồm về mạn tàu bên phải để nhìn khi thấy mấy con cá voi nhảy lên trên không, lượn vòng đùa giỡn rồi lặn chìm lại xuống biển. Nhìn mấy con cá voi đang đùa giỡn trong nắng giữa biển cả bao la, tôi chợt nhớ đến một bài thơ mang tựa đề “What Whales and Infants Know” của Thi Sĩ Kim Cornwall sáng tác năm 2012:

What Whales and Infants Know

A beluga rising
from the ocean's muddy depths
reshapes its head to make a sound
or take a breath.

I want to come

at air and light like this,
to make my heart
a white arc above the muck of certain days,
and from silence and strange air

send a song

to breach the surface
where what we most need
lives.

Kim Cornwall

Tạm dịch:

Cá voi mẹ và con

 

 

 Một con cá voi nhô đầu lên

từ lòng đại dương

Tạo lại hình dáng của chiêc đầu

rồi phát thành tiếng kêu

hay là đang thở.

 

Tôi muốn đến

 

Giữa lòng đại dương đầy ánh sáng

Như thế này.

Để cho tâm hồn mình

Được uốn lượn thành hình cung màu trắng

Một vài ngày.

Từ sự tĩnh lặng và bầu không khí lạ thường.

 

Gởi một bản tình ca

Làm rối bời

khuôn mặt đại dương

Nơi đây chúng ta cần sự sống.

Kim Cornwall

alt

alt

 

Tung tăng trên mặt nước, khi thì chúng đùa giỡn bên phải, khi thì chúng giỡn đùa bên trái. Tuỳ theo vị trí cá voi xuất hiện, ông tài công cho tàu quay qua quay lại để du khách nhìn được dễ dàng. Vì tàu quay qua, quay lại, quay tới quay lui nên bị chóng mặt rồi say sóng vì chưa bao giờ đi biển cũng như tuổi còn quá nhỏ dại nên cậu David Châu, người thường xuyên làm cho cô Teresa có việc làm, đã phải đến nằm kê đầu vào bố nình vì cảm thấy buồn nôn. Du khách trên tàu vẫn mỏi mắt nhìn ra khơi. Nếu người nào thấy cá voi xuất hiện ở đằng xa thì chỉ tay cho mọi người trên tàu cùng xem. Bỗng tàu di chuyển qua lại gần mấy thùng màu đỏ làm mốc định vị cho tàu bè đi ngang qua biết, chúng tôi thấy hai con cá voi đang nằm trên mấy thùng màu đỏ đó thật vui mắt.

alt

Sau hơn một tiếng đồng hồ nhìn mấy con cá voi đùa giỡn trên biển, hướng dẫn viên Teresa báo cho ông tài công đã đến lúc rời địa điểm để trở lại du thuyền Norwegian Pearl dùng cơm trưa.

Cũng như thường lệ, mỗi lần dùng điểm tâm hay cơm trưa, tối, chúng tôi thường lên tầng 12 theo thói quen, ít khi đi địa điểm khác. Cứ mỗi lần du khách bước vào phòng ăn là có nhân viên của du thuyền đứng chờ sẵn trước cửa để xịt thuốc (alcohol) vào tay du khách hay trao một miếng giấy ẩm ướt cho du khách lau tay để khử trùng. Trưa ấy tôi tách khỏi gia đình để đi trước lên phòng ăn. Khi vừa bước vào phòng, tôi thấy một thanh niên đang đứng đánh đàn guitare ngay cửa ra vào để đón chào du khách vào dùng cơm trưa. Chàng ta vừa đàn vừa hát, bên cạnh là một nữ nhân viên đứng cầm bình xịt alcohol để khử trùng hai bàn tay cho du khách.

alt

Một du khách đang vỗ tay bên cạnh chàng guitarist.

Nhìn chàng thanh niên vừa đàn vừa hát làm cho một du khách vốn là một nghệ sĩ, cảm thấy hân hoan trong lòng nên anh du khách này liền mượn cây đàn guitare và cũng đứng ngay cửa ra vào, rồi vừa đàn vừa hát bản nhạc “ L’amour c’est pour rien” của Enrico Macias cho các du khách khác trên du thuyền Norwegian Pearl vào dùng cơm trưa nghe.

alt

Một du khách mượn đàn để đàn bản nhạc “L’amour c’est pour rien”.

L'amour c'est pour rien

Comme une salamandre, l'amour est merveilleux
Et renait de ses cendres comme l'oiseau de feu,
nul ne peut le contraindre
Pour lui donner la vie.
et rien ne peut l'eteindre
Sinon l'eau de l'oubli.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux l'acheter.
Quand ton corps se revelille,
Tu te mets a trembler.
Mais si ton coeur s'eveille,
Tu te mets a rever.
Tu reves d'un echange avec un autre aveu,
Car ces frissons etranges
Ne vivent que par deux.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le vendre.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux l'acheter.
L'amour, c'est l'esperance,
Sans raison et
sans loi.
L'amour comme la chance
Ne se merite pas.
Il y a sur terre un etre
Qui t'aime a la folie,
Sans meme te reconnaitre
Pret a donner sa vie.
L'amour, c'est pour rien.
Tu ne peux pas le prendre.
L'amour, c'est pour rien.
Mais tu peux le doner.
L'amour, c'est pour rien.
L'amour, c'est pour rien.

 

Enrico Macias



 

 

Sau khi dùng cơm trưa xong chúng tôi liền thả bộ lên các tầng lầu trong du thuyền để xem. Lúc bước chân lên cầu thang, một bảng nhỏ gắn vào tay vịn của cầu thang đập vào mắt mọi người. Nội dung khuyên mọi người phải vịn vào bên cạnh lúc lên hay xuống, đề phòng trượt chân té nhào xuống dưới cầu thang.

alt

 

Đi vòng vo tam quốc trên du thuyền khoảng một giờ, chúng tôi được thấy rất nhiều địa điểm giải trí cho những du khách nào thích thể dục thể thao. Lên hết bậc thang cuối cùng để đến tầng cao nhất của du thuyền, ngay ở cuối du thuyền là một sân bóng rổ hiện ra trước mặt chúng tôi. Nơi đây, một số thanh thiếu niên đang cùng nhau đùa vui có vẻ thoả thích. Nhìn thật kỹ thì sân bóng rổ này cũng có thể chơi được bóng chày, chơi được tennis thật là tiện lợi.

alt

 

Nhớ lại lúc bước lên cầu thang khi nhìn phía bên trái, một bảng hiệu màu tròn xuất hiện trước mặt du khách. Đọc kỹ mới biết đây là địa điểm trò chơi leo trên tường đá để các du khách muốn chơi thì dừng lại mà chuẩn bị những vật dụng, dưới sự hướng dẫn của các nhân viên chuyên nghiệp của du thuyền. Thảo nào, vừa bước xong tam cấp cuối cùng của thang lên boong tàu, chúng tôi đã thấy một bảng hình tròn mang chữ Rock Climbing Wall nằm bên trái cầu thang.

 

 

Khi đi ngang qua đây thấy bức tường đá này, chúng tôi liền dừng lại để xem. Thì ra môn “leo núi” nầy người ta đứng xem cũng khá đông nhưng thỉnh thoảng mới thấy người đến tham dự. Có lẽ vì leo cao quá nên du khách ít thích cho lắm, ngoại trừ những người hiếu kỳ hay muốn thử chơi trò giải trí này xem sao mà thôi.

alt

Du khách đang xem người leo lên tường đá

Cậu David Châu, du khách 8 tuổi nầy đã từng làm cho cô Teresa hôm qua trả lời mệt nghỉ khi cậu ta nêu lên nhiều câu hỏi suốt cuộc hành trình, liền xin cha mẹ cậu ta cho phép cậu nhảy vào cuộc chơi! Sau khi cha mẹ David Châu chấp thuận, cậu ta liền đến gặp nhân viên chuyên nghiệp về trò chơi, để được nai nịt tất cả vật dụng cần thiết ngõ hầu chuẩn bị chu đáo cho vấn đề leo lên bức tường truớc mặt. Sau khi mọi việc chuẩn bị xong xuôi, David Châu bắt đầu leo lên bức tường trước mặt trước sự huớng dẫn và cầm chắc sợi dây thừng của nhân viên chuyên nghiệp. Lúc David Châu đang cố gắng leo lên cho đến đích, gia đình của David Châu đứng dưới nhìn lên hồi hộp đợi chờ. Khi David Châu đã đến được đích và kéo chuông kêu thành tiếng, mọi người đứng dưới nhìn lên vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

alt

Nhân viên chuyên nghiệp đang chuẩn bị nai nịt an toàn cho David Châu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 alt

 

David Châu đã đến được đích.

Sau đó, một vài du khách cũng nhảy vào cuộc chơi trong đó có ba của David Châu.

alt

Sau màn leo tường đá của cháu David Châu, chúng tôi liền rủ nhau đi vòng quanh trên boong tàu để xem cảnh trời chiều giữa đại dương bao la bát ngát. Mới đi khoảng vài phút thì thấy một bàn cờ đam trước mặt. Tại đây, hai du khách một nam một nữ như đang miệt mài suy nghĩ để tìm nước đi. Bàn cờ chỉ có hai màu đen trắng nổi bật, được thực hiện trên nền xi măng choán ngay cả lối đi trên boong tàu.

alt

Hết xem đánh cờ đam, chúng tôi lại vòng qua bên trái boong tàu thì thấy du khách đang chơi trong sân golf. Sân golf nho nhỏ xinh xinh được thiết lập ở một góc nhỏ trên boong tàu, chung quanh sân được bao bọc một lớp lưới để khi chơi, banh khỏi văng xuống biển.

alt

Xem sân golf xong thì trời đã về chiều. Chúng tôi liền về phòng ăn để dùng cơm tối, đặng chuẩn bị đến hội trường Summer Palace để xem những màn ảo thuật theo chương trình đã ghi trên tờ Freestyle Daily để sẵn trên giường mỗi buổi sáng. Sau đó đúng 07 giờ 30, gia đình chúng tôi đã có mặt đầy đủ để xem ảo thuật do các nhà ảo thuật của du thuyền Norwegian Pearl biểu diễn. Đặc biệt tối hôm nay, hội trường chật ních cả du khách, không còn một ghế trống. Trong đêm trình diễn này, có nhiều màn ảo thuật mọi người đã từng xem, nhưng cũng có những màn thật ngoạn mục và kỳ lạ chưa thấy bao giờ. Đặc biệt có một ảo thuật gia dáng người không cao lắm, tài diễn xuất của anh ta thật tuyệt vời. Đặc biệt hơn nữa là chàng ta chỉ xử dụng đôi tay, đôi chân và nụ cười để biến thành ngôn ngữ giải thích cho những màn ảo thuật mà không cần nói một lời nào, làm cho du khách trong hội trường đã vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Ai đã từng xem những phim do Charlot (Charles Chaplin), kịch sĩ nổi tiếng của Pháp quốc, đóng cũng biết ông hề trứ danh này đã xử dụng toàn cơ thể từ đầu đến tay, chân, cách đi đứng, quay tới, quay lui, té xuống, đứng lên, chuyển động toàn thân v v… và chỉ nở nụ cười trên môi mà không bao giờ mở miệng nói lời nào cả. Thế mà hằng ngàn khán giả từ Đông sang Tây ai ai cũng phải khâm phục và tán thưởng nhiệt liệt, đến nỗi có nhiều nhân vật suốt đời không bao giờ cười nhưng rồi khi xem phim Charlot đóng cũng phải bật cười: đó là cựu Thủ Tướng Jawaharlal Nehru của Ấn Độ!

Ảo thuật gia của rạp hát trên du thuyền nầy dù không bằng tài diễn xuất của Charlot, nhưng cũng có rất nhiều động tác rất tuyệt vời. Vì cảm kích trước tài năng tuyệt vời này cũng như những màn ảo thuật hấp dẫn, nên tôi đã xin chụp hình chung với anh ta để làm kỷ niệm lúc tình cờ thấy anh ta đứng lấy thức ăn bên cạnh tôi.

Sau màn ảo thuật của anh ta là những màn ảo thuật của chàng và một người đẹp cũng rất ngoạn mục. Có lẽ đây là một cặp chuyên lo những màn ảo thuật thường xuyên với nhau cho du thuyền trong các buổi trình diễn văn nghệ nên họ phối hợp với nhau rất nhuần nhuyễn, thuần thục và nhanh nhẹn. Thế rồi đúng hai tiếng đồng hồ thì show ảo thuật chấm dứt. Chúng tôi liền về phòng nghỉ ngơi để sáng mai lên đường đi xem tỉnh Skagway như chương trình đã được ghi sẵn trong Freestyle Daily. Trong chuyến du lịch đến tỉnh Skagway này có đoạn đường băng qua biên giới Hoa kỳ (Alaska) và Canada. Vì vậy Ban Tham Mưu du thuyền phát một mẩu khai báo để du khách khai trước rồi nộp ngay trong đêm để sáng mai lên đường cho tiện lợi.

Sáng ngày 17 tháng 06 năm 2015, sau khi dùng điểm tâm xong, chúng tôi liền đến địa điểm đã được thông báo để làm thủ tục xuống tàu đi xem phố phường trong tỉnh Skagway. Cũng giống như thủ tục xuống tàu ngày hôm qua, chúng tôi sắp hàng nối đuôi nhau rồi trao chìa khoá phòng và thẻ căn cước cho nhân viên phụ trách, sau đó bước qua máy kiểm tra toàn cơ thể như ở phi trường là xong.

alt

Tỉnh Skagway nhìn từ trên du thuyền

 

 


Khuôn dấu

Nickname(s): " Cổng vào the Klondike"


Bản đồ tỉnh Skagway (màu đen)

Skagway là một đô thị hạng nhất tại xứ Alaska ở trên vùng đất nhô ra ngoài biển của tiểu bang Alaska. Theo bảng thống kê năm 2010, dân số tại Skagway là 920 người, ước tính năm 2014 là 1,012 người. Số dân tại tỉnh này tăng gấp đôi vào mùa hè để phục vụ cho hơn 900,000 khách du lịch đến du ngoạn. Trước đây, nột thành phố được hình thành do sự hợp nhất vào năm 1900. Sau đó tái cấu trúc như là một đô thị vào ngày 25 tháng 06 năm 2007. Hải cảng Skagway là nơi cập bến của các du thuyền và các tàu buôn. Vấn đề buôn bán của các phú thương là một trong những nguồn lợi quan trọng cho nền thương mại Skagway. The White Pass and Yukon Route narrow gauge railroad (Đèo Trắng và đường xe lửa nhỏ hẹp đến đô thị Yukon), dành cho dân đi khai mỏ tìm vàng trong quá khứ, bây giờ chỉ hoạt động thuần tuý cho thương mãi trong những tháng mùa hè mà thôi. Địa danh Skagway là nguồn cảm hứng cho Nhà văn Jack London để hoàn thành tác phẩm “The Call of The Wild” và cho Tiểu thuyết gia Joe Haldeman viết nên cuốn “Guardian”. Danh từ riêng Skagway bắt nguồn từ chữ “Shgagéi”, một thành ngữ của Tlingit mang ý nghĩa biển cả đầy sóng gió ba đào trong lạch nước ở vùng Taya do những ngọn gió Bắc phương thổi về. Skagway là một tỉnh mà trước đây cả thế giới đều biết như là một vùng có rất nhiều mỏ vàng nằm trong vùng Klondile. Xứ Klondile của Skagway là nơi núi non hiểm trở có nhiều cánh đồng đầy những mỏ vàng nên chính quyền địa phương đã thiết lập một hệ thống đường xe lửa để tiện lợi cho vấn đề di chuyển. Cách đây một, hai thế kỷ, sau khi khám phá có quá nhiều mỏ vàng tại Klondile, hàng ngàn người đã đổ xô về đây để tìm vàng. Vì thế để đến cho được vùng nầy, những người đi tìm vàng phải đi bộ rất vất vả, trèo đèo vượt suối đầy giá lạnh, băng qua sa mạc mấy mươi dặm đường mới đến được mỏ vàng mà khai thác.

alt

Dân đang đổ xô đi tìm vàng

(Hình trích từ Wikipedia)

alt

Dân đang đổ xô đi tìm vàng (năm1897)

(Hình trích từ Wikipedia)

 

 

Dân chúng rời San Francisco để đến Klondile tìm vàng. (Hình trích từ Wikipedia).

Nói là đi xem thành phố của tỉnh Skagway nhưng khi đến thành phố này cũng như đến thủ phủ Juneau của tiểu bang Alaska, du khách muốn đi đâu tùy sở thích. Người thì thích đi shopping, kẻ thì thích đi xem những di tích lịch sử, người thì muốn đi xem danh lam thắng cảnh v v…Dĩ nhiên tất cả du khách đã chọn trước lúc mua vé nên khi đến các thành phố này, du khách đã chuẩn bị tâm tư để theo các hướng dẫn viên đến những nơi mình đã chọn. Cũng như lần trước, chúng tôi ra bến xe buýt để đợi xe đến. Trong lúc đợi chờ xe, tôi đến quầy báo để sẵn tặng du khách, lấy một tờ đọc để giết thì giờ. Đọc sơ qua nội dung tờ nhật báo, tôi thấy người ta đăng quảng cáo đủ thứ chuyện liên quan đến xứ Skagway này. Vừa đọc vừa liếc mắt ra ngoài canh chừng xem xe buýt khi nào đến mà lên xe đi cho kịp với mọi người trong toán

 

alt

Các tài xế xe buýt đang cầm bảng hiệu cho các du khách thấy .

alt

Nhật báo xuất bản tại Skagway.

Khoảng mười phút sau xe đến chở chúng tôi lên đường để bắt đầu cuộc hành trình. Tài xế xe buýt kiêm hướng dẫn viên đoàn chúng tôi là một thanh niên người Mỹ tên là J J, khoảng 23 tuổi, rất đẹp trai, dễ thương, hiền hoà. Ăn nói rất khiêm tốn, nhã nhặn. Lúc leo lên xe ngồi cạnh tài xế, tôi nói nhỏ như vui đùa với tài xế rằng, anh ta hãy chuẩn bị tâm tư để trả lời khoảng một nghìn câu hỏi do một cậu nho nhỏ tên là David Châu đang ngồi ở băng ghế sau sẽ hỏi. Nghe nói như vậy, anh tài xế vừa cười vừa quay mặt phía sau nhìn xem cậu nho nhỏ có tên là David Châu là cậu nào. Sau đó anh tài xế nói với tôi rằng anh ta sẽ trả lời tất cả những câu hỏi, những thắc mắc mà cháu David sẽ hỏi, khi xe dừng lại từng thắng cảnh, từng danh lam hay dọc đường lúc xe đang chuyển bánh.

alt

Anh tài xế và cậu David Châu.

Sau khi toàn thể gia đình chúng tôi đã ngồi hết trên xe, tài xế xe buýt bắt đầu cho xe chuyển bánh. Như đã sắp xếp trước những danh lam thắng cảnh lúc đến tỉnh Skagway chúng tôi sẽ đến, tài xế cứ thế mà lái xe đến từng địa điểm theo chương trình đã định sẵn. Ngồi trên xe để đến xem từng danh lam thắng cảnh của tỉnh Skagway, tài xế vừa lái xe vừa giải thích cũng như trình bày về lịch sử và địa lý của từng địa điểm cho chúng tôi nghe. Như đã nói lúc mới lên xe buýt về một nghìn câu hỏi mà cậu David Châu sẽ hỏi, khi nghe anh tài xế trình bày xong, cậu David Châu liền hỏi ngay những điều cậu ta thắc mắc mà chẳng ngại ngùng gì cả. Vĩ đã nghe tôi dặn dò từ trước nên khi nghe cậu David ngồi ở ghế sau lưng hỏi, anh tài xế liền nhìn tôi ngồi bên cạnh rồi nhoẻn miệng cười như có ý cho tôi biết tôi nói không sai. Thế là anh tài xế từ từ trả lời cho cậu David nghe trong suốt thời gian đi xem danh lam thắng cảnh của xứ Skagway này. Theo chương trình, chúng tôi vừa đến sa mạc Caross Desert thì anh tài xế cho xe dừng lại để chúng tôi xem cảnh nơi đây.

 Sau khi thăm sa mạc Caross Desert, tài xế chở chúng tôi qua xứ Yukon. Vì địa điểm này sát biên giới Canada và xứ Yukon một phần lãnh thổ thuộc phần đất Alaska, một phần thuộc phần đất của Canada nên tài xế đã lái xe qua Canada để chúng tôi thưởng ngoạn những phong cảnh hữu tình này luôn. Lúc qua Canada thì trời đã đúng ngọ. Du khách ai cũng nghĩ là đến đây chắc trời lạnh và mưa rơi. Có ngờ đâu bầu trời lúc nầy thật đẹp với trời xanh, mây trắng và nắng hồng. Chúng tôi liền vào tiệm ăn để dùng cơm trưa. Trước khi đến Alaska, người ta bảo khi nào lên xứ này nhớ gọi ngay loại thịt Caribou vì đây là đặc sản nổi tiếng của xứ này. Nhưng vì “order” trễ quá nên loại thịt đó không còn nữa. Thế là chúng tôi chỉ mua tạm vài miếng hamburger và một vài thức ăn để dùng cơm trưa thôi. Khi chủ quán thối tiền lại, cầm tờ giấy bạc trên tay nhìn qua nhìn lại mới biết đây là tiền Canada nên cũng cầm đi luôn để làm kỷ niệm.

alt

 

Vì thực khách đã ngồi chật ních trong tiệm nên chúng tôi ra dãy bàn ghế ngoài sân để ngồi ăn. Sau khi ăn qua loa cho xong bữa ăn trưa và vì thấy nhà cửa nơi đây mang nhiều hình ảnh chạm trổ, điêu khắc kỳ kạ cũng như nhiều màu sắc chói chang và hấp dẫn, nên chúng tôi đã thả bộ vòng quanh địa điểm nầy để nhìn. Toàn bộ phong cảnh nơi đây có vẻ như là trung tâm thương xá của tỉnh lẻ. Đặc biệt nơi đây có mấy cột gỗ khắc hình người và khuôn mặt người rất kỳ lạ giống như những bộ tộc sống từ mấy thế kỷ trước. Đây là những cột thờ Tôtem, biểu tượng của những nền văn hoá của một số dân tộc bản xứ. Chúng tôi sẽ thưởng ngoạn rất nhiều cột thờ Tôtem như thế này lúc đến thăm công viên Bight State History Park trong cánh rừng thưa ở thành phố Ketchikan vào những ngày sắp tới. Nơi đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu được đầy đủ khi chứng kiến trước mắt đủ loại cột Tôtem do dân bản xứ dựng lên.

alt

alt

alt

Sau một giờ nghỉ ngơi để dùng cơm trưa, tài xế liền gọi chúng tôi tập họp lên xe để tiếp tục cuộc hành trình trong ngày. Từ Canada, xe chúng tôi lại chạy vòng vo trên núi để trở về lại Alaska. Sau khi làm thủ tục giấy tờ tại biên giới Canada và Alaska, xe chúng tôi chạy khoảng một thời gian rất ngắn thì thấy tấm bảng “Welcome to Alaska” trước mặt.

alt

alt

alt

Lối vào tỉnh Skagway giữa biên giới Canada và Alaska (Hoa Kỳ)

Chúng tôi được tài xế lái xe đến xem một thác nước nổi tiếng và đẹp mắt trên núi rừng thuộc tỉnh Skagway . Tại đây chúng tôi đã chụp thêm hình làm kỷ niệm cho chuyến đi ngày hôm nay.Sau khi say sưa chụp hình thác nước tuyệt đẹp nầy làm kỷ niệm quên cả thời gian, tài xế liền thúc giục chúng tôi lên xe để trở lại du thuyền. Trên đường về lại thành phố, chúng tôi thấy phong cảnh hai bên đường thật là ngoạn mục.

Phía dưới là thành phố Skagway nằm im lìm trong thung lũng phản chiếu ánh chiều tà trông thật đẹp mắt.

alt

(Còn tiếp)

Dương Viết Điền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

 
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account