CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Văn Biên Khảo Nhớ Công Ơn Thầy

Nhớ Công Ơn Thầy

E-mail Print
User Rating: / 1
PoorBest 

 

 

              

Từ khi người Trung Hoa đặt nền đô hộ trên đất nước ta, họ đã nghĩ ngay đến việc cho du nhập nền văn hoá Trung Hoa vào xã hội Việt Nam, trước tiên là để đào tạo lớp quan lại bản xứ giúp họ trong công việc cai trị. "Tổ tiên ta bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu đời Bắc thuộc (111 trước Tây lịch), mà có lẽ từ đời Triệu Đà (207-137 trước Tây lịch) nữa, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ đời Sĩ Nhiếp (187-226 )” (1).

 

Trong hơn 1000 năm bị Trung Hoa đô hộ (111 trước Tây lịch - 938 sau Tây lịch) người Việt Nam buộc phải học chữ Tàu đã đành, ngay trong suốt cả ngót ngàn năm quốc gia độc lập (939-1918), người Việt Nam hoàn toàn học theo sách vở của người Tàu. Ta xem chữ Hán, còn gọi là chữ Nho tức thứ chữ quảng bá nền văn minh Nho giáo, được dân ta chấp nhận viết như người Trung Hoa và phát âm theo cách của người Việt Nam, và ta đã xem thứ chữ ấy là chữ của mình và đã gọi chữ Hán là chữ Ta (tức là chữ của ta, của mình).

 

Chữ Nho dùng để dạy đạo đức luân lý của thánh hiền, của các bậc tiên Thánh như Khổng Tử, Mạnh Tử, của các bậc tiên Nho như Chu Hy, Trình Hạo, Trình Xuyên v.v. . . Sách học gồm có Tứ Thư (Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung), Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu), bách gia chư tử...Thế nên ông cha ta ngày xưa vẫn xem trọng chữ Nho, được xem là thứ chữ của thánh hiền:

                                   

Một chữ ông Thánh bằng gánh vàng.

           

Sở dĩ chữ thánh hiền quý như vậy không phải chỉ vì nó là thứ chữ truyền bá đạo Nho là đạo của thánh hiền mà còn là vì "Duy từ khi nước ta tự chủ (939) cho đến khi nước Pháp sang bảo hộ, thì trong khoảng 9 thế kỷ ấy, triều đình vẫn lấy chữ Nho làm quốc gia văn tự: các luật lệ, dụ chỉ của nhà vua, công văn, án từ của các quan, việc học, việc thi đều dùng chữ Nho cả. Trong dân gian, các khế ước, chúc thư, khoán lệ, sổ sách cũng dùng chữ Nho." (2), và lẽ đương nhiên, con đường tiến thân duy nhất của người xưa là phải qua con đường khoa cử bằng chữ Nho. Cứ xem vua Lê Hiến Tông (1497-1504) đã sắc dụ cho Lễ bộ thượng thư Vũ Hữu thì đủ biết: "Nhân tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí mạnh thì đạo trị nước mới thịnh. Khoa mục là con đường chính của người làm quan, đường chính mở thì chân nho mới xuất hiện." (3)

 

Sau khi nước nhà được hoàn toàn độc lập (939), các triều đại đầu tiên quá ngắn ngủi (nhà Ngô, 939-965, nhà Đinh, 968-980, nhà Tiền Lê, 980-1009), phần lo chống lại nạn tái xâm lăng của giặc Tàu ở phương Bắc, nạn quấy phá của người Chàm ở phương Nam, lại còn phải đối phó với nạn nội chiến tranh quyền đoạt vị nên việc học hành thi cử hầu như không được chú trọng. Việc dạy chữ nghĩa phần lớn là do nhà chùa đảm nhận. Nhân tài giúp nước chống ngoại xâm hay phò tá cho các triều đại đầu tiên phần lớn xuất thân từ cửa Thiền như Nguyễn Đổng Chi đã viết trong Việt Nam Cổ Văn Học Sử: "Một vài đạo viện vừa là chỗ tu hành, vừa là nơi học tập đã sản xuất được số đông nhà thơ nhà văn, trong số đó có nhiều nhân tài ra giúp việc nội chính cùng việc ngoại giao cho triều đình" (4). Phải đợi đến khi nhà Lý (1010-1225) thiết lập triều chính được tương đối vững vàng, vua Lý Thánh Tông (1054-1072) mới cho lập Văn miếu vào năm canh tuất (1070) để thờ Khổng Tử và các bậc tiền hiền, Nho giáo từ đây mới bắt đầu hưng khởi. Đến năm ất mão (1075), vua Lý Nhân Tông (1072-1127) mới cho mở khoa thi đầu tiên gọi là khoa thi tam trường để lấy người có học thức ra làm quan và năm bính thìn (1076) cho lập Quốc Tử Giám để đào tạo nhân tài. Vậy là từ đây chỉ có những người xuất thân từ khoa cử mới có thể bước chân vào hoạn lộ.

 

Triều đình còn chuộng thi, thư

                        Khuyên chàng đèn sách, sớm trưa học hành

 

Bởi vì khoa cử là con đường duy nhất để cho giới nam nhi lập thân, lập nghiệp, thế nên dân ta vẫn quan niệm phải để chữ cho con để con tìm đường tiến thân:

           

Một kho vàng không bằng một nang chữ.

 

Ngay trong sách giáo khoa xưa dạy cho các lớp sơ học cũng đã có câu :

           

Di tử kim mãn doanh

                        Hà như giáo nhất kinh

                        (Để cho con đầy một rương vàng

                        Sao bằng dạy cho con một quyển sách)

 

Chữ nghĩa thánh hiền quả là chiếc chìa khóa mở ra mọi ngõ ngách của sự thành công . Nó đào tạo nên một lớp nhà Nho hữu ích cho xã hội. Bởi lẽ, "…các nhà Nho đều có một tư cách và một chí hướng chung, đều muốn bồi đắp cho cương thường, giữ gìn lấy chính giáo, hoặc lấy sự nghiệp mà giúp vua, giúp dân hoặc lấy phẩm hạnh mà làm mẫu mực cho người đời, hoặc lấy giáo hóa mà tác thành bọn hậu tiến, nên đều được xã hội tôn trọng, dù chẳng được triều đình ban cho chức tước bổng lộc, cũng được dân chúng quý mến phục tòng" (5)

 

Thế nên, người con trai lúc nào cũng phải lo việc dùi mài kinh sử để tạo cho mình một tương lai tươi sáng :

 

Trai thì đọc sách ngâm thơ

Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa

Mai sau nối được nghiệp nhà

Trước là đẹp mặt, sau là ấm thân

 

Hay:    Học trò đèn sách hôm mai

Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào

Làm nên quan thấp quan cao

Làm nên lọng tía, võng đào nghênh ngang

           

Hay:    Học hành thì ích vào thân

                        Chức cao quyền trọng dần dần theo sau.

 

Ngay cả trong tình yêu và hôn nhân, người có chữ thánh hiền vẫn chiếm thế thượng phong, vẫn được coi trọng hơn những giới khác kể cả những kẻ giàu có "ruộng sâu trâu nái", "tiền vạn, bạc muôn" :

           

Chẳng tham ruộng cả, ao liền

                        Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ.

 

Hay:    Chẳng tham vựa lúa anh đầy

Tham năm ba chữ cho tầy thế gian

 

Hay:    Đêm nằm nghĩ lại mà coi

Lấy chồng hay chữ như soi gương vàng

 

Người hay chữ được xem là chỗ dựa vững chắc của gia đình:

           

Đôi bên bác mẹ cùng già

                        Cậy anh hay chữ để mà cậy trông

 

Tục ngữ ta có câu "không thầy đố mầy làm nên". Vậy là, muốn hay chữ thì phải tìm thầy để học:

 

Dốt kia thì phải cậy thầy

                        Vụng kia cậy thợ thì mầy làm nên.

 

Dốt nát tìm thầy

                        Bóng bầy tìm thợ.

 

Trong suốt thời kỳ Nho học ngự trị nền giáo dục Việt Nam, tức từ khi nhà Lý cho mở trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long vào năm 1076 cho đến khoa thi cuối cùng do triều đình nhà Nguyễn tổ chức vào năm 1918, triều đình chỉ cho mở trường học đến cấp huyện, cấp phủ và chỉ đảm trách việc dạy cho các sĩ tử sắp bắt đầu lều chõng đi thi. Vả lại, triều đình cũng không hề hạn chế việc mở trường dạy học. Thế nên, "trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do, từ bậc tiểu học đến đại học, nhân dân tự lo liệu lấy" (6). Trong tác phẩm Việt Nam Phong Tục, Bưu Văn Phan Kế Bính cũng đã xác nhận: "Ta trước đây không có hương học, nhưng làng nào cũng có năm ba trường học tư của các thầy đồ, thầy khóa và của các ông Cử, ông Tú ngồi nhà mở ra, gọi là trường tư thục" (7).

 

Vậy là việc học ngày xưa phần lớn thường do tư nhân đảm trách. Thầy dạy chữ Nho thường được gọi là thầy Khóa hay thầy Đồ. Chữ khóa do chữ khóa sinh tức học trò thi. Chữ đồ là do chữ "sinh đồ" tức là người đã thi đỗ sinh đồ. Trước đời Gia Long (1802-1819), những người đỗ tú tài gọi là đỗ sinh đồ. Sinh đồ là học vị thấp nhất trong nấc thang khoa cử ngày xưa. Những người chỉ đỗ sinh đồ thì vẫn chưa được bổ dụng làm quan, ngoại trừ những người được tập ấm tức là những con cái của các quan lại của triều đình. Do đó, trong khoảng thời gian chờ khoa thi sau, thường kéo dài từ 3 năm đến 6 năm tùy theo cách thức tổ chức thi cử của mỗi triều đại, các thầy khóa hay các thầy đồ thường mở lớp học tại nhà, hoặc đôi khi đến một địa phương giàu có để mở lớp dạy học. Thực ra, các thầy khóa hay thầy đồ chỉ dạy các lớp sơ tập, còn các lớp trung tập và đại tập phải do các ông cử (cử nhân), ông nghè ( tiến sĩ) đảm trách. Các ông cử, ông nghè nầy có thể là các quan chức ngành giáo dục giữ các chức vụ như Đốc học ở tỉnh hay Huấn đạo, Giáo thụ ở phủ, huyện. Ngoài ra, cũng có các người đỗ đạt cao nhưng lại không muốn xuất chính mà chỉ ở nhà mở trường dạy học như trường hợp nhà giáo dục Chu Văn An ( ? – 1370), một danh sĩ đời nhà Trần, sau khi thi đỗ thái học sinh (tức tiến sĩ) đã không tham chính mà ở nhà mở trường dạy học và đã đào tạo nhiều môn sinh nổi tiếng như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh... hoặc là các vị hưu quan cũng có thể mở trường dạy học ở ngay làng xã mình theo đúng với quan niệm "tiến vi quan, đạt vi sư" (khi đã đỗ thì ra làm quan, khi đã hoàn thành sứ mạng thì về hưu mở trường làm thầy dạy học).

 

Học trò của những vị nầy thường là những học trò đã trưởng thành, hoặc hỏng thi hương hoặc hỏng thi hội. Họ thường đến đây để ôn tập bài vở, để học những kinh nghiệm khoa trường của các bậc khoa bảng đàn anh.

 

Ông thầy giữ vai trò của những người đào tạo nhân tài cho đất nước quả đúng như lời đề cao của người xưa đối với vai trò của ông thầy trong tiến trình xây dựng đất nước: "lương sư hưng quốc" ( những nhà giáo dục có đủ tài đức luôn tạo nên sự hưng thịnh cho quốc gia tức là đào tạo nhân tài). Chúng ta có thể kể tên những vị lương sư mà tên tuổi còn ghi trong sử sách. Chẳng han:

 

Ở ngoài Bắc có Phạm Văn Nghị (1805-1881), người làng Tam Đăng, Nam Định, nhà nghèo, chí khí cao, thi đỗ hoàng giáp năm 33 tuổi nên thường được gọi là Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị. Ông đã từng chiêu mộ nghĩa sĩ nhằm giúp triều đình chống lại bước đầu xâm lăng của thực dân Pháp từ năm 1873-1874. Chính tinh thần và hành động ái quốc này của Phạm Văn Nghị đã có tác động mạnh và ảnh hưởng quyết định đến tinh thần yêu nước của đám sĩ tử của ông. Môn đệ của ông nhiều người nổi tiếng và được ghi tên trong sử sách như Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909), Tam nguyên Vị xuyên Trần Bích San (1840-1878), các lãnh tụ kháng Pháp nổi tiếng như Tống Duy Tân (1837-1892) lãnh tụ Cần vương ở Thanh Hóa, Đinh Công Tráng (1842-1887) với chiến khu Ba Đình, Nguyễn Cao (1828-1887), Vũ Hữu Lợi (1836-1884), Lã Xuân Oai...

 

Ở trong Nam có Võ Trường Toản ( ? – 1792), người tỉnh Gia Định "khi Tây Sơn dấy binh, cụ ở ẩn dạy học. Nhiều danh thần triều Gia Long như Ngô Tòng Châu, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh đều là học trò cụ. Hơn nữa, chính cụ đã gây nên cái học phong sĩ khí cho những thế hệ sau tốt đẹp.

 

"Từ những học trò đỗ cao, quan sang, cho đến những người như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị sở dĩ đã giữ tròn tiết tháo cơn nước nhà bị xâm lăng, đều là người có chịu ảnh hưởng của cụ" (8).

 

Ngoài các lớp học của các thầy đồ hay của các vị hưu quan, các nhà giàu có hay các vị quan lại bận công vụ thường mời thầy về nhà để dạy cho con cháu của mình:

 

Con cậu cậu nuôi thầy cho

                        Cháu cậu cậu bắt chăn bò, chăn trâu

 

. . .Vinh quy bái tổ về nhà

                        Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy.

 

Ông thầy giữ một địa vị quan trọng trong xã hội xưa. Dân tộc ta luôn nêu cao truyền thống "tôn sư trọng đạo", luôn luôn nêu cao quan niệm "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" (một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy) với một tấm lòng trân trọng biết ơn và tôn kính người thầy:

 

Một chữ nên thầy,

Một ngày nên nghĩa

 

Bởi lẽ, chẳng những ông thầy là một nhà giáo dục, ông thầy còn đóng vai trò của một nhà mô phạm, một nhà đạo đức. "Ông thầy đời xưa dạy học trò chẳng những bằng sách mà còn bằng người, nghĩa là ông thầy lấy chính mình làm khuôn phép cho học trò noi theo. . ." (9)

 

Dạy con từ thuở tiểu sinh

                        Gần thầy, gần bạn tập tành lễ nghi. . .

 

Người xưa vẫn quan niệm "tiên học lễ, hậu học văn" (trước tiên là học lễ nghĩa, sau đó mới học chữ nghĩa, văn chương).

 

Những giềng mối trong xã hội xưa được quy vào "ngũ luân", đó là những mối liên hệ giữa: quân-thần (vua-tôi), phụ-tử (cha-con), phu-phụ (chồng-vợ), huynh-đệ (anh-em) và bằng hữu (bạn bè).

 

Tuy ông thầy chỉ được sắp vào mối liên hệ "bằng hữu", nhưng trên một phương diện khác, ông thầy lại được sắp xếp theo một thứ bậc quan trọng hơn nhiều, đó là quan niệm "Quân-Sư-Phụ" (Vua, Thầy học, Cha). Vai trò của ông thầy đứng sau vua nhưng quan trọng hơn người cha. Chính trong sách Hiếu Kinh - một bộ sách chép những lời đức Khổng Tử nói với thầy Tăng Tử về đạo Hiếu - cũng từng dạy : "Dân sinh ư tam sự chi như nhất" có nghĩa là : "Người ta đối với ba đấng đều phải phụng thờ như một", ba đấng đây là chỉ Vua-Thầy-Cha.

 

Sở dĩ ông thầy được tôn trọng như vậy là vì, theo quan niệm của người xưa, cha mẹ chỉ lo nuôi con, còn việc dạy dỗ con nên người, làm nên sự nghiệp lại là công lao chính của ông thầy :

 

Ngày nào em bé cỏn con

Bây giờ em đã lớn khôn thế nầy

Cơm cha, áo mẹ, công thầy

Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao

 

Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy

Gắng công mà học có ngày thành danh

 

Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy

Khuyên con lo học cho tày người ta

 

Trong tác phẩm "Nếp Cũ : Con Người Việt Nam", nhà biên khảo Toan Ánh cũng đã viết : "Việc học hành của con cái, cha mẹ tin cậy hoàn toàn ở ông đồ. Nhiều học trò chỉ theo học một ông đồ từ lúc vỡ lòng cho đến khi thi. . . Tình thầy trò thật khăng khít như tình cha con, và sự thân mật nầy đem lại sự thâm giao giữa ông đồ và phụ huynh học sinh trong một tình thân ái mật thiết. . ." (10).

 

Muốn sang thì bắc phù kiều

Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

 

Có lúc vì cực khổ quá, bần bách quá, con người đâm ra liều lĩnh mà nói quàng nói xiên :

 

Khó thì hết thảo, hết ngay

                        Công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng vong

 

Hoặc đôi khi cũng có những những ông thầy không giữ được tư cách của mình mà làm điều không hay gây tai tiếng, làm mất niềm tin:

 

Cả làng có một ông đồ

Dạy học thì ít, mò cua thì nhiều

Thương thầy trò cũng muốn theo

Trò sợ thầy nghèo bán cả trò đi.

 

Chứ thực ra, đối với người xưa, cái nghĩa thầy trò nặng lắm, dù là đối với thầy dạy chữ hay thầy dạy nghề :

 

Gươm vàng rớt xuống hồ Tây

Công cha cũng trọng, nghĩa thầy cũng sâu

 

Học trò phải quý mến thầy, phải tôn trọng ông thầy theo cái lẽ "tôn sư trọng đạo" (kính trọng thầy và tôn trọng đạo đức).

 

"Học trò khi mới vào học gọi là nhập môn, phải kiếm buồng cau lạy yết kiến thầy hai lạy. Lúc học gặp khi mồng năm ngày Tết như tết Nguyên Đán, tết Thanh Minh, tết Đoan dương, tết Trung thu mùa nào thức ấy, hoặc cặp gà thúng gạo, hoặc đường mứt bámh trái, hoặc năm ba quan tiền, tùy tình đa thiểu mà đem đến lễ thầy.

 

Khi nhà thầy có việc, hoặc việc hiếu, hoặc việc hỉ, hoặc khi có kỵ, học trò cũng kiếm lễ vật đến lễ và giúp dập công việc cho nhà thầy" (11).

 

Mồng một tết cha,

Mồng ba tết thầy

 

Mồng một thì ở nhà cha,

Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy

 

"Ngày mồng ba, học trò dù đã lớn tuổi, dù đã chức trọng quyền cao cũng đến bái niên thầy học và lễ gia tiên" (12).

 

Ngay cả những vị đạt quan, dù đỗ đạt cao và đang giữ những trọng trách trong triều đình, thậm chí cả những vị hoàng đế đang tại vị, cũng không xao lãng việc thăm viếng thầy học cũ để tỏ lòng biết ơn đã đào tạo mình nên người.

 

Có câu chuyện kể rằng, khi còn ở ngôi thái tử, vua Lê Hiến Tông (1497-1504) được sự dạy dỗ của quan Quốc tử giám Tư nghiệp Nguyễn Bảo. Nguyễn Bảo người Thái Bình, nhà nghèo, học giỏi. Năm 20 tuổi đã đỗ tiến sĩ. Nguyễn Bảo được xem là một vị thầy mẫu mực, một vị quan thanh liêm, được dân chúng và bạn đồng liêu ngưỡng phục. Lê Hiến Tông ở ngôi chưa được bao lâu thì quan thượng thư Nguyễn Bảo xin về trí sĩ, sống đời dân giả đạm bạc. Có lần Hiến Tông cùng vài vị cận thần vi hành đến thăm thầy học Nguyễn Bảo. Thầy phủ phục lạy vua nhưng nhà vua đã nhanh chóng đỡ thầy dậy và xin thầy cứ xem mình như người học trò nhỏ ngày xưa của thầy. Quả đây là một tấm gương "tôn sư trọng đạo" quý giá cho mọi người chúng ta (13).

 

Ông thầy luôn được tôn trọng và bênh vực. Điều 489 bộ luật Hồng Đức ghi: “Học trò, người dân mà đánh mắng, lăng mạ thầy, thì xử tội nặng hơn đánh mắng dân chúng 3 bậc. Đánh chết thầy thì bị tội chém bêu đầu, làm gương cho kẻ coi thường đạo lý thầy trò.””

 

Như ở trên chúng ta đã thấy, người xưa vẫn xem ông thầy như một tấm gương về đạo lý cho con em noi theo, thế nên, muốn trở thành ông thầy thì trước tiên mình phải biết tôn trọng thầy học của mình - sự tôn trọng nầy phải được biểu lộ bằng những hình thức cụ thể như ở trên đã lược qua.

 

Trong những thời kỳ nho học cực thịnh, khi thầy mãn phần, học trò phải để tang thầy ba năm. Những học trò được thầy và bạn học tín nhiệm cử làm trưởng tràng thì khi thầy chết, học trò phải chung nhau làm một căn nhà nhỏ bên mộ thầy để anh trưởng tràng lo hương khói nếu thầy không có con trai lo việc tế tự:

 

Có thờ thầy mới được làm thầy.

 

Tóm lai, vai trò của ông thầy trong xã hội thật quan trọng. Nhất là trong xã hội Nho giáo, lấy luân lý đạo đức làm nền tảng giáo dục, vai trò của ông thầy lại càng quan trọng hơn. Làm con phải nhớ công ơn cha mẹ, làm học trò phải nhớ đến công ơn của thầy học. Đó là một bổn phận, đó cũng là một nghĩa vụ:

 

Mẹ cha công đức sinh thành

Ra trường thầy dạy học hành cho hay

Muốn khôn thì phải có thầy

Không thầy dạy dỗ đố mầy làm nên

Mười năm luyện tập sách đèn

Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy

Yêu kính thầy mới làm thầy

Những phường bội bạc sau nầy ra chi !

 

Trên đây là một bài học luân lý mà nhân dân Việt Nam đã truyền dạy cho nhau từ nhiều đời nay và đối với chúng ta ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

 

 

ĐÀO ĐỨC NHUẬN

 

 

Ghi chú:

(1) Đào Duy Anh - Việt Nam Văn Hóa Sử Cương - trang 254.

(2) Dương Quảng Hàm - Việt Nam Văn Học Sử Yếu - trang 73.

(3) Ngô Sỹ Liên - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư -Viện Việt Học - trang 527

(4) Nguyễn Đổng Chi - Việt Nam Cổ Văn Học Sử - Phủ QVK - tr. 96

(5) Dương Quảng Hàm - Việt Nam Văn Học Sử Yếu - trang 80.

(6) Đào Duy Anh - Việt Nam Văn Hóa Sử Cương - trang 258.

(7) Phan Kế Bính - Việt Nam Phong Tục - trang 122.

(8) Nam Xuân Thọ - Võ Trường Toản, Tân Việt, trang 5

(9) Phan Khôi - Thầy Trò Đời Nay Và Thầy Trò Đời Xưa, trích lại trong "13 Năm   Tranh Luận Văn Học" của Thanh Lãng, quyển 3, trang 90.

(10) Toan Ánh - Nếp Cũ : Con Người Việt Nam - trang 80

(11) Phan Kế Bính - Việt Nam Phong Tục - trang 154

(12) Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu - Đất Lề Quê Thói - trang 307

(13) Theo Trần Thế Linh - Gương Sáng Người Xưa, Thanh Niên, 2002, tr. 232

 

 

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Thursday, 11 July 2013 10:50 )  
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account