CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Truyện Ngắn Năm Giáp Ngọ Kể Chuyện Xe Thổ Mộ

Năm Giáp Ngọ Kể Chuyện Xe Thổ Mộ

E-mail Print
User Rating: / 3
PoorBest 

 

N

ăm mới 2014 là năm con ngựa, tức năm Giáp Ngọ, tôi không may mắn sinh ra trong năm ngọ, nhưng bố tôi ẩn tuổi Canh Ngọ, thảo nào tôi không ngạc nhiên trên bàn bureau ngày xưa ông chưng bức tượng con ngựa, tương tự cậu con trai út của tôi ẩn tuổi con kiki, cháu bảo cháu thích con ngựa vì nét hùng dũng và khỏe mạnh. Thật vậy ngựa là loài vật hữu ích, ngựa gần gủi con người, giúp đỡ con người từ ngàn xưa đến nay trong xã hội loài người. Ngựa trong gánh xiếc, ngựa kéo xe, ngựa là phương tiện cho người đi viễn chinh như chú ngựa Marengo của vua Nã Phá Luân, những chú ngựa của Thành Cát Tư Hãn, ngựa của Hốt Tất Liệt, ngựa của Tần Thủy Hoàng, ngựa của Phù Đổng Thiên Vương,... và rồi chú ngựa Jolly Jumper của loạt truyện chàng cao bòi Lucky Luke của ngày xưa với con chó nhỏ tên Rantanplan, điển hình qua cuốn "Les rivaux de Painful Gulch". Còn nữa, ngựa vào phim ảnh như phim "Vì một nắm đô la" (Pour une poignée de dollars) với chàng cao bồi trứ danh Clint Eastwood phi ngựa bắn súng, hay phim khác cũng do chàng tài tử này đóng là "Le bon, la brute et le thuand" (The good, the bad and the ugly) khi vó ngựa bên tiếng súng nổ dòn tan. The Mask of Zorro và The Legend of Zorro, những loạt phim Zorro phi ngựa bắn súng trong cuộc chiến tranh giành biên cương giữa Mỹ-Mễ; Phim cao bồi viễn tây Lone Star hay The legend of the lost với Clark Gable phi ngựa đấu súng; Phim cao bồi viễn tây với John Wayne trên yên ngựa bắn súng rát tai với những Rio bravo, Born to the West; rồi chàng cao bồi Ronald Reagan thích cưỡi ngựa trong các phim đấu súng như The law and the order, Cavalry charge,... Chung qui hình ảnh con ngựa oai phong, hùng dũng ngoài biên thúy, ngoài trận mạc. Ngựa cũng góp mặt trong thi ca, hội họa, âm nhạc,...

Năm ngựa nói về ngựa, chuyện dài lắm, những con ngựa đep trong sử sách như Xích Thố, Bạch Mã, Long Mã,... hay những truyện tích về ngựa như Hồi mã thương chiêu, Xa mã chiến pháp hoặc Hồ Mã tê Bắc phong (Ngựa Hồ hí gió bấc),...

 

 

 

Này, năm Ngọ lại về kìa, chút gì xao xuyến bỗng tôi nhớ mấy câu thơ trong bài Thăng Long Hoài Cổ, "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương", câu thơ xa xưa ấy vương bóng sầu hoài niệm gợi nhớ về sự mênh mang trong lòng con người về một thời đại hoàng kim chìm trong dĩ vãng thiên thu vạn cổ. Khi tiếng vó ngựa đều đều chạy dẵm lên con đường dài trải nhựa, hồn ai chạnh nghĩ về kỷ niệm cố hương, dù Lái Thiêu hay Bà Điểm, bóng dáng của những chiếc xe ngựa hay xe thổ mộ thoáng hiện về trong lưu luyến. 

 

"Vó ngựa dặm đường vương mạc khách

Ru hồn lữ thứ tiếng cô liêu"

(Thuở đẹp quê xưa, VHLA)

 

Thôi thì năm Ngọ thì hãy nói tiếp về chuyện ngựa, dĩ nhiên. Tôi muốn quay về với chuyện ngựa của nét quê hương, qua ý niệm: Ký ức hồn thu thảo và chiếc xe thổ mộ.

 

Nhớ ngày nào của thuở chập chửng vào trung học đệ nhất cấp, tôi bắt đầu mê đọc sách. Mỗi sáng mẹ cho tiền ăn quà trong ngày, thuở ấy bóp bụng nhịn đói để nộp tiền cho ông nhà văn Quyên Di (founder) và bà nhà văn Thụy Vy (staff writer), chỉ vì tôi bị mê hoặc, bị dụ khị đọc truyện Tuổi Hoa, đọc say mê, canh me số mới để mua nữa chứ.

Sách mang tựa đề  “Chiếc xe thổ mộ”, tác giả là Bích Thuỷ. Cuốn truyện đề cập đến một chiếc xe ngựa hay xe thổ mộ chuyên chở khách, tác giả kể chuyện về một đôi bạn quen từ tấm bé, Bình nhân vật nam và cô bạn tên Thảo. Ông nội Bình (ông hai Lâm) làm nghề đánh xe thổ mộ nuôi Bình khi ba anh mất chính xe thổ mộ mà đôi bạn trẻ khắng khít bên nhau, khi bà ngoại Thảo mất Thảo dọn đi nơi khác làm nghề may. Khi nội mất Bình tiếp nghề gia đình, thời gian bôn ba trôi nổi. Thảo và Bình gặp nhau trong yêu thương. Truyện còn kể về 2 con ngựa của ông Bình là con Long Mã, Long Mã chẳng may bịnh mất ông hai Lâm mua con Phi Long.

 

Truyện “Chiếc xe thổ mộ” của Tuổi Hoa, thuộc truyện loại hoa xanh là loạt truyện tình cảm nhẹ nhàng, tuổi mộng mơ, do nhà văn Quyên Di cho phân loại, sau khi tôi tốt nghiệp loạt truyện tình cảm nhẹ nhàng, ông Quyên Di cho tôi lên cấp màu hồng. Đấy là chuyện những ngày xưa thân ái với Quyên Di và staff Tuổi Hoa có cô Thụy Vy.

 

Nào xét về từ ngữ xe "thổ mộ" xuất xứ từ đâu ra vậy ? Tôi sao lục, tìm tòi thì có 2 giả thuyết về nguồn gốc:

 

1/ Chữ Hán "Thụ Mã":

 

Xe thổ mộ là xe có hai càng bằng gỗ dài gần bằng thân mình con ngựa kéo xe. Nó giống xe ngựa từ đời nhà Tần Hán bên Tàu, nhưng cách thiết kế (design) dáng xe của người Việt mình thanh mảnh nhẹ nhàng hơn xe người Tàu, nhất là hai bánh xe có căm xe chứ không còn là một mảnh gỗ đặc tròn phẳng làm xe rất nặng nề khi chuyển động. Tên "thổ mộ" có nguồn gốc từ chữ "Thụ Mã" mà người Tàu ở Việt Nam thường đọc là Thụ Mạ. Người Việt dễ thương của ta đọc trại âm nhiều lần thành "thổ mộ".

 

2/ Hình thể ngôi mộ đất:

 

Hình thù cấu trúc xe thổ mộ trông giống như ngôi mộ đất nên bà con thiên hạ đặt cho nó cái tên "ngôi mộ đất", khá văn hoa thanh âm đầy chất thi phú, hay hơn tên xe ngựa theo ý tôi. Trong quyển Dictionnaire Vietnamien Chinois Francais, Saigon, 1957 của Eugène Gouin (Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris) có vài từ liên quan tới vụ xe thổ mộ này được giải thích như sau:

Thổ mộ: Voiture trainée par un cheval (Saigon).

Xe độc mã: Voiture à cheval, Xe một ngựa.

Xe ngựa: Voiture à cheval, Xe một ngựa.

Xe song mã: Voiture à deux chevaux, Xe hai ngựa.

Xe thổ mộ: Coupé (voiture), Xe bốn bánh có mui kín (xe bốn bánh)

 

Tham khảo bài viết Xe Ngựa của tác giả Nguyễn Ngọc Chinh như sau:

"Thời cổ, giới quyền quý Trung Hoa dùng xe do ngựa kéo mỗi khi di chuyển. Thời trung cổ, tại Pháp và một số nước châu Âu giới quý tộc thường đi loại xe do hai ngựa kéo, xe song mã thể hiện đẳng cấp của những người thuộc gia đình quyền quý. Ngày nay các loại xe song mã chỉ còn được dùng trong việc đưa khách du lịch đi xem thắng cảnh.

 

Tại miền Nam vào những năm 1880 của thế kỷ 18, xe ngựa là phương tiện đi lại bình dân và phổ biến ở vùng Sài Gòn-Gia Định. Đây là loại xe do một ngựa kéo được bắt nguồn từ kiểu cỗ xe song mã sang trọng của Pháp được người dân miền Nam chế tác cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và địa hình của Việt Nam. Trước đó, người Pháp đã đưa xe ngựa vào Đông Dương làm phương tiện vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa. Người Pháp gọi xe ngựa ở thuộc địa là “Malabar” và sau này còn có tên “Boîte d’allumettes” vì hình dáng giống như một hộp diêm quẹt."

 

Bác tài đánh cổ xe ngựa được gọi là “xà ích”. Cảm giác của xà ích chông chênh khi đặt chân lên bàn đạp để trèo lên chiếc thổ mộ là cảm giác khó quên, vẫn còn đong đầy trong niềm nhớ. Nhất là tiếng vó câu lốc cốc, hay lọc cọc quyện cùng tiếng lục lạc đeo trên ngựa vang đều trên đường khuya vắng tạo ra thanh âm nhung nhớ ngày nào. Nếu đã có kỷ niệm với chiếc xe ngựa điển hình, hãy hình dung cái bờm ngựa lắc lư lưng tưng theo nhịp chân, ngắm cái vòng lục lạc kim loại lấp láng rung reo trên cổ ngựa. Cái cảm giác bâng khuâng ấy cộng thêm nỗi thích thú ngồi trên xe cao, hòa điệu cùng tiếng roi quất ngựa của bác xà ích “chát chat” (chắc sẽ làm cho mấy ông bà bảo vệ súc vật kém vui chăng ? hay mấy ông cao bồi viễn tây John Wayne, Gable hay Reagan nhăn mặt ?), rồi tiếng "hí - họ" của bác tài đánh cổ xe trong buổi chiều tà cuối ngày, hay trong buổi hừng đông đầu ngày. 

 

Thuở vàng son thịnh hành của loại xe di chuyển bình dân mộc mạc này bắt đầu vào những thập niên thế kỷ 20, khi hệ thống giao thông đường bộ đã được người Pháp xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Xe ngựa phát triển nhiều ở miền Đông Nam phần và vùng ven biển phía Nam Trung bộ đến Bà Rịa - Vũng Tàu… Thời Pháp thuộc, khu vực Gia Định - Sài Gòn - Chợ Lớn và các vùng phụ cận, phương tiện vận chuyển của người dân chủ yếu là xe ngựa. Xe hơi khi đó khá hiếm hoi, chỉ dành riêng cho giới thượng lưu. Thời đó, muốn hành nghề chạy xe ngựa phải được các quan chức địa phương chấp thuận và giới thiệu lên tòa hành chính tỉnh xin cấp cái giấy (nếu có đủ điều kiện làm xà ích) gọi là Permis de conduire pour voiture un cheval (giấy phép hành nghề dành cho xe độc mã) do chính quan đầu tỉnh ký. Tờ permis (permit, giấy phép) chạy xe ngựa, chứ không dễ dãi. Cái giấy phép lái xe thổ mộ (tilbury) này có giá trị suốt cả thời kỳ thực dân tây thuộc địa cai quản xứ ta. Xe ngựa về sau dưới dạng xe “cải tiến” (modified) đơn giản hơn còn được dùng trong hoạt động của quân đội viễn chinh Pháp tại thuộc địa Đông Dương. Loại xe này dùng để chuyên chở quân trang, quân dụng trong lực lượng võ trang của quân đội thuộc địa. Loại xe ngựa cầu kỳ hơn được dùng để chuyên chở hành khách là những viên chức thuộc địa và gia đình. Những chiếc xe này mang dáng dấp của loại xe song mã thường thấy tại Âu châu với xà ích là người bản xứ.

 

Như vậy, ngay trong thời kỳ thuộc địa giới lái xe người bản xứ cũng bị phân chia nhiều đẳng cấp tùy theo mức độ sang hèn của phương tiện: thấp nhất là phu xe kéo (còn được gọi là phu cu li), kế đến là xà ích bác tài xe ngựa) và cao nhất là tài xế xe hơi (chauffeur).

Đặc điểm của thời kỳ xe ngựa mới du nhập vào Đông Dương là loại song mã hay chỉ có một ngựa kéo. Riêng phần thân xe được đặt trên 4 bánh, hai bánh sau có đường kính lớn hơn hai bánh trước để giữ đối trọng với ngựa chạy phía trước, khác hẳn với xe ngựa do người Việt chế tạo chỉ với hai bánh.

 

Vùng Đập Đá thuộc tỉnh Bình Định vốn được mệnh danh là đất kinh đô các vương triều cũ, nổi tiếng với thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế cổ xưa. Qui Nhơn là vùng đất của người Champa, rồi của vua Quang Trung. Nơi đây xe ngựa chở khách đi chợ mỗi ngày thật nhộn nhịp huyên náo. Khi đô thị hóa văn minh hơn, nhưng xe cộ gắn dộng cơ chạy bằng xăng tiện lợi, đa dụng hơn đã đẩy lui xe ngựa vào dĩ vãng. Ngã ba ở thị trấn Đập Đá vang danh với cái tên Bến Xe Ngựa. Như vương vọng lại từ những ngày rêu phong xưa cũ, không biết là từ bao giờ, những sinh hoạt yêu dấu xưa nay từ từ biến mất, xe ngựa là điển hình. Ngay từ tờ mờ sáng tinh mơ hay vào buổi hoàng hôn chiều tà, những chuyến xe ngựa thồ chở hàng hóa, hành khách đi chợ, trẻ em đến trường học,… Xe gõ lộc cộc trên những con đường làng, trên lối mòn thành cũ, chốn xưa. Tiếng lục lạc kêu leng keng rung lên giữa làn sương mai tĩnh mịch, hay trong màu nắng chiều hôm phản chiếu trên thành Hoàng Đế là những kỷ niệm cho không gian tượng thanh tượng hình trong hồn thu thảo của người lữ khách mà làm sao quên được nhỉ? 

 

Quang Trung - Bắc Bình Dương Đại Đế

 

Bến Xe Ngựa Đập Đá vào ngày trước có hơn cả trăm xe thổ mộ thường xuyên đứng bến, phân lô xe chở khách, hàng hóa đi khắp nơi trong khu vực, nhất là người đi chợ tờ mờ từ sáng. Xe ngựa còn chăng chỉ vì một số xe do các xà ích luyến luyến với nghiệp cũ, với loài ngựa của hình ảnh xe ngựa mà thôi, xe vẫn gõ nhịp lốc cốc leng keng theo tình yêu của vị chủ nhân. Họ giữ nghề vừa để kiếm sống vừa lưu giữ lại cho mình một niềm đam mê chạy xe ngựa, một hoài niệm đáng yêu. 

 

Như đã tả cái thú ngồi xe ngựa là khi nghe tiếng vó ngựa khi xe lăn bánh kêu lốc cốc từ miếng vành sắt đóng dưới chân ngựa và chiếc xe đi chậm rãi, lắc lư theo một nhịp điệu thú vị, băng chầm chậm qua những cánh đồng bát ngát, qua những gò đồi hay một con dốc thoai thoải để thấy được chút vui rộn ràng trong lòng.

 

Về số khách thì trung bình mỗi một chiếc xe ngựa thông thường chỉ chở được 5 đến 6 người cùng với gồng gánh lỉnh kỉnh, thúng mủng, hay tất cả những gì mà xà ích định lượng theo sức ngựa có thể mang. Thật vậy, xe thổ mộ rất quan trọng trong việc chở hàng và chở người, vì các phương tiện giao thông đường bộ khi xưa chưa phát triển. Trên khắp nẻo đường dù là thị trấn hay làng quê dẫn ra chợ búa trong ngày, tiếng xe chạy vang âm lốc cốc trên mặt đường đều đều của vó ngựa, hòa với tiếng lục lạc vang leng keng, tiếng hô “hí họ” điều khiển ngựa của người xà ích... là những âm thanh của đời sống dân dã quen thuộc của nhiều thế hệ rồi.

Qua bao thăng trầm của cuộc sống, cùng với sự phát triển của kinh tế và giao thông, chiếc xe thổ mộ không còn nhìn thấy ở nhiều nơi như xưa nữa, kể cả những làng xã nơi thôn quê hẻo lánh. Có còn chăng có lẽ ở một vài nơi du lịch Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tàu,...

 

Ngày trước về thăm quê ngoại ở Vũng Tàu, anh em chúng tôi thường đi xe ngựa vui vui, ngựa chạy vang tiếng gõ nhịp, từ trên cao gió biển của Bãi Trước thổi vi vu mát rượi, chứng kiến ngựa làm vệ sinh, tiểu tiện hay đại tiện theo qui luật đời sống của sinh vật trên địa cầu. Phải nói là ngựa chạy mệt dưới cơn nắng hạn, ngựa toát nồ hôi, mồ hôi ngựa không kham nổi trong khứa giác của tôi, nhưng khi chúng mỏi mệt trông tội nghiệp, khi ngựa đuối sức chạy chậm xà ích vung roi quất chan chát khiến tim tôi đau nhói. Con vật cố ráng sức chạy nhanh hơn, tôi bâng quơ tự hỏi nếu con vật biết khóc, thôi thì kiếp sau nếu phải đầu thai trong cung Ngọ, hãy làm ngựa cho ông Thái tử Charles hay cho ông kép đẹp Ronald Reagan vậy. God bless...

 

Vua Napoléon Bonaparte và chiến mã Marengo

 

Ngược dòng thời gian vào những thập niên 40 và 50 là giai đoạn phát triển của xe thổ mộ tại miền Nam, điển hình như các vùng Hốc Môn và Bình Dương. Tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ hoạt động nhộn nhịp, có khi lên đến trên 40, 50 chiếc. Không chỉ vậy, Thủ Dầu Một còn có nhiều trại mộc đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe thiết kế đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc. Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe “Thùng Thủ” để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định “đẳng cấp” của địa phương vì phẩm chất. Để làm một chiếc xe thổ mộ đòi hỏi nhiều điều kiện nhiêu khê, khắt khe chứ không đơn giản như người ta tưởng. Tính toán sức nặng chịu đựng, kích thước về chiều dài, chiều rộng, chiều cao của thùng xe phải cân bằng khi di chuyển trên mọi địa thế. Thùng xe được đặt trên hai thanh nhíp gồm 4 lá thép để giảm độ sóc khi xe chạy trên mặt đường. Nói chung, từng chi tiết của xe phải chính xác để tạo sự an toàn khi xe chuyển động. Còn gỗ làm xe thổ mộ phải là loại tốt như loại gỗ Giáng Hương, Căm Xe, gỗ mít,... không bị mối mọt dễ hủy hoại. Quan trọng nhất là cặp bánh xe vì là phần chịu tải chính nên được làm rất cẩn thận, trục ngang của xe bằng ống thép chịu lực cho thùng xe nhưng lại không dùng bạc đạn mà chỉ có ổ trục. Mỗi bánh xe được ghép từ sáu mảnh gỗ gắn với 12 chiếc căm cắm vào trục bánh xe. Sau đó, một vòng sắt quấn quanh bánh xe để bảo vệ phần gỗ và cuối cùng một lớp nệm cao su được nịt chặt ở vòng ngoài. Hai vè bên thùng xe uốn gợn sóng có thể dùng để gác hàng hóa. Và trên cùng là cái mui uốn cong, lợp thiếc, nhô ra tới nửa mình ngựa, khum lại giống như mui chiếc ghe bầu nhưng cũng trông tựa như một cái vòm mả nên xe dược gọi là thổ mộ. Thùng xe được thiết kế thoáng mát, tạo sự thoải mái cho hành khách nhưng có vẻ hơi cao so với mặt đường trong khi chỉ có một miếng sắt để khách lên xuống xe. Đây cũng là điểm yếu của xe thổ mộ nhưng một số người lại thích ngồi vắt vẻo trên xe với hai chân thòng xuống đong đưa để ngắm nhìn đường phố. Bên trong thùng xe, khách ngồi trên chiếu đâu mặt nhau, guốc dép máng ở hai cọc sắt phía sau hai góc thùng. Nếu vắng thì khách ngồi thòng chân ra ngoài ở phía có bàn đạp lên xuống. Đã quá sá, hihi... 

 

Về sau, có đời xe (new generation) thổ mộ “tân tiến” hơn, được cải tiến từ bánh xe gỗ sang bánh xe bằng cao su bơm hơi với đường kính nhỏ hơn và do đó thùng xe cũng thấp hơn. Loại xe này giúp hành khách lên xuống thoải mái, an toàn. Khi chạy trên đường, lốp xe cao su êm hơn nhưng ngược lại, tiếng vang trên mặt dường của xe thổ mộ bớt khua đi khiến những người “hoài cổ vẻ hồn thu thảo” không còn tìm lại được cái thú vị trước đây như của ngày nào.

 

Ngựa kéo xe thổ mộ thường là những con ngựa đua đã có tuổi, ngựa về chiều về hưu, không còn đủ sức vẫy vùng trên đường đua nhưng vẫn còn sức già có thể di chuyển giữa lòng đường phố nhộn nhịp xe cộ để có cỏ ăn chứ lị! Bộ yên lưng bằng da có hai quai lồng vào hai càng xe đặt hai bên vai ngựa. Sợi yên lưng còn lồng vào đuôi ngựa để khi xuống dốc có tác dụng kềm ngựa. Lại còn có dây bụng nâng ngực ngựa khi xe chạy. Người xà ích đôi khi xếp khách ngồi dịch lên hoặc lùi xuống là để cho ngựa không bị sức nặng đè vai hoặc bó chặt ngực khó chạy.

 

 

Lucky Luke và Jolly Jumper

 

Như phần trên, theo tác giả Nguyễn Ngọc Chinh, khi bạn có dịp đọc truyện "Chiếc xe thổ mộ" do các ông bà Tuổi Hoa ấn hành, mà một thuở tôi nhịn ăn quà sáng để bụng đói meo vì cái thích thú "Con trai phải đọc sách”, ta mới thấy sự gắn bó thân thương giữa con  người, chủ nhân hay xà ích, và con ngựa kéo xe, ví dụ nhé:

 

“Bộ giây cương treo trước tầu ngựa đã lên nước bóng láng. Gần đó, phía bên trái, chiếc xe thổ mộ cũng đã đuợc lau chùi cẩn thận nằm dưới bóng râm mát của cây trứng cá. Chỉ còn có con Long mã nữa là xong. Long mã là tên của con ngựa. Nó cũng cần tắm rửa sạch sẽ. Bình mỉm cười khi nghĩ đến con ngựa. Nó đứng trong tầu, khuất sau mấy gióng gỗ, mớ lông đuôi nhịp nhàng phe phẩy. Bình nói với nó:

- Chờ một lát nữa nghe !

 

Long mã quay đầu lại hí nhẹ một tiếng, rồi vục mõm vào đống cỏ tươi trong góc chuồng.”...

 

Con Long mã già rồi. Nó đã 28 tuổi ngựa! Tuy vậy nó vẫn còn giữ được phong độ của loài ngựa đua: Cao, thon, bộ da nâu sậm đã hơi nhăn vì các thăn thịt không còn săn sái như hồi còn sung sức. Nhưng bộ gió nó vẫn còn, nhất là đôi mắt vẫn còn giữ nguyên vẻ tinh nhanh”.

 

Nhân vật Bình ở đoạn trích dẫn mới chỉ là cháu nội của cụ Lâm, người xà ích sống ở Ngã ba Ông Tạ, ngày ngày chạy xe thổ mộ đón khách dọc theo đường Lê Văn Duyệt đến chợ Hòa Hưng, chợ Chí Hòa, ga Hòa Hưng... Hồi còn trẻ, cụ Lâm là một tay đua “tuyệt phách”. Về già, hai ông cháu thui thủi sống bên nhau, lấy chiếc xe thổ mộ làm kế sinh nhai.

 

Long Mã đã từng đoạt giải Quốc Khánh 1957, giải Mùa Xuân 1957 và giải Trung Thu 1958 tại trường đua Phú Thọ: “Con Long mã nom thật oai vệ. Bộ lông của nó đã được Bình chải chuốt, óng đỏ dưới ánh nắng dịu. Trên đầu của nó được trang điểm thêm một chùm lông trĩ đứng ngộ nghĩnh giữa hai chiếc tai vểnh nhọn, nom như chiếc mão của một võ tướng thời xưa!”

 

Hai ông cháu sống vào thời kỳ suy tàn của xe thổ mộ trước sự ra đời ồ ạt của xe xích lô, nhất là cyclo máy, đang đánh dạt xe thổ mộ ra vùng ngoại ô. Và cuộc chiến thầm lặng giữa thổ mộ và cyclo đang đi dần đến hồi kết cuộc."

 

Nói tóm lại để kết thúc đề tài "Năm Giáp Ngọ kể chuyện xe thổ mộ", tựu trung, ngựa là loài vật có ích lợi cho cuộc sống con người,và không chỉ tập trung tại khu vực Sài Gòn và Gia Định vào thời chưa có nhiều xe cộ cho phương tiện chuyên chở công cộng, xe thổ mộ còn lan tỏa ra các tỉnh thành từ miền Trung vào phía Nam nhằm đáp ứng việc đi lại trong vùng, do nhu cầu chợ búa, mua sắm, thăm viếng, đi học,... người ta có khuynh hướng yêu chuộng và lựa chọn xe ngựa vì đặc tính tiện lợi và rẻ tiền của nó. Người ta có thể lên và xuống xe tại bất cứ chỗ nào mà không cần trạm nhất dịnh, nên xe thổ mộ gắn bó mật thiết với nếp sống xưa của người bình dân. Đây cũng là nét văn hóa dộc đáo và lịch sử của các tỉnh thành miền Nam tư do hay đất nước Việt Nam Cộng Hòa nói chung và thủ đô Sài Gòn cùng Gia Đinh, cũng như các vùng phụ cận nói riêng.

 

Với một thoáng qua buồn man mác, suy tư mông lung bâng khuâng khi hình dung về hình ảnh hay nỗi niềm nhung nhớ nét đáng yêu của chiếc xe thổ mộ ngày xưa. Một nỗi buồn khôn cùng vì văn hóa xe thổ mộ đã chìm vào dĩ vãng, trong ký ức cũ, trong hoài niệm nhớ nhung dối với những ai mang nỗi lòng hoài cổ như trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan,

 

"Tạo hóa gây chi cuộc hý trường

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương"

 

Hay qua thơ của thi sĩ Lê Minh Quốc:

 

“Tôi không còn là tôi. Tôi trở thành ai đó

Những cuộc tình như trưa nắng lao xao

Xe thổ mộ ngỡ ngàng quanh chợ huyện

Chở tôi về nhưng tôi biết về đâu?...

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

 
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account