CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Tạp Ghi Tháng Tư Lại Về !!!

Tháng Tư Lại Về !!!

E-mail Print
User Rating: / 0
PoorBest 

File:Saigon-hubert-van-es.jpg

Hồi Ký Vương  Mộng Long K20
________________________________
Ghi chú: BĐQ Vương Mộng Long, tốt nghiệp  Khóa  20/TVBQGVN.  Trong suốt thời gian binh nghiệp, ông phục vụ tại  Vùng II qua các  Tiểu Đoàn BĐQ sau đây: TĐ 11, 4 Mike Force, TĐ 81, và TĐ 82.  Cấp bậc và chức vụ  sau cùng: Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 82/BĐQ.  Sau 30/4/1975, Cộng Sản VN đã  giam giữ ông từ 1975 tới  1988  qua các trại cải tạo, từ nam ra bắc (13 năm).   Hiện ông và  gia đình, vợ 4 con, đang sinh sống tại Seattle, WA.   Năm 2003, ông  tốt nghiệp University Of Washington với cấp bằng B.A. Social  Science &  Communication
Trích từ Nguoi Viet  Online 01/10/2007:


"Cái đáng nói nhất, đó là nhờ Sư Đoàn  18 BB và các đơn vị tăng phái  cho Mặt Trận Xuân Lộc Tháng Tư 1975 như Lữ  Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 82 BĐQ, SĐ3 và 4 KQ... nên QLVNCH đã cầm chân  được Cộng Sản Bắc Việt gần 2 tuần lễ.  Nhờ vậy đã giúp cho một số lớn người  Việt  Nam hậu phương, có cơ hội ‘di tản’ ra nước ngoài để đổi đời."

Mường Giang


________________________________

Bây giờ là tháng Tư, trong ký ức tôi những kỷ niệm 30 năm trước lại   hiện về, rõ mồn một như thể là nó mới xảy ra ngày hôm qua, hôm kia.


Bây giờ là  tháng Tư, tôi lại nhớ đến trận đánh oai  hùng cuối cùng của QLVNCH, trận  Xuân-Lộc!  Tôi bùi ngùi hồi tưởng  những vinh quang nhận được từ chiến thắng để  đời này, cùng những tủi nhục  nhận lãnh trong những ngày đen tối tiếp theo sau  đó, khi quê hương nát  tan.  Những dòng này viết lên để tưởng niệm những thuộc  cấp của tôi đã ngủ yên giấc tháng Tư, bên con suối Rét (Xuân-Lộc), trên một ngọn  đồi  không tên ở Long-Thành, và trong đường phố Hố-Nai (Biên-Hòa).


Đầu tháng Tư năm 1975, Quân đoàn 2 không còn nữa.  Vì liên đoàn  trưởng  và liên đoàn phó vắng mặt, nên tôi được chỉ định nhận nhiệm vụ chỉ huy và hướng  dẫn Liên đoàn 24/ Biệt Động Quân từ Quảng-Đức tìm đường  ra
biển để bắt tay với  quân bạn.  Khi liên đoàn được trực thăng vận về Phan-Thiết thì Tiểu đoàn 82 BĐQ  được đưa thẳng  về sân bay Long-Khánh đặt thuộc quyền xử dụng của BTL/ SĐ 18 BB.   Tại đây, suốt 10 ngày đêm ròng rã, Tiểu đoàn 82/ BĐQ đã tả xung hữu đột chặn  đứng mọi mũi tiến công dũng mãnh của lực lượng xe tank Cộng-Sản Bắc-Việt  nhắm  vào sân bay Xuân-Lộc và Tòa Hành Chánh Long-Khánh vùng đông nam thành  phố.  Với  tôi, trận Long-Khánh là một trận đánh "để đời" cho những  tay cầm quân chuyên  nghiệp.


Ngày xưa tôi rất mê  Rommel, tôi đã tìm đọc nhiều sách viết về "Con Cáo  Sa Mạc" này, và tôi mơ tưởng có ngày được đánh những trận thần sầu như Rommel đã  làm.  Ngày đầu đặt chân xuống phi trường Long-Khánh (6/4/1975) tôi thật  khó mà  tưởng tượng ra rằng tại nơi này mình lại có dịp tham dự vào một  trận đánh long  trời lở đất vài ngày sau đó.  Trận Xuân-Lộc là lần đầu  trong đời lính, tôi được  thỏa mãn ước vọng đọ sức so tài với một địch thủ nặng cân hơn về vũ khí, đồ sộ  hơn về quân số.  Địch đông gấp ba, bốn  lần quân bạn, được T54 trang bị đại bác  100 ly dẫn đường.  Pháo yểm  của CSBV gồm đủ loại hạng nặng: đại bác 130 ly, 122  ly nòng dài, 105 ly,  75 ly sơn pháo, cối 120 ly, cối 82 ly, và phòng không 37  ly.  Thậm  chí trong ba ngày đầu địch dùng cả phòng không 37 ly bắn  trực xạ vào  trại 181 Pháo Binh/ SĐ18BB, nơi tôi đặt bản doanh BCH Tiểu đoàn 82 BĐQ.  Ấy vậy  mà đoàn quân hung hăng của  "Con Cháu Bác" không làm cách nào vượt nổi khúc xương  khó nuốt là cái trại  181 PB bé tí teo để xông thẳng vào tòa Hành Chánh tỉnh, nơi  ông Đại tá BĐQ  Phạm văn Phúc (K10VB) tỉnh trưởng, đang trợn tròn con mắt theo  dõi tên đàn  em về từ Pleime chơi trò ú tim với xe tank CSBV.


Rạng đông 9/4/1975 chiến trận bắt đầu bùng nổ.  Chiến trường mịt mù  dưới đất, tóe lửa trên trời.  Những cánh F5 thét gào, lên, xuống, thả hết đợt  bom này tới đợt bom khác lên đầu địch.  Đáp lại, địch cũng trả  đòn bằng những  chùm 37 ly phòng không nở hoa trên mây.  Những chiếc  Khủng Long AC 119 bao vùng  cả ngày lẫn đêm, những họng đại bác 20 ly gầm  rú từng hồi.  Súng nổ như bắp rang  khắp nơi trong  thành phố, ngoài vòng đai.  Đủ loại đại bác thét gầm; đạn xé gió  ào  ào tới tấp tưới trên mục tiêu của cả hai phía.  Những đám cháy không  người  chữa, lửa càng lúc càng cao, thần hỏa tự do tung hoành.  Máy  truyền tin ơi ới  gọi nhau.  Những thân hình ngã xuống, những tiếng hô  xung phong nghe rợn tóc  gáy.  Những chiếc T54 hung hãn khạc đạn không ngừng, những cái lô cốt ngả  nghiêng vì trúng đạn đại bác 100 ly của xe tank địch.  Trong những ngày đầu  tháng Tư Long-Khánh, một góc địa cầu đã rung rinh vì bom đạn!
Khi  chiếc PT 76 vướng vào cuộn kẽm gai vòng nơi góc rào tây bắc của  trại 181  Pháo Binh Sư Đoàn 18 thì cũng là lần đầu đoàn quân xâm lăng khựng lại  hoảng hồn bởi những tiếng hô, "Biệt Động! Sát! " ... "Biệt Động! Sát!"  Chiếc xe  tank đầu tiên lãnh một quả M72.  Chiếc PT  76 xấu số cháy bùng.  Những tên bộ đội  Cộng-Sản tùng thiết rút lui  trối chết về hướng rừng lau.  Chúng tôi đã ra mặt  đương đầu với đoàn  chiến xa CSBV ngay từ giờ đầu súng nổ.  Nơi góc đông nam thị  xã,  những người xâm lăng đã biết chúng tôi là Biệt Động Quân.


"Biệt Động! Sát!" , "Biệt Động! Sát!" tiếng hô vang dậy một góc  trời.  Biệt Động Quân đang có mặt nơi đây!
Săn đánh  xe tank là cả một nghệ thuật, nó còn là một cái thú nữa, cái  thú vui chết  người!  Hơ hỏng một chút thôi là mất mạng như chơi.  Trong số 12   BĐQ Pleime tử trận ở Long Khánh tháng 4/1975 đã có 7 người  chết trong khi săn  đuổi xe tank CSBV.  Mỗi chiến cụ, mỗi vũ khí đều  có chỗ yếu của nó.  Cái bộ phận  phun khói của xe tank là cái "gót  chân Achilles" của xe tank CSBV.  Tất cả những  chiếc tank địch bị TĐ82 BĐQ tiêu diệt trong trận Xuân-Lộc đều bị bắn từ phía sau  đuôi, nơi  phun khói.


Đánh tank cũng có qui luật.  Việc đầu  tiên là "tỉa" tên xạ thủ 12,8  ly, nó là tai mắt của chiếc tank, nó có một  chân trái hoặc phải bị khóa vào dây  xích trên ghế phòng không.  Việc  thứ nhì là "bung" một trái lựu đạn khói hoặc  lân tinh làm màn chắn che mắt  cái tank bạn của nó ở cách nó không xa, cây phòng  không trên chiếc tank  thứ nhì là tử thần gọi chết.  Việc thứ ba thật là giản  dị,  cứ đứng xổng lưng bóp cò cây M72 nhắm ngay phần phun khói sau đít cái  tank mục  tiêu, đây là phần mỏng nhất, dễ bắn thủng nhất của chiến  xa.  Một tiếng "bùm! "  rồi tiếp sau đó là xăng và đạn trong xe cháy  nổ "lóc! tóc!... ùm! ùm! " ngọn lửa  dâng cao, khói dâng cao.  Xong!


Mỗi lần một chiếc PT 76 hay T 54 bị bắn cháy, cột khói  chưa lên cao  khỏi ngọn cây thì người Anh Cả của chiến trường đã có mặt  trên vùng.
-Tiên Giao đây Hằng Minh gọi!
- Hằng  Minh, Tiên Giao nghe!
- Come  on!  Gắng lên nghe em!  Đánh cho nó tà đầu hết cục cựa!  Okay?
- Vâng, tôi nghe 5, đánh cho nó tà đầu hết cục  cựa!
- Okay!  You're a man!  Don't let 'em run  away!  Okay?
- Vâng, không cho nó ôm đầu mà chạy!
- Kill 'em!  Kill  'em!  Okay!
- Vâng!  Đây là cái tank thứ (2)  (3)... đó nghe Hằng Minh!  Nó vào cái  nào, tôi hạ cái nấy nhé!
- Okay!  I like the way you fight!
- Vâng, tôi nghe rõ 5!
- You're great! You're  excellent!
Sau khi thị sát trận địa và khích lệ tinh thần  tôi, người Anh Cả bay  sang mặt trận hướng Tây thị xã.  Trên đường  bay, ông liên tục đối thoại với vị  chỉ huy trưởng phòng thủ Xuân-Lộc, Đại  tá Trung đoàn trưởng Tr/Đ 43/ SĐ18 BB Lê  xuân Hiếu (K10) cũng bằng ngôn  ngữ nửa Việt nửa Mỹ.  Người Anh Cả của mặt trận  này là Thiếu tướng Lê  Minh Đảo (K10) Tư lệnh Sư đoàn 18 BB.  Ông lấy danh hiệu  đàm thoại là  Hằng Minh, tên người em ruột của ông.  Trung tá Lê Hằng Minh là  người hùng TQLC Tiểu đoàn trưởng TĐ2/ Trâu Điên năm xưa đã tử trận trên chiến  trường Thừa-Thiên.  Tiên Giao là tên đứa con gái út  của tôi, danh xưng truyền  tin tôi chọn cho mình trong trận đánh này.   Ngày qua ngày, pháo địch như mưa, T  54 có bộ binh tùng thiết, từng đợt,  từng đợt ào ạt xung phong vào vòng đai phòng  thủ thị xã.  Nhưng những tổ chống tank ba người của TĐ 82/ BĐQ ẩn hiện như ma   trơi, sau ô mối, sau gốc xoài, trong bụi chuối, cứ từ từ rang hết con cua T  54  này đến con cua T 54 khác.  Tiểu đoàn tôi đánh vùi với chiến xa địch cả tuần lễ  không biết mệt.  Toán diệt tank này bị loại, toán  khác lên thay.  Có cả một  giang sơn hướng đông nam thị xã cho chúng  tôi mặc sức tung hoành!  Chúng tôi đã  làm cho địch tổn hại nặng nề.  Chúng tôi đã đánh cho chúng nó "tà đầu" như ý  của  Thiếu Tướng Tư Lệnh mặt trận.  Một ngày giữa tháng Tư năm 1975,  ngoài vòng đai  phòng thủ, một chiếc T 54 chạy lạc loài.  Cái ống khói  của nó lãnh trọn một quả  M 72 từ toán diệt tank của Đại Đội 1/ TĐ82  BĐQ.  Anh binh nhì Phan Thọ trong  toán hộ tống  của TĐT82BĐQ cùng với anh phóng viên nhà báo lao vụt về hướng súng   nổ.  Ít phút sau tôi nghe choang choác, tiếng phòng không 12,8 ly nổ dòn  ngoài  xa.  Trong máy PRC 25 tiếng Th/úy Học, ĐĐT1/82 BĐQ báo cáo,  thằng Thọ bị thương  nặng, xin tản thương.  Thì ra anh B2 Thọ gan dạ này thấy chiếc T 54 đã nằm bất  động, anh leo lên gỡ khẩu phòng không đem về cho thầy.  Không ngờ còn một chiếc   chiến xa T 54 khác nằm ẩn trong bụi lau cách đó không xa; thấy anh đứng  nghênh  ngang sau pháo tháp, nó quạt cho anh một tràng 12,8 ly.  Anh  rơi xuống đất như  con chim bị ná.  Ruột anh đổ ra lòng thòng, máu  tuôn như suối.  Anh phóng viên  và một người lính trong toán diệt tank  khiêng Thọ về sân bay.  Sĩ Quan Trợ Y  Tiểu đoàn phải dùng cả một tấm  băng lá to bằng hai bàn tay xòe để che cho ruột  của  Thọ khỏi phòi ra.


Mặt Thọ tái xanh, môi run run,
- Thiếu tá đừng la em nhé!  Em thấy cây súng dễ ăn  quá, không ngờ tụi  nó bắn lén em!
Tôi an ủi Thọ,
- Ừ Thiếu tá không la em đâu, nằm im đó chờ xe.   Hoàng Long sẽ đem em  đi tản thương!
Hoàng Long là  danh xưng của Đại úy Ngũ văn Hoàn, Tiểu đoàn phó TĐ 82/   BĐQ.


Tôi một mặt lo xin pháo binh trong vòng đai trực xạ vào vị trí chiếc  xe tank còn lại, một mặt điều động ĐĐ1 TĐ1 Trung đoàn 43  BB đánh bọc bên phải  tiếp tay cho Thiếu úy Học ĐĐ1/82 có thì giờ dùng kẽm  gai concertina quây quanh  chiếc xe mới bị bắn cháy.  Chỉ có  concertina mới ngăn cản hữu hiệu được bước  tiến của chiến xa địch.   Con đường độc nhất để tiến quân bằng xe tank của địch  nhắm vào sân bay  Long-Khánh đã bị đan chằng đan chịt kẽm gai vòng.  Chiếc tank  mới bị cháy nằm hơi xa ngoài hàng rào và nó là chiếc T54 thứ tư bị sơn lên pháo   tháp dòng chữ "Tiểu đoàn 82/ BĐQ diệt tank".  Năm 1981 tại trại Cải Tạo Z30 C  Hàm-Tân, có một Thiếu úy thuộc LĐ 81/ BCND tên  là Nguyễn văn Vinh tìm gặp tôi.   Anh nói, "Tháng 5/1975 em bị nhốt ở Long-Khánh, em ở trong toán tù binh bị bắt  đi chùi  những chữ 'Tiểu đoàn 82 BĐQ diệt tank' viết trên bốn cái tank T54 và một   cái lội nước PT 76 ở bìa rào phòng thủ Xuân-Lộc.  Công nhận tiểu đoàn anh đánh  tank tuyệt quá!"


Chiếc xe tản thương của Trung đoàn 43 BB đã đưa B2 Phan Thọ về ngã ba  Tân-Phong, tháp tùng có Đại úy  Hoàn, anh phóng viên nhà báo và một anh y tá  BĐQ.  Khi quay trở về vị trí phòng thủ, ông Đại úy Tiểu đoàn phó kể lại chuyện  dưới đây.  Xe  tới BTL/ SĐ18/ HQ thì Thọ rất mệt vì máu ra đã nhiều, anh xuống xe  ngồi  dựa lưng vào một gốc xoài.  Ông Đ/úy Hoàn đi tìm Sĩ quan Quân Y Sư đoàn để  xin tải thương.  Bất ngờ Tướng Tư Lệnh từ trong lều bước ra, thấy Thọ, ông hỏi,
-Em là lính của  ai?  Bệnh gì?  Muốn về Sài-Gòn hả?
Thọ im lặng  mở tấm băng lá cho Tư Lệnh thấy vết thương của mình.  Bất  ngờ, bộ ruột của anh trào ra khỏi miệng vết thương; máu anh tuôn xối xả.
Anh y tá vội thưa,
- Trình Thiếu  tướng, anh này là lính TĐ 82 BĐQ , ảnh bị phòng không  bắn khi đang gỡ khẩu  12,8 ly trên cái chiến xa vừa bị bắn cháy. Thiếu tá em cho  phép ảnh được  tản thương về Sài-Gòn đó Thiếu tướng.
Tư Lệnh la lớn,
- Quân y đâu băng bó cho chú em ngay.
Ông quỳ xuống tự tay ấn từng đoạn ruột của người lính vào bụng của  anh  ta.  Người y tá vội vàng làm
phận sự của  mình tiếp tay với Tư Lệnh.
Đại úy Hoàn vừa kịp quay lại  chưa kịp chào trình diện thì Tư Lệnh đã  lớn tiếng,
- Phi hành đoàn C&C đưa gấp chú em này về Cộng-Hòa cho tôi.
Quay qua Thọ, Tướng nhẹ giọng,
- Em là lính của Thiếu tá Long, em can đảm lắm, qua sẽ cứu em!
Thọ lí nhí,
- Cám ơn Thiếu tướng.
Rồi anh quay qua Đại úy Hoàn,
- Cho em điếu thuốc đi Đại úy.


Đại úy Hoàn chưa kịp móc túi lấy thuốc cho  Thọ, thì Tướng đã có sẵn  điếu thuốc lá đưa vào môi người lính can  trường.  Ông một tay che gió, một tay  bật lửa mồi thuốc cho  Thọ.  Mặt Thọ tái xanh, những thớ thịt trên má bắt đầu co  giật.   Thọ hút một hơi thuốc dài, mắt Thọ long lanh, chợt anh ngoác miệng cười,
- Khẩu phòng không còn mới cáo cạnh,  nước thép xanh biếc thấy mê luôn  Đại úy ơi!
Ông Đại úy Hoàn an ủi,
- Giờ này chắc tụi nó đã mang khẩu  súng ấy về nộp cho Thiếu  tá rồi.  Mày nói đúng đó, nó còn mới cáo  cạnh, hèn nào mày không mê nó đến đổ  ruột luôn!
Thọ cúi đầu cười xẻn lẻn.
Cái bảng nhôm sơn đỏ có sao trắng được lật mặt ra đàng sau đã trở  thành cái bảng nhôm màu trắng thanh khiết  bên hông chiếc C&C.  Không bảng  sao, chiếc trực thăng chỉ huy trở thành giản dị bình thường, như ngàn vạn chiếc  tàu khác.  Trước khi  lên máy bay, Thọ còn ra dấu cho Đại úy Hoàn lại gần để anh  nhắn nhủ một điều gì quan trọng lắm,
- Em đi rồi không có ai pha cà  phê sáng cho Thiếu tá.


Đại úy nhớ nhắc  thằng Bích  khi pha cà phê cho Thiếu tá thì cho ít đường thôi!  Thiếu tá không   thích uống ngọt lắm đâu.  Nhờ Đại úy nhắn với Thiếu tá rằng, khỏi bịnh,  xuất  viện là em lên với Thiếu tá ngay.  Thôi em đi đây!
Không rõ Tư Lệnh có nghe lời nhắn của anh lính BĐQ gởi  cho thầy của  anh ta không, nhưng rõ ràng đôi mắt Tư Lệnh rưng rưng.   Chiếc trực thăng khuất  trong vòm mây từ lâu mà cánh tay Tư Lệnh còn vẫy  theo chưa hạ xuống.  Đây không  phải là lần đầu cái can trường của  thuộc cấp làm tôi cúi đầu kính phục.  Mà đã  nhiều lần trong quá khứ, dưới quyền tôi, không thiếu những ngưới lính dũng cảm  như thế.  Thời  1966 vùng triền sơn Quảng-Nam đầy rẫy những họng súng bắn  tỉa.   Cứ nghe tiếng "tắc cù" là chú Hạ sĩ Phong lại đưa cái thân cao  ngỏng còng queo  của chú che cho tôi, chú nói,


- Em  phải che cho Thiếu úy, em trúng đạn có mình em chết.  Thiếu úy  trúng đạn cả chục người chết theo.
Rồi cũng có lần chú bị bắn  toác nón sắt khi đưa thân che chở cho tôi,  khi Đại đội tôi chạm địch gần  ga Hương- An, Tam-Kỳ.
Năm 1969 trong trận Bình-Tây 49  dưới chân đỉnh Chư-Pa, Đại đội 1/ TĐ11BĐQ của tôi đánh cứu viện cho Đại đội 4/  TĐ11 BĐQ của Tr/ úy Nguyễn Lạn  (K20).  Trận này quân nhân đơn vị của  tôi và Lạn bị thương khá nhiều.  Từ đầu  trận, người lính mang đồ ngủ của tôi, anh B1 Trung đã bị bắn bể hông phải.  Đã  có nhiều chuyến tải  thương đi,
mà Trung vẫn còn ngồi chờ trên bãi đáp.   Tôi hỏi  tại sao anh không lên máy bay về bịnh viện, anh phân bua,
- Em chờ xem có ai bàn giao đồ ngủ của Trung úy xong em  mới yên lòng  đi về.
Tôi ngỡ ngàng kêu lên,
-Trời ơi!  Sao mày khờ thế!  Cứ quăng đại cho  ông thường vụ!  Lên tàu  ngay!  Luẩn quẩn ở đây đến chiều, hết  tàu tản thương.  Qua đêm máu ra hết thì  chết!


Trung giao đồ ngủ của thầy anh ta cho ông thường vụ đại đội, bàn  giao  kỹ lưỡng nhiệm vụ của mình rồi mới chịu lên chuyến tải thương cuối  cùng về Quân  Y Viện Pleiku.  Vết thương của anh nặng lắm, sau ngày  lành bệnh, anh B1 Trung đã  được giải ngũ lãnh tàn phế 100%.  Những  người lính của tôi dễ thương như thế  ấy!  Họ chỉ biết vâng lời người chỉ huy mình, bất kể đúng hay sai.  Cấp chỉ huy   ra lệnh tử thủ, họ tử thủ; cấp chỉ huy ra lệnh rút lui, họ rút lui; không  ý  kiến, không bàn cãi phán xét mà chỉ có tuân lệnh thi hành.  Họ đã  cùng tôi bao  tháng ngày đồng hành qua những chiến trường rực lửa, từ Pleime qua Kiến-Đức tới  Lâm-Đồng rồi về Xuân-Lộc.  Những người lính  của tôi không màng đến vinh quang mà  chỉ phụng sự cho cái vinh quang của người chỉ huy mình.  Vinh quang một đời  của  người cầm quân là một món nợ, nợ với tổ quốc, nợ với đồng bào, và nợ với thuộc  cấp của mình, những người đã hi sinh cho cái vinh quang mà mình đã một thời nhận  được.


Là người cầm quân, vinh quang là cứu cánh, vinh  quang là ý nghĩa của cuộc sống.
Tôi không có dịp tham dự vào cuộc phản công tái chiếm  chợ Xuân-Lộc,  khách sạn Long-Khánh và Cua Heo cũng như những cuộc giao  tranh trong khu trung  tâm thị xã.  Tin tức liên quan đến mặt trận  hướng Tây tôi hoàn toàn mù tịt.   Suốt mười ngày dầu sôi lửa bỏng  tháng Tư Long-Khánh 1975, TĐ 82 BĐQ chỉ biết có  mặt trận đông nam thị xã  mà thôi.  Bên hướng đông suối Rét là Lữ đoàn 1 Dù của  Trung tá (K15)  Nguyễn văn Đỉnh làm búa.  Bên hướng tây suối Rét là cái đe do  Thiếu  tá (K20) Vương mộng Long, TĐT82BĐQ chỉ huy, gồm TĐ 82 BĐQ tăng cường thêm   1 Đại đội của TĐ 1/ 43 BB, 1 Đại đội Địa Phương Quân Tiểu Khu Long-An và 1 Đại  đội Điạ Phương Quân từ Bình-Long di tản về.  Làm đe thì đỡ công di chuyển, đỡ  mệt thân xác, dễ kiểm soát đội hình, quân số.  Nhưng làm đe cho Dù thì quả là  mất mạng như chơi!  Pháo Dù nó tưới như mưa, làm đe bị lãnh tản đạn là  thường.   Trong trận này có ba người lính Thượng của tôi thiệt mạng vì  tản đạn của pháo  Dù.  Tháng Tư 1975 tôi đã chôn họ ngay bên dòng suối  Rét.  Tôi đã cầu nguyện cho  linh hồn họ yên vui trên đường phiêu du  về nguyên quán Pleiku.


Từ ngày đầu chiến dịch, một anh  phóng viên chiến trường của một tờ báo  ở Sài-Gòn, đã có mặt bên tôi không  rời.  Anh có dáng lòng khòng dong dỏng như  một triết nhân.  Anh  mặc đồ trận, đội nón sắt, nhưng không trang bị súng
ống.   Anh chỉ có cái máy ảnh, quyển sổ tay, và cây bút làm  hành trang.  Ngày mà đạn  pháo Dù bao trùm suối Rét cái lều của anh  nhà báo rách toang.  Cũng may anh  thoát chết vì lúc đó anh đang ở với ĐĐ1 TĐ82 BĐQ của Th/úy Học; anh bận chụp  hình cái tank cháy ngày hôm trước  nơi hàng rào bắc của trại 181 PB/ SĐ18.  Giữa  tháng Tư Lữ đoàn 1 Nhảy  Dù tung ra nhiều đợt tấn công mãnh liệt nhắm vào một  Trung đoàn CSBV trong đồn điền chôm chôm hướng đông nam suối Rét.  Chúng tôi ở  bên này bờ, hào hứng quan sát pháo Dù nổ rền trời phía bờ bên kia.   Từ nơi đồn  điền Thống tướng Tỵ, cán binh CSBV từng tốp chạy túa ra bìa  rừng, nhảy ùm xuống  suối Rét.  Những tay súng Pleime nhả đạn từ từ và chính xác.  Những người lính  Bắc-Việt bật lên  khỏi mặt nước như những con cá trắm cỏ, quẫy mạnh một lần rồi  chìm luôn...


Những tiếng hô "Biệt Động! Sát!" hoà lẫn tiếng súng M16,  M60 làm cho  một số cán binh CSBV vừa ló đầu ra trảng trống đã vội chạy  ngược lại bìa rừng.
Rồi cũng có người cầm cờ trắng chạy  từ trong rừng ra bờ suối, súng AK  dơ lên cao khỏi đầu.  Thế là họ đầu  hàng!
-Thôi!  Vứt súng xuống suối rồi lội sang đây!  Vứt súng xuống suối!   Dơ tay lên cao khỏi đầu, lội sang đây!  Nghe rõ chưa?
- Dạ cháu nghe rõ ạ!
Tôi và người phóng viên nhà báo mồi cho ba anh cán  binh CSBV ba điếu  thuốc lá.  Họ còn rất trẻ, chỉ độ mười lăm.   Bơ phờ mất ngủ, mắt quầng thâm.
- Cậu mấy tuổi rồi?
- Dạ thưa Thủ trưởng, cháu lên mười sáu ạ!
- Sao đi bộ đội sớm thế?  Mới mười sáu mà đã đi  lính rồi à?
- Cháu là thanh niên xung phong. Thủ trưởng  của cháu nói rằng Miền Nam  giải phóng rồi.  Chúng cháu chỉ vào để tiếp thu thôi ạ!
- Thế đánh nhau mấy ngày nay cậu thấy  thế nào?
-Thưa Thủ trưởng, nhà cháu sợ lắm ạ!
- Thôi đừng sợ, chốc nữa có người đưa cậu về Sài-Gòn.  Hết chết rồi,  đừng sợ!
- Thủ trưởng  có nói thật không hử Thủ trưởng?  Nhà cháu sợ chết lắm  Thủ trưởng ơi!
Đôi mắt trẻ thơ ngơ ngáo.  Ngón tay cậu bé run  run cầm điếu thuốc thơm  đưa lên môi, chỉ sợ nó rơi...
Thì ra thế!  Những cậu bé này được đưa vào đây là để... tiếp thu Miền  Nam!
Một hôm, Đại tá  Hiếu gọi tôi vào máy để "check fire".  Tôi liếc qua  nơi cần hỏa  tập.  Ồ!  Cái tọa độ ấy chẳng liên hệ gì tới quân bạn, không trở  ngại!  Rồi Đại tá Hiếu lại gọi tôi vào máy để "check fire".  Rồi tôi  lại trả  lời, "không trở ngại!"   Cứ vậy, ba bốn lần hỏi qua, đáp  lại.  Chiều hôm ấy tôi  nghe một tiếng "ùm!" âm vang hướng đông  bắc.  Tôi đã từng nghe B52 đánh cận  phòng nhiều lần trên chiến trường  Cao-Nguyên Vùng 2.  Tôi đã nghe quen tiếng  những trái bom 500 cân  Anh, 300 cân Anh thun thút từ trên mây xanh, những tiếng  "ủn ủn" theo đuôi  nhau chui trong không khí kiếm mục tiêu.  Nghe tiếng bom nổ  chùm, tôi  có thể phân biệt được đó là Box 3km x 1km, Box 2km x 1km,  hoặc Box 1km  x 1km.  Tiếng "ùm!" lần này có vẻ như âm vang của 1 Box  B52 đánh gọn ô vuông mỗi  chiều 1km x 1km ngày  nào?  Tôi thấy một cột bụi dâng cao dần dần tới mây.  Trời  cao  và mây xanh ngắt.  Có một chiếc C130 còn lượn trên vùng.  Tôi nghĩ chắc  chiếc C130 là tác giả cú "ùm!" vừa qua.  Mãi sau này tôi mới  biết tiếng "ùm!" đó  là 1 trong 2 trái CBU 55 (hay CBU 85) được xử dụng  trong trận Xuân-Lộc.  Một  trái được thả xuống vùng núi Tre hướng Tây  Bắc Long-Khánh, tôi không nghe báo.   Trái thứ nhì thì được thả xuống  chận đường kẻ thù đang tiến vào khu vực phòng  thủ của Trung đoàn 43/ SĐ18  BB trong đó có TĐ 82 BĐQ tăng cường.


Mặt trận tạm yên thì phái đoàn Thượng Hạ Viện từ Sài-Gòn đã bay ra tới  tận  cuối sân bay Long-Khánh để ủy lạo những người lính Vùng 2 đang đổ máu bảo  vệ  mảnh đất còn lại của quê hương nơi Vùng 3.  Những gói quà, những  cái bắt tay,  những lời hứa hẹn khen thưởng làm ấm lòng người chiến  sĩ.  Tôi nằm trên võng  dưới tàn cây điều lộn hột, lòng buồn nhớ thương vợ con tôi không rõ giờ này ra  sao.  Những người lính dưới  quyền tôi cũng vậy, mặt người nào cũng không vui,  thân nhân chúng tôi đã  rơi vào tay địch nơi chân trời cũ xa xôi Ban-mê-Thuột,  Pleiku...  Một  sớm mai, từ hướng đông, chiến xa địch dàn hàng tiến về vòng đai  phòng thủ Xuân-Lộc.  Đại tá Hiếu gọi tôi và cho biết lần này bộ binh tùng thiết  của CSBV có vẻ đông hơn những đợt tấn công trước đây nhiều.  Pháo binh bạn đã  bắn tối đa để chận địch.  Tôi thấy vài cột khói bốc lên từ những chiếc tank  bị  cháy.  Có một chiếc T54 bị bắn đứt xích cách vòng rào trại 181 PB  không xa lắm.   Chúng tôi nghe tiếng búa của bộ đội CSBV gõ trên thành  xe, chúng đang sửa cái xe  tank bị đứt xích!  Pháo binh từ trong vòng đai liên tiếp trực xạ hướng vào chiếc  T54 bị thương.  Địch không phản ứng.  Tiếng búa chạm sắt cũng im.  Họ án binh  chờ lệnh?   Rồi bên quân bạn cũng không thấy ai yêu cầu tác xạ thêm, pháo binh  của ta  cũng tạm ngưng.  Từ trưa tới chiều chạng vạng, mặt trận yên tĩnh lạ  lùng.  Khi mặt trời vừa lặn, pháo địch từ nhiều hướng  khác nhau tập trung trên  thành phố Xuân-Lộc, đủ loại súng nặng, bắn thẳng, cầu vồng, có điều khác lạ là  tất cả đều là pháo  tầm xa (?)  Pháo địch kéo dài cỡ một giờ đồng hồ rồi im hơi.    Màn đêm buông xuống, tôi nghe tiếng động cơ chiến xa nổ rộ, rồi nghe tiếng  bánh  sắt chạm đường đất đá, âm vang kéo dài từ gần rồi xa dần.  Toán  tiền thám BĐQ  ngoài vòng đai báo cáo, chiếc T54 bị đứt xích đã được kéo đi  và cả đoàn chiến xa  dàn hàng ngang ngoài vòng đai phòng thủ cũng đang rút đi (?)  Tôi báo cáo sự  việc này cho Đại tá Hiếu, ông cũng ngạc nhiên  không hiểu vì lý do gì, địch đang  chuẩn bị một cuộc sống mái thì đột nhiên đổi hướng.


Những ngày sau đó tình hình im ắng như tờ, những con ve sầu trên ngọn  điều lộn hột cất tiếng hòa ca điệu cuối Xuân  trong khung cảnh thật là tĩnh mịch  êm ả đồng quê.  Những cây chuối  trên đồi rủ lá.  Những sợi khói lam từ mái rạ  bay cao.  Khoảng  ba giờ chiều ngày 20/04/1975 Đại tá Hiếu cho xe ra sân bay đón  tôi vào họp  hành quân.  Ông rầu rầu,
- Ông Toàn ra lệnh cho  chúng ta bỏ Long-Khánh rút về Bà-Rịa.  Ông Đảo  vừa được lệnh và cho  tôi biết.  Tôi đón chú vào cho chú hay để mà chuẩn bị.   Chút nữa  ông Đảo họp với ông Toàn xong trở về sẽ có lệnh chi tiết sau.  Tôi  ngồi  với Đ/Tá Hiếu một lúc thì có điện thoại của Tư Lệnh.  Đại khái  ông cho biết,  lệnh bỏ Long-Khánh là từ Tổng  Thống.  Địch không vây Long-Khánh nữa mà đi bọc về  đánh Biên-Hòa và  thủ đô Sài-Gòn nên quân ta phải bỏ Xuân-Lộc, về bảo vệ Thủ Đô.   Tướng Đảo cực lực phản đối vụ triệt thoái này nhưng Tổng Thống và Tướng Toàn đã   quyết định cắt tiếp ứng, tiếp tế, yểm trợ cho SĐ 18 để ép Sư đoàn này thi  hành  lệnh lui binh.


Tôi được lệnh rút TĐ 82 BĐQ về ngã ba Tân-Phong trước 8 giờ đêm, chờ  lệnh.  Tiểu đoàn 82 BĐQ cuốn  lều, lấp hầm hố phòng thủ khi đêm rơi.  Cuối tháng  ba năm 1975 chúng  tôi đã làm việc này ở Kiến-Đức; chúng tôi đã bỏ lại sau lưng  một trận địa,  một kẻ địch kinh hoàng đến độ hai ba ngày sau mới dám mon men vào  điểm trú  quân đã bỏ trống của đơn vị BĐQ một thời ngang dọc Vùng  2.  Tôi đã rút  đi, theo lệnh, để lại Kiến-Đức hàng chục nấm mồ thuộc  cấp của mình bên QL14.   Quận Kiến-Đức và Đồn Pleime cách nhau không  bao xa, cũng còn là trong lãnh thổ  Vùng 2!  Lần này 12 người lính của  Pleime ngủ lại bên bờ suối Rét, lạ lẫm quê  người, quanh đây chỉ có điều  lộn hột, chuối, xoài và đồng cỏ mênh mông.  Nơi này  thật xa những  ngọn núi hùng vĩ Chư Gô, Chư Don, thật xa con sông mơ màng  Ia Meur  lững lờ quanh năm.  Công lao khó nhọc dặm trường nửa đường đứt gánh.


Đơn vị tôi vừa di chuyển ngang cổng Tòa Hành  Chánh tỉnh Long-Khánh thì  Đại tá BĐQ Phạm văn Phúc, tỉnh trưởng đã chờ ở  đó.   Đại tá yêu cầu tôi cho Tiểu  đoàn 82 BĐQ đi với đoàn quân của Tiểu khu Long-Khánh, và ông xin được tháp tùng   Tiểu đoàn 82 BĐQ trong cuộc rút lui.  Tôi từ chối với lý do,
- Đại tá có cả một Tiểu Khu, Đại tá phải chỉ huy họ, là  cấp chỉ huy  của họ.  Đại tá không thể đi theo tôi mà để họ không  người chỉ huy.


Đại tá Phúc hiểu ra, cám ơn tôi đã có lời  nhắc nhở nhiệm vụ của ông.   Chúng tôi bắt tay từ biệt.  Mãi tới  năm 1979 tôi mới gặp lại Đại tá trong trại  cải tạo Nam-Hà A ngoài  Bắc.  Trong cuộc rút binh, Đại tá Phúc đã bị bắt khi đi  được nửa đường Xuân-Lộc, Bà-Rịa và bị giữ trong trại tù từ ngày đó.  Ra tới  QL1  tôi phải cho quân đi hàng một và cách lề trái đường vài chục  mét.  Khi đến ngã  ba Tân-Phong tôi được lệnh  ngừng lại chờ lệnh.  Trên QL1 những chiếc xe cam  nhông chở đầy ắp  lính ngồi hai hàng, xe chạy như bay, chiếc này bám đuôi chiếc  khác.   Xe mở đèn pha sáng choang.  Có những người lính bộ binh lưng mang  nặng  balô, súng đeo vai đi sát hai bên đường.  Một người lính bộ binh  chạy băng ngang  từ bên phải sang bên trái đường. Anh  trượt chân té, chiếc xe cam nhông chạy qua  đè ngang hai chân anh.   Anh lính la hét đau đớn được một câu thì chiếc xe cam  nhông thứ hai đã đè đủ năm chiếc bánh bên trái qua người anh ta.  Tôi nghe rõ  tiếng  "rốp!" khi bánh xe lăn qua đầu anh.  Cái xác dẹp lép của người lính  cách  chân tôi khoảng hai mét.  Tôi kéo xác anh vào lề đường.   Cái căn cước quân nhân  cho tôi biết tên người xấu số là Nguyễn thành Long, sinh quán Long-An.  Hai bên  đường người cứ đi  như chảy hội, trên đường, xe cứ nối đuôi nhau.
. . . . .  . . .
Vương Mộng Long

 



Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

 
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account