CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Văn Biên Khảo KÝ SỰ DU LỊCH HẠ UY DI

KÝ SỰ DU LỊCH HẠ UY DI

E-mail Print
User Rating: / 13
PoorBest 

Dương Viết Điền

AAAha uy di[1] 

 

Chiếc máy bay hãng hàng không ATA chở khoảng 150 hành khách cất cánh từ phi trường Los Angeles lúc 08giờ 15 sáng, giờ California, và hạ cánh tại phi trường Honolulu lúc 11giờ 15, giờ Hạ uy di, sáng ngày 26 tháng 08 năm 2006, tương đương với giờ bay từ phi trường Los Angeles sang phi trường Kennedy ở Newyork.

Chúng tôi sắp hàng nối đuôi nhau để ra lấy hành lý và thuê xe về khách sạn nghỉ ngơi chuẩn bị ngày mai đi xem danh lam thắng cảnh của đảo Hạ Uy Di mà mấy chục năm nay đã từng mơ ước.

Nói là đi du lịch trên đảo Hạ Uy Di (Hawaii) nhưng thực ra chúng tôi chỉ đi xem danh lam thắng cảnh trên một hòn đảo nằm trong tiểu bang Hawaii mà thôi.

Trước khi đi chúng tôi được phòng du lịch phát cho một số tài liệu liên quan đến những địa điểm du lịch để xem trước ngõ hầu khỏi bỡ ngỡ. Đọc những tài liệu của phòng du lịch cung cấp chúng tôi mới biết rằng Hawaii trở thành tiểu bang thứ 50 của Hoa kỳ vào ngày 21 tháng 08 năm 1959. Hawaii nằm ở phía bắc Thái bình dương cách lục địa 2,300 miles.

Về phương diện địa lý, vùng biển Hawaii gồm tất cả 19 đảo nằm rải rác trên một khoảng cách dài 1,500 miles. Trong số những đảo này chỉ có 08 đảo lớn nằm ở phía đông nam của vùng biển theo thứ tự từ tây bắc đến đông nam.

Đó là các đảo Niihau (Ni ‘ihau), Kauai (Kaua‘i), Oahu (O‘ahu), Molokai (Moloka‘i), Lanai (Lãna‘i), Kahoolawe (Kaho‘olawe), Maui (Maui), và Hawaii (Hawai ‘i). Đảo Hawaii là đảo lớn nhất nên dân Hawaii thường gọi là “Big Island” hay là “Big Isle” để phân biệt với Hawaii là tiểu bang gồm tất cả các đảo nói trên.  

Theo tiếng Anh địa phương, chữ Hawaii có 3 cách phát âm:

[He.’wai.ji], [He.’wai.i], [He.’wai.?i].

Theo ngôn ngữ của người Hạ uy di, có thể cũng có nhiều cách phát âm khác, nhưng cách phát âm chung thường dùng nhất là [He.wai.?i]. Gần 800 năm, dân Hạ uy di sống trong một xã hội đẳng cấp phức tạp do các tộc trưởng cai trị và có một nền tôn giáo rất khắt khe gọi là hệ thống Kapu.

Nhà thám hiểm người Anh tên là James Cook đã có một dịp may vào được quần đảo Hawaii vào năm 1778 nên ông ta biết được rất nhiều vấn đề liên quan đến quần đảo này.

Nhờ vậy người ta đã biết được lịch sử cũng như về địa lý của quần đảo này qua một số tác phẩm ông ta để lại.

Tất cả các đảo nằm trong quần đảo Hawaii do núi lửa tạo thành. Các núi lửa này phun ra từ các chất nhão ở các điểm nóng dưới lòng biển cả theo học thuyết về địa chất học.

Núi lửa xuất hiện cuối cùng ở ngoài đảo lớn (Big island) xảy ra tại Haleakala trên đảo Maui vào cuối thế kỷ thứ 18. Núi lửa xuất hiện mới nhất của quần đảo này là Loihi Seamount, sâu dưới nước ở ngoài khơi bờ biển phía Nam của Big island. Sự họat động của núi lửa và sự xói mòn sau này tạo nên những nét đặc trưng về địa chất của quần đảo này. Đảo Big island này được coi như là một trong những đảo cao nhất thế giới.

Vì quần đảo do núi lửa tạo thành nên người ta nói rằng cuộc sống dân bản xứ gắn liền với 3 chữ “W”. Đó là: wind (gió), waves (sóng), wings (cánh). Vì bị cô lập giữa Thái bình dương nên hệ thực vật cũng như hệ động vật đều bị thu hẹp.

Mặc dầu hải đảo này gắn liền với gió, với sóng, với núi lửa triền miên như vậy nhưng sau nầy, núi lửa đã ngưng, chỉ còn sóng biển dạt dào quanh năm suốt tháng thật dịu hiền và tỉnh lặng, với biết bao thắng cảnh đẹp tuyệt trần nên Hawaii được mệnh danh là thiên đường hạ giới. Thảo nào văn sĩ nổi tiếng Mark Twain gọi Hawaii là vùng đất thanh bình. Đã là nơi thanh bình thì du khách đến tham quan càng ngày càng đông vì đất lành thì chim đậu.

                            

Về lịch sử của đảo Hawaii có rất nhiều giả thuyết.Theo các nhà nhân chủng học, dân Polynesians đến từ các quần đảo MARQUESAS trở thành cư dân đầu tiên của xứ Hạ uy di nầy khoảng thời gian sau công nguyên 300-500 năm, mặc dầu những bằng chứng mới đây cho thấy dân Polynesian đến định cư trước tiên vào khoảng sau công nguyên 800-1000 năm.

 

 HUD 1

 (Hình trích từ Wikipedia)

 

Trên đây là lá cờ của tiểu bang Hạ uy di.

 

Theo các cư dân Marquesa và Tahiti đến lập nghiệp lâu đời ở đây, vào khoảng năm 1300, họ là những người chiếm cứ đảo này sau khi đánh tan cư dân sống trên đảo, như trong các chuyện thần thoại Hawaiiloa, Paao, của dân tộc Hạ uy di.

Người ta vẫn không giải thích được rằng trong nhiều thế kỷ, việc đi lại giữa Hạ uy di và phía Nam Thái bình dương đã dừng lại trước khi những người dân Âu châu ghé đảo này .

Các tộc trưởng địa phương ở trên quần đảo Hạ uy di nầy lúc bấy giờ được gọi là alii. Họ cai trị và lãnh đạo cư dân, cũng như chiến đấu để bảo vệ bộ tộc họ khỏi bị các bộ tộc khác cướp bóc.

Theo những sử liệu không được rõ ràng của các nhà thám hiểm Âu châu, người ngoại quốc đầu tiên ghé đảo Hạ uy di là nhà một thám hiểm người Anh, thuyền trưởng James Cook. Các sử gia đã tin tưởng vào thuyền trưởng James Cook khi ông ta là người đầu tiên đã vẽ sơ đồ và cho xuất bản những tác phẩm liên quan đến địa lý của đảo Hạ uy di.

Ông Cook đặt tên cho quần đảo mà ông ta khám phá là những đảo Sandwich để biểu dương một nhân vật bảo trợ ông ta là John Montagu và đặt địa danh bản xứ này là Owyhee. Chuyện huyền thoại của dân Hạ uy di đã xác nhận cuộc viếng thăm của ông James Cook và gọi ông Cook là một người đàn ông có nước da tốt, the god Lono.

Dân Hạ uy di tin rằng Ông James Cook là người khách viếng thăm đảo Hạ uy di trong truyện cổ tích thần thoại của họ.

Cũng có thể rằng những tàu, thuyền của Bồ đào nha và Tây ba nha trước đây cũng đã ghé thăm đảo này mới có câu chuyện ông Lono, người đàn ông có nước da tốt, đã hứa sẽ trở lại thăm đảo.

 HUD 2

 (Hình trích từ Wikipedia)

 

Trên đây là khuôn dấu của tiểu bang Hạ uy di.

Sau các cuộc chiến tranh xảy ra rồi chấm dứt vào năm 1795 và sự nhượng bộ đảo KAUAI năm1810, lần đầu tiên các quần đảo Hạ uy di đã được thống nhất dưới sự lãnh đạo duy nhất của vua KAMEHAMEHA.

Vị vua nầy đã thiết lập triều      đại KAMEHAMEHA, rồi dòng họ này thay nhau cai trị đất nước cho đến năm 1872 thì chấm dứt, khi vị vua độc thân cuối cùng là KAMEHAMEHA đệ ngũ qua đời. Vì không có ai nối ngôi nên một cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức và bầu ông LUNALILO lên làm vua. Sau vua LUNALILO là vua KALAKAUA. Vua KALAKAUA trị vì đất nước đến năm 1891 thì băng hà. Năm 1887, một nhóm phú thương Âu-Mỹ lấy cớ nhà vua cai trị sai lầm đã ép vua KALAKAUA ký một bản hiến pháp có cái tên là “ Hiến Pháp Lưỡi Lê” để tước đoạt quyền hành nhà vua và hủy bỏ quyền bầu phiếu đối với người Á châu.

Vua KALAKAUA thấy bản hiến pháp này làm quyền hành ông ta trở nên vô dụng nên đã ký một bản hiến pháp tước bỏ quyền hành của chế độ quân chủ thay vào đó một nền hành chánh do cơ quan lập pháp kiểm soát. Sau khi vua KALAKAUA băng hà, em gái của KALAKAUA là LILI’UOKALANI lên nối ngôi trở thành nữ hoàng của Hạ uy di.
HUD 3
Hình trích từ Wikipedia:

 

Năm 1893, các nhà phú thương địa phương tố cáo nữ hoàng LILI’UOKALANI toan hủy bỏ hiến pháp 1887 để lập lại vương quốc trên quần đảo Hạ uy di và hội đồng gồm 13 nhà phú thương mệnh danh là Uỷ ban an ninh đã dùng vũ lực truất ngôi nữ hoàng LILI’UOKALANI.Vào năm 1895, nữ hoàng LILI’OUKALANI bị toà án quân sự của Cộng Hòa Hạ uy di kết án xem thường sự phản nghịch và bị bỏ tù tại tư dinh của bà.

Vào ngày 17 tháng 07 năm 1893, Uỷ ban an ninh tuyên bố thành lập chính phủ lâm thời và vào ngày 04 tháng 07 năm 1894, tuyên bố thành lập nền Cộng Hoà Hạ uy di, chủ tịch nhà nước là SANFORD DOLE.

Năm 1898, quốc hội chấp thuận nghị quyết sáp nhập quần đảo Hạ uy di vào lảnh thổ của Hoa kỳ. Ông Dole được bổ nhiệm làm thống đốc đầu tiên của Hạ uy di.

Trong thời kỳ còn theo chế độ quân chủ và tiếp theo các chế độ cọng hoà sau này, Dinh IOLANI, IOLANI PALACE, được coi như là Viện Capitol của đảo này.

 

 

Về dân số, theo bảng thống kê vào năm 2005, Hạ uy di có khoảng 1,275,194 người. Và theo lịch sử về dân số đảo nầy, dân cư càng ngày càng đông. Về chủng tộc, dân Hạ uy di đa số là người Mỹ gốc Á-châu. Theo bảng kiểm tra dân số vào năm 2000, 6.6% dân Hạ uy di là người bản xứ, 24.3% là Mỹ trắng, kể cả người Bồ đào nha, 41.6% là người Mỹ gốc Á châu gồm 0.1% là người Ấn-độ, 4.1% là người Hoa, 14.1% là người Phi luật tân, 16.7% là người Nhật bản, 1.9% là người Đại hàn và 0.6% là người Việt nam. 1.3% là người Mỹ gốc từ các đảo thuộc Thái bình dương khác như Samoan American, Tonga, Tahitian, Maori và Micronesian, và 21.4% thuộc nhóm các chủng tộc lai giống, 1.8% người Mỹ gốc Phi châu, Mỹ đen và 0.3% là dân Mỹ bản xứ và dân bản xứ thuộc Alaska.

Về tôn giáo, dân Hạ uy di theo Thiên chúa giáo 68%, Phật giáo 9%, không theo đạo nào (đạo không rõ ràng) 18%, những đạo khác 5%.

Theo hiến pháp của Hạ uy di, hai ngôn ngữ chính là: Anh ngữ và ngôn ngữ Hạ uy di.

Sau Anh ngữ, ngôn ngữ thứ hai và thứ ba là tiếng Tagalog và tiếng Nhật.

Lúc mua vé máy bay, chúng tôi nói với phòng du lịch là chỉ đi thăm danh lam thắng cảnh ở đảo Oahu mà thôi. Vì vậy phòng du lịch đã chuẩn bị xe cộ, khách sạn trên đảo này trước cho chúng tôi.

Sở dĩ chúng tôi quyết định đi du lịch trên đảo Oahu vì thủ đô của Hawaii nằm tại đây. Thành phố lớn nhất của đảo này là Honolulu. Hấu hết du khách thường đến đảo Oahu trước mỗi khi đi du lịch sang Hạ uy di lần đầu, sau đó họ sẽ tiếp tục đi tham quan những đảo khác nếu họ cảm thấy Hạ uy di đúng là nơi có những danh lam thắng cảnh đẹp tuyệt trần.

Trước đây, vua Hawaii là Kamehameha đệ tam chọn Honolulu làm thủ đô vì tại đây có hải cảng thiên nhiên rất tốt, tiện lợi cho tàu bè cập bến. Thành phố Honolulu nằm dọc theo bờ biển phía đông nam đảo Oahu.

Vì Honolulu được chọn làm thủ đô nên mỗi lần nói đến du lịch Hạ uy di, các du khách thường hay đến đảo Oahu trước tiên. Sau đó du khách mới tiếp tục đi tham quan các đảo khác như Kauai, Molokai, Lanai, Maui, Hawaii’Big Island.

Dĩ nhiên vẫn có nhiều du khách lại thích những thắng cảnh tại các đảo khác nên họ lại tham quan những nơi đó trước không cần phải đến Oahu trước.

Ngoài thành phố nầy ra còn có các thành phố Hilo, Kaneohe (Kãne‘ohe), Kailua, Pearl City, Kahului, Kailua-Kona,Kihe (Kĩhei), và Lihue (Lĩhu‘e).

                      

Thành phố Waikiki là thành phố nằm sát cạnh Honolulu nên khi lên xe để về khách sạn OUTRIGGER WAIKIKI ON THE BEACH, anh“Tài xế” (tên con rể tôi là Tài lại làm tài xế chở gia đình tôi đi nên tôi gọi là anh “Tài xế” cho tiện) đã lái xe đi ngang đại lộ Waikiki của thành phố này. Điều lạ nhất lúc xe chúng tôi ra khỏi phi trường rồi lăn bánh trên đại lộ Waikiki, khi vừa quẹo qua một con đường khác thì chúng tôi thấy một cửa hàng, có hai chữ BA LẸ, nằm bên cạnh những cửa hàng khác toạ lạc dọc theo đường phố đó. Trong giây lát tôi nghĩ ngay rằng, nơi đây có rất nhiều người Việt nam đang sinh sống vì tiệm bánh mì thịt nguội BA LẸ là của người Việt nam. Trên đoạn đường song song dọc theo bờ biển hướng về khách sạn OUTRIGGER, chúng tôi thấy rất nhiều cây phượng vĩ hoa đỏ rợp trời giống như hoa phượng nở rộ vào mùa hè ở thành phố Huế hay tại Đà nẵng vậy. Khoảng nửa giờ sau xe chúng tôi đã về đến khách sạn OUTRIGGER WAIKIKI ON THE BEACH toạ lạc tại số 2335 trên đại lộ KALAKAUA thuộc thành phố HONOLULU. Sau khi làm thủ tục giấy tờ rồi nhận chìa khoá phòng, chúng tôi liền vào khách sạn để nghỉ ngơi.

Lúc này trời ở Hawaii rất nóng. Nhiệt độ không khác gì nhiệt độ ở California.

 

Sau khoảng hai giờ nghỉ ngơi chúng tôi liền rủ nhau đi tìm tiệm ăn vì ai nấy nghe bụng cồn cào như có kiến bò.

Băng qua đại lộ KALAKAUA nằm trước mặt khách sạn, chúng tôi liền vào trung tâm thương mại đối diện với khách sạn là INTERNATIONAL MARKET PLACE CENTER để tìm tiệm ăn. Sau khi băng qua một vài gian hàng, chúng tôi thấy một cửa tiệm ăn Buffet người Hoa trước mặt. Thế là chúng tôi vào ngay vì lúc bấy giờ vẫn chưa ăn trưa. Nhìn đồng hồ tôi thấy đã 05 giờ chiều, gọi điện thoại về nhà mới biết tại California lúc bấy giờ là 08 giờ tối, nhanh hơn giờ ở Hawaii 3 tiếng đồng hồ. Sau khi ăn xong chúng tôi đi lướt qua một vòng trong trung tâm thương mại này rồi về lại khách sạn để nghỉ ngơi vì lúc bấy giờ trời vẫn còn oi bức.Vừa vào phòng trong khách sạn, tôi liền mở toang cửa ra. Vì mặt tiền của phòng nằm sát ngay trên bờ biển (ocean view) nên một cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ hiện ra trước mặt: trước cảnh rộng bao la bát ngát của đại dương toàn một màu

hu4
xanh biếc, hằng chục ngọn sóng xô đuổi nhau chạy vào bờ tạo nên những đợt sóng trắng xoá lượn lên ngụp xuống rồi vỗ vào nhau nghe ầm ầm.

Đợt sóng này trôi đi đợt sóng khác lại đuổi theo sau làm cho mấy chiếc thuyền đậu ngoài khơi khi thì nhô lên khi thì trụt xuống trông thật là đẹp mắt.Trên bờ biển, kẻ thì nằm phơi nắng, người thì lội ra xa, kẻ thì ôm phao vừa bơi vừa đùa giỡn, người thì đứng trên

 

tấm ván lướt sóng mà đi. Mấy cây dừa đứng sừng sững dưới trời cao trên bờ biển đầy cát trắng loang loáng ánh nắng vàng làm cho cảnh trời chiều của đại dương thêm hùng vĩ và đẹp tuyệt trần. Xa xa trên mặt biển ở về phía Đông nam, mấy ngọn sóng gặp cơn gió chiều thổi mạnh hơn nên đã xô đuổi nhau chạy nhanh vào bờ làm lắc lư mấy con tàu đang thả neo đậu ngoài khơi, và tung bọt trắng xoá lên cao giống như những bông hoa màu trắng . Hình ảnh nầy làm tôi chợt nhớ đến bản nhạc Hoa biển của nhạc sĩ Trần thiện Thanh, bất giác tôi cất tiếng hát:

hu5
Ngày xưa em anh hay hờn dỗi
Giận anh khi anh chưa kịp tới
Cho anh nhiều lời, cho anh bồi hồi
Em cúi mặt làm ngơ
Không nghe kể chuyện
Bao nhiêu chuyện tình đẹp nhất trên trần đờiTại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng
Anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm


Em ơi tình mình trắng như hoa đại dươngTrùng khơi nổi gió lênh đênh triền sóng
thấy lung linh rừng hoa
Màu hoa thật trắng, ôi hoa nở thắm
ngất ngây lòng thêmVượt bao Hải lý chưa nghe vừa ý
lắc lư con tàu đi
Chỉ thấy bọt nước tan theo ngọn sóng
dáng hoa kia mịt mùngBiển khơi không mang hoa màu trắng
Tàu anh xa xôi chưa tìm bến
Nên em còn hờn, nên em còn buồn
Sao chưa thấy anh sang
Em ơi giận hờn
Xin như hoa sóng tan trong đại dương.

 

Trước cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ đó cũng như vì thời tiết quá nóng bức lúc hè về tại xứ Hawaii này, chúng tôi liền rủ nhau bay xuống biển ngay để bắt đầu tắm nắng vàng, bơi lội vài vòng cho thoả thích, nằm ngửa ngâm mình dưới nước rồi nhìn trời xanh mây trắng nắng hồng, tạm quên đi những nỗi nhọc nhằn phiền muộn, những âu lo và thù hận giữa cuộc đời ô trọc rồi hít khí trời vào đầy buồng phổi, mở màn cho những ngày du lịch trên xứ rợp cả bóng dừa có những người đẹp mang nhiều vòng hoa muôn màu muôn vẻ. Sau khi tắm biển xong chúng tôi liền lên lại phòng để thay quần áo chuẩn bị đi dạo phố. Vì khách sạn nằm ngay trên bờ biển nên chúng tôi mặc nguyên đồ tắm với chiếc khăn choàng trên cổ như những người khác, đi thẳng vào phòng dưới cùng của khách sạn rồi bước vào thang máy và bấm nút. Thang máy từ từ dừng lại ngay trước phòng ngủ, thế là chúng tôi mở cửa bước vào phòng. Thời gian đi từ bờ biển lên tới phòng chỉ khoảng chừng 4 phút mà thôi. Sau khi thay áo quần xong, nhìn đồng hồ tôi thấy đã bảy giờ tối. Nói là bảy giờ tối nhưng trời ở Hawaii lúc này vẫn còn sáng. Ánh nắng chiều vẫn còn rọi vào thành phố nhưng không gay gắt như buổi trưa nay. Ánh nắng chiều đã dịu hẳn, chúng tôi liền rủ nhau đi dạo phố. Băng qua đại lộ KALAKAUA trước mặt khách sạn, chúng tôi đến vỉa hè bên kia đường rồi nhập vào đoàn người đang đi dạo phố chiều. Thôi thì đủ mọi thành phần, người Á châu có, người Mỹ trắng có, Mỹ đen có, người Nhật có, người Đại hàn có, người Hoa có vv…Người đi ngược, kẻ đi xuôi, tấp nập rộn rịp như ngày hội. Nhiều người bận đồ tắm mà vẫn đi dạo phố vì đại lộ này nằm sát bờ biển nên lắm kẻ vừa tắm xong là đi dạo phố ngay không cần thay áo quần gì cả. Dọc theo vỉa hè, tôi thấy nhiều người bày hàng hoá ra bán. Đã thế, cứ cách khoảng mười lăm mét lại có một anh chàng ngồi trên ghế vẽ chân dung cho một khách qua đường. Cạnh anh chàng ngồi vẽ chân dung là một người đàn ông đang hành nghề đấm bóp cho một người đàn bà mập ú ngồi quay mặt vào trong ghế bằng vải. Đang bước chầm chậm trên vỉa hè, bỗng một thiếu nữ trao cho tôi một tờ giấy quảng cáo. Đọc sơ qua tôi thấy nội dung tờ quảng cáo nói về vài loại súng và số điện thoại nơi bán súng. Tôi liền vo tròn tờ giấy quảng cáo rồi vất xuống vỉa hè không muốn đọc tiếp nữa.Trời bắt đầu tối.Thành phố đã lên đèn, điện đường cũng như đèn nê ông từ các cửa tiệm phát ra sáng rực như ban ngày. Vừa đến một ngã ba, chúng tôi lại băng qua đường để đi dạo phố phía vỉa hè bên phải của đại lộ KALAKAUA cách bờ biển chỉ vài chục mét. Đi được vài bước chúng tôi thấy một ban nhạc đang trình diễn những bản nhạc của xứ Hạ uy di cho khách qua đường đứng xem. Vì ban nhạc này đang trình diễn rất gần bờ biển nên tiếng sóng rì rào từ dưới bãi biển vọng lên hoà với tiếng hát của các ca sĩ, tiếng đàn, tiếng kèn của các nhạc công tạo thành một bản hợp tấu rất êm tai và thật thơ mộng khi trời vừa nhá nhem tối. Đi thêm khoảng mười mét nữa chúng tôi lại nghe tiếng đàn, tiếng hát từ lầu ba của khách sạn bên kia vỉa hè vọng lại. Có lẽ ban nhạc trên lầu bên kia đường đang trình diễn một bản nhạc theo điệu Twist nên nghe hơi chát chúa ồn ào.

Quay lại phía bờ biển gần ban nhạc hồi nãy, chúng tôi thấy một anh chàng thân hình thật vạm vỡ, ngực để trần, chỉ bận một quần đùi màu đen, tay cầm một đoản đao đang múa may quay cuồng dưới mấy bóng đèn điện mờ mờ ảo ảo cho khách đi dạo phố xem chơi. Tiến xa hơn nữa, chúng tôi thấy nhiều bức tượng bằng đồng đứng sừng sững giữa các công viên nho nhỏ và vì đèn điện từ ngoài đường chiếu vào không đủ sáng nên không thể đọc được những gì khắc trên các bia đá sát bên bức tượng được. Thấy bụng đã bắt đầu đói nên chúng tôi liền đi ngược lại về phía khách sạn kiếm tiệm ăn để dùng cơm tối. Khi đi băng qua một khách sạn để về lại khách sạn chúng tôi đang ở, bỗng thấy một ban nhạc đang trình diễn và các cô vũ nữ bận áo quần màu tím thật đẹp đang trình diễn một vũ khúc rất uyển chuyển nhẹ nhàng.Thế là chúng tôi liền tắp vào tiệm ăn của khách sạn nầy để vừa ăn vừa xem trình diễn luôn. Mãi đến 11 giờ tối chúng tôi mới về lại khách sạn để nghỉ ngơi.

Giữa đêm khuya thanh vắng đang mơ màng giấc điệp, bỗng nghe tiếng gì ầm ầm từ dưới vọng lên, nhìn đồng hồ thấy mới ba giờ sáng, tôi liền ngồi dậy bước đến cửa trước nhìn ra biển rồi   nhè nhẹ mở cánh cửa ra. Một cơn gió nhẹ từ ngoài khơi thoảng qua trước mặt làm mát rượi cả người. Nhìn ra biển cả bao la thấy trời tối đen như mực, chỉ nghe tiếng sóng vỗ ầm ầm từ ngoài khơi vọng vào. Chúng xua đuổi nhau giữa đêm khuya tăm tối rồi tấp vào bờ tạo thành những hàng bọt trắng xoá hiển hiện trên bãi biển dưới ánh đèn điện sáng choang trước mặt khách sạn. Mấy cây dừa đứng trơ trọi giữa đêm tối lung lay nhè nhẹ vì gió biển thổi vào làm bóng dừa in trên cát di chuyển qua lại liên hồi. Vài phút sau, tôi lại vào phòng để ngủ tiếp ngõ hầu lấy sức để chuẩn bị đi xem danh lam thắng cảnh ngày mai.  

Khoảng sáu giờ sáng, tiếng sóng ầm ầm từ ngoài khơi vọng vào làm tôi thức giấc. Nhìn ra cửa tôi thấy bà xã tôi đang đứng nhìn ra khơi tự lúc nào không biết.Thấy tôi đã thức dậy, bà xã tôi liền rủ tôi xuống bãi biển để đi bộ và hít không khí mát rượi trong lành ban mai vì khi đứng trên bao lơn nhìn xuống, chúng tôi thấy mặt trời vừa le lói từ phía chân trời và đã có người đi dạo trên bãi biển rồi. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi giả từ bãi biển để lên phòng tắm rửa, chuẩn bị ăn điểm tâm. Đúng tám giờ sáng, cả gia đình chúng tôi xuống nhà điểm tâm để ăn sáng. Vì khi thuê khách sạn, chúng tôi đã nhận được những coupon của khách sạn trao và cứ mỗi buổi sáng, chúng tôi cầm những coupon này xuống trao cho chủ tiệm ăn để khỏi trả tiền. Nói là ăn điểm tâm, nhưng vì ăn như tại các tiệm ăn Buffet nên có thể ăn uống thả dàn tuỳ theo sở thích của mình. Sau khi ăn xong có nhiều loại trái cây để tráng miệng như thơm, đu đủ, mận, dưa hấu, nho vv…

 

Điểm tâm xong, chúng tôi lên xe trực chỉ đến Đài Tưởng Niệm USS ARIZONA(USS ARIZONA MEMORIAL) tại TRÂN CHÂU CẢNG (PEARL HARBOR) như anh “TÀI xế” đã cho biết trước chương trình. Sau khi lấy bản đồ xem lại đường đi một lần nữa cho chắc ăn, anh “TÀI xế” liền nhấn ga cho xe phóng tới. Vượt qua mấy con đường nhỏ trong thành phố, phút chốc xe đã bon bon trên xa lộ 63 LIKELIKE HWAY để tiến về Hải Cảng Trân Châu. Thấy xa lộ LIKELIKE tôi nghĩ thầm rằng, xa lộ này có tên là THÍCH THÍCH rồi nói với anh “TÀI xế” rằng xa lộ này là xa lộ “ laicờ- laicờ” vui quá anh “TÀI xế” há!

Anh “TÀI xế” nói:

- Không phải đọc “laicờ-laicờ” mà đọc là “likê-likê” ba ạ! Nếu anh “TÀI xế” không nói cho tôi biết thì tôi cứ đọc “laicờ-laicờ” mãi thôi. Khoảng hai mươi phút sau xe đã đến Đài Tưởng Niệm USS ARISONA. Vừa vào cổng chúng tôi thấy người ta sắp hàng nối đuôi nhau để mua vé rất đông. Chúng tôi cũng nối đuôi họ sắp hàng để chờ mua vé. Giá mỗi vé 8 Mỹ kim. Vì đến sau rất nhiều người nên chúng tôi phải đợi đến mấy lượt mới tới phiên mình. Trong thời gian chờ đợi, chúng tôi vào viện bảo tàng xem những di tích lịch sử liên quan đến vụ Trân Châu Cảng. Tại đây, trưng bày một số máy bay bị hư hỏng của PHI ĐỘI THẦN PHONG NHẬT BẢN (KAMIKAZE) đã lao đầu xuống chiến hạm của Mỹ USS ARIZONA vào năm 1941, chiến hạm USS ARIZONA (bằng sơ đồ) lúc chưa bị phi đội thần phong Nhật bản tấn công làm đắm chìm xuống biển, chiến hạm (bằng sơ đồ) của Nhật bản trên đó những chiếc máy bay của phi đội thần phong đang nằm chờ lúc xuất quân và một số hình ảnh khác.

 

 hu6

     Trên đây là chiếc tàu chiến USS ARIZONA (BB-39)

         (Hình chụp tranh trên tường tại Bảo Tàng Viện)

 

Chiếc tàu chiến này chở trung bình 31,400 tấn. Nhưng tối đa là 35,929 tấn.

Chiều dài   : 608’

Chiều rộng : 106’3”

Draft           : 33’6”

Vận tốc       : 21 hải lý.

Vũ trang   : 4x3 14”/45, 12x1 5”/51, 8x1 5”/25, 8x1 .50-caliber MG, 2 21”

Quân số đầy đủ : 2555.

Động cơ: Các tua bin, 12 đầu máy, 4 hệ thống thông hơi, 31,500 hp.

Tàu USS ARISONA đã được xưởng đóng tàu Hải Quân Nữu Ước hoàn thành và trang bị đầy đủ vào ngày 17 tháng 10 năm 1916.

Và trang bị lại tại căn cứ Hải Quân Norfolk năm 1931.

 

Đúng mười một giờ, lượt chúng tôi mới bắt đầu. Thế là chúng tôi sắp hàng nối đuôi nhau để vào hội trường xem film vụ Trân châu cảng trước khi lên tàu ra đài kỷ niệm ở ngoài khơi. Trước khi xem film, một nhân viên của viện bảo tàng nói sơ cho chúng tôi nghe về vụ Trân châu cảng. Ông ta trình bày những diễn tiến của cuộc chiến này giống y hệt như ta đã học những bài học về lịch sử ở bậc trung học vậy.

 

 

Vài phút sau, film bắt đầu chiếu. Cuốn film dài khoảng hai mươi phút.Nhờ xem film nầy, chúng tôi mới bắt đầu nhớ lại diễn tiến của trận đánh Trân châu cảng. Theo nội dung cuốn film, chính phủ quân phiệt Nhật bản quyết định tấn công Hoa kỳ và chiếm Phi luật tân trừ khi Hoa kỳ chấp thuận mọi yêu sách của họ vào ngày 25 tháng 11 năm 1941. Nhật bản cũng quyết định chiếm luôn những thuộc địa giàu tài nguyên của Anh và Đức tại Đông nam á châu. Để đánh lạc hướng chính phủ Hoa kỳ, lúc đang bí mật chuẩn bị một lực lượng oanh kích hùng hậu trên hàng không mẫu hạm để tấn công chớp nhoáng vào hạm đội của Hoa kỳ đang gieo neo tại căn cứ hải quân Trân châu cảng ở Hạ uy di, chính phủ Nhật bản đã chỉ thị cho tuỳ viên quân sự của họ tại Hoa thịnh đốn cố gắng hứa hẹn với Mỹ lúc vấn đề thương thuyết đang căng thẳng. Nước Mỹ trong hai mươi ba năm liền sống trong thanh bình không có chiến tranh, và chẳng chuẩn bị gì cho cuộc chiến ngay trên lảnh thổ mình thì vào lúc 8 giờ sáng ngày chủ nhật mồng 07 tháng mười hai năm 1941, Nhật bản đã bất ngờ tung ra một cuộc tấn công quỷ khốc thần sầu và chớp nhoáng vào hạm đội Thái bình dương của Mỹ đậu tại Trân châu cảng ở Hạ uy di. Sở dĩ Nhật chọn sáng chủ nhật để tấn công vì họ biết rằng vào giờ này dân chúng Mỹ đang làm lễ tại nhà thờ. Toàn bộ tàu chiến của hạm đội Thái bình dương Mỹ bị huỷ hoại do các máy bay cảm tử của phi đội thần phong Nhật bản lao mình xuống và bốc cháy ngay trên các chiến hạm của Mỹ. Sau cuộc tấn công chớp nhoáng này của Nhật, 2,403 người Mỹ bị giết.Trước khi Trân châu cảng bị tấn công, đa số người Mỹ không muốn dính dấp gì vào cuộc chiến tranh của Đức quốc xã chống lại Đế quốc Anh. Nhưng sau khi Trân châu cảng bị tấn công, dân Mỹ đã cùng nhau nhất trí tham chiến để trả thù sự tổn thất nhân mạng và tàu chiến của họ. Và nếu Hoa kỳ không bị kéo vào đệ nhị thế chiến thì quân phiệt Nhật bản sẽ chiếm Úc đại lợi vào cuối năm 1942. Về các tàu chiến bị tổn thất của Mỹ, chiến hạm mang tên USS ARIZONA là chiếc tàu được trang bị tối tân nhất và lớn nhất của hạm đội Thái bình dương.

 

Sau đây là hình ảnh toàn bộ tàu chiến của Mỹ thuộc hạm đội Thái bình dương bị máy bay cảm tử Nhật tấn công sáng ngày 07 tháng 12 năm 1941:

 

    

 

 

Những máy bay cảm tử Nhật đã phóng ngư lôi tấn công tàu “Battleship Row” vào lúc 08 giờ sáng ngày07 tháng 12 năm 1941. Các chiếc tàu được nhìn thứ tự từ trái sang phải:

Tàu Nevada (BB-36) với lá cờ được kéo lên từ phía đuôi tàu. Tàu Arizona (BB-39)với rên tàu, tàu Tennessee (BB-43) với chiếc West Virginia (BB-48) ở phía ngoài. Tàu Maryland (BB-46) và chiếc Oklahoma (BB-37) ở bên cạnh, tàu Neosho (AO-23) và tàu California (BB-44). Tàu West Virginia, Oklahoma và tàu California đã bị trúng bom Nhật đánh dấu bởi những gợn sóng và vết dầu loang. Làn khói trắng ở đằng xa xuất hiện trên cánh đồng “Hickam Field”.

 hu7
Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ).

 

(Hình trích từ Wikipedia)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Hình trích từ Wikipedia)

 

Các thủy thủ đang cứu một người còn sống sót ở dưới nước gần chiếc tàu chiến USS WEST VIRGINIA (BB-48) vừa sau khi bị tàu Nhật không kích.

Chiếc tàu USS TENNESSEE (BB-43) đang nằm trên một chiếc tàu chiến bị đánh chìm.

 

 

 

 

 

 

 

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa kỳ,

lấy từ Văn Khố Quốc Gia.).

 


Tàu chiến USS ARIZONA (BB-39) bị đánh đắm và đang cháy dữ dội lúc bị máy bay Nhật ném bom trúng vào ngày 07 tháng 12 năm 1941. Kho đạn trên tàu bị nổ tung. Phía bên trái, các nhân viên cứu hoả ở đằng sau chiếc USS TENNESSEE (BB-43) đang dùng vòi nước để đẩy đám dầu đang cháy ra xa chiếc tàu.

                    

 

 

 

 

 

 

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ,

lấy từ Văn Khố Quốc Gia).

Hình trích từ Wikipedia.

 

 

Hình ảnh tàu chiến USS DOWNES (DD-375) và tàu USS CASSIN (DD-372) tại xưởng đóng tàu Hải quân ởTrân Châu Cảng sau khi cuộc không kích của Nhật bản vừa chấm dứt. Chiếc CASSIN bị lật nghiêng cạnh chiếc DOWNES. Ở phía xa, sau cùng là chiếc tàu USS PENNSYLVANIA (BB-38). Chiếc USS HELENA (CL-50) nằm phía bên phải, sau cần trục. Cũng có thể thấy rõ được chiếc USS OKLAHOMA (BB-37) đang bị lật nghiêng và chiếc USS MARYLAND (BB-46) nằm bên cạnh.

 

 

 

 

 

Khói đang bốc lên từ chiếc tàu USS ARIZONA (BB-39) bị đánh chìm và đang bốc cháy, sau chiếc PENNSYLVANIA. Tàu USS CALIFORNIA (BB-44) nằm phía bên trái.

 

(Hình của nhiếp ảnh gia Hải Quân MATE HAROLD FAWCETT)

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ,

lấy từ Văn Khố Quốc Gia)

Hình trích từ Wikipedia

 

Tàu chiến USS MARYLAND (BB-46) nằm cạnh chiếc USS OKLAHOMA (BB-37) đang bị chìm dưới nước.

Tàu USS WEST VIRGINIA (BB-48) đang bốc cháy ở phía đằng sau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tàu chiến USS UTAH (AG-16) bị lật nghiêng trên đảo FORD ISLAND sau khi bị máy bay Nhật phóng ngư lôi .

Hình chụp từ chiếc tàu USS TANGIER(AV-8) đang thả neo ở đằng sau tàu UTAH.

  

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ,

lấy từ Văn khố Quốc Gia ).

Hình trích từ Wikipedia

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kho đạn tàu USS SHAW (DD-373) nổ tung lúc máy bay Nhật không kích lần thứ hai.

Từ phía trái của kho đạn đang nổ có thể nhìn được đuôi tàu của chiếc SHAW, nằm cuối xưởng đóng tàu nổi YFD-2.

Phía bên phải là mũi tàu USS NEVADA (BB-36) .

Hình chụp từ đảo FORD ISLAND.

 

 

 

 

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ).

Hình trích từ Wikipedia.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kho đạn phía trước tàu chiến USS ARISONA (BB-39) nổ tung sau khi bị phi cơ Nhật ném bom ngày 07 tháng 12 năm 1941.

Hình thu nhỏ lại lấy từ film màu quay từ chiếc tàu USS SOLACE (AH-5)

 

 

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ,

lấy từ Văn Khố Quốc Gia).

Hình trích từ Wikipedia.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một phóng pháo cơ đang bốc cháy tại trạm không gian Hải Quân KANEOHE trên đảo OAHU trong thời gian Nhật bản oanh tạc.

 

( Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ,

lấy từ Văn Khố Quốc gia).

Hình trích từ Wikipedia.

 

 

 

 

 

 

 

               “HÃY NHỚ NGÀY 07 THÁNG 12!”

 

Bích chương do ALLEN SANDBURG phác hoạ, Trung Tâm Tin Tức về chiến tranh tại Washington,D.C, năm 1942, cung cấp để nhớ lại cuộc tấn công của Nhật bản vào Trân Châu Cảng ngày 07 tháng 12 năm 1941.

Bích chương cũng cho ta thấy lời trích dẫn từ bài diễn văn Gettysburg của Tổng thống Abraham Lincoln: “Hôm nay, chúng ta đều nhất quyết rằng những người đã tuẫn tiết không phải là vô ích.”

 

   (Hình của Trung Tâm Nghệ Thuật Hải Quân Hoa Kỳ,

         do bác-sĩ Robert L. Scheina tặng năm 1970).

   (Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ)

                         Hình trích từ Wikipedia.

 

Và sau đây là nơi phát xuất của máy bay cảm tử Nhật thuộc phi đội Thần phong bay qua Thái binh dương để tấn công hạm đội Mỹ:

Một máy bay tấn công hàng không mẫu hạm loại 97 của Hải Quân Nhật bản cất cánh từ một hàng không mẫu hạm trong đợt tấn công lần thứ hai.

 

Đoàn thuỷ thủ của tàu chiến đang reo mừng “Banzai”.

Chiếc tàu này có tên là ZUIKAKU hay SHOKAKU.

 

       Cột cờ ba chân ở phía sau tàu chiến với cờ hiệu của

                           Hải Quân Nhật bản.

       (Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa kỳ)

                           Hình trích từ Wikipedia.

 

 

 

 

Các phi công trong Phi Đội Thần Phong KAMIKAZE của Nhật bản đang chờ lệnh cất cánh.

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ)

Hình trích từ Wikipedia.

 

 

 

 

Hình trên: Các phi công Nhật bản đang chờ lệnh cất cánh.

Hình dưới: Các nữ sinh cầm hoa tiễn đưa các phi công lên đường.

 

(Hình của Trung Tâm Lịch Sử Hải Quân Hoa Kỳ)

Hình trích từ Wikipedia.

 

                  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viên phi công Hachiro Hosokawa của phi đội thần phong Kamikaze trong đệ nhị thế chiến. Ông ta còn sống sót sau cuộc chiến nhờ ở trong phi đội hộ tống. (Hình trên)

                  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viên thiếu uý Kiyoshi Ogawa đâm đầu xuống chiến hạm USS Bunker Hill trong cuộc hành quân Kikusui #6.

Sau khoảng 20 phút xem film, chúng tôi được hướng dẫn ra khỏi hội trường để lên tàu ra khơi xem Đài kỷ niệm. Từ bờ ra chỗ Đài kỷ niệm khoảng 7 phút thôi. Đài kỷ niệm đây là một chiếc thuyền nằm trên mặt nước giữa biển cả trong Trân châu cảng. Trên

thuyền có một tấm bia thật lớn khắc tên mấy nghìn người Mỹ đã tử nạn. Trước tấm bia có đặt hai vòng hoa. Một vài hình ảnh liên quan đến vụ Trân châu cảng cũng được treo trên tường đối diện với tấm bia nói trên. Đứng trên thuyền, du khách thấy rất rõ chiếc chiến hạm USS ARIZONA chìm dưới đáy biển ở dưới chân mình, chỉ có một phần trên nho nhỏ của chiến hạm trồi lên trên mặt nước để lộ phần sắt đã rỉ sét vì đã 65 năm qua vẫn bất động nằm đấy trơ gan cùng tuế nguyệt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình nhô lên trên mặt nước của chiến hạm USS ARIZONA bị phi đội thần phong Nhật bản đánh đắm vào ngày 07 tháng 12 năm 1941.

 

 

 

 

 

 

Xa xa cách đài tưởng niệm vài chục mét, du khách cũng có thể thấy các chiến hạm khác của hạm đội Thái bình dương Mỹ bị đánh đắm chìm, cũng đang nằm trơ gan cùng mây nước.

 

 

 

Sau đây là Đài kỷ niệm USS ARIZONA MEMORIAL:

Sau đây là bia khắc tên những người Mỹ tử trận:

 

Sau 10 phút tham quan Đài tưởng niệm USS ARIZONA MEMORIAL, chúng chôi được lệnh xuống tàu để vào bờ lại nhường chỗ cho toán khác lên xem.Tạm biệt Đài tưởng niệm, chúng tôi lại tiếp tục lên đường tiến vào CHỢ TRỜI để mua sắm lặt vặt theo chương trình đã được vạch sẵn. Từ xa thấy CHỢ TRỜI sao mà nhỏ quá, nhưng khi đến gần chúng tôi mới sững sốt vì CHỢ TRỜI này chiều dài đi mãi vẫn còn! Trời lúc này quá nóng, chúng tôi chỉ mới đi khoảng 30 gian hàng mà đã thấm mệt. Đặc biệt tại đây có vài gian hàng của người Việt mình nên lúc mua sắm, chúng tôi nói tiếng Việt với nhau rất thân mật và thoải mái. Sau khi mua sắm một vài vật cần thiết làm kỷ niệm, chúng tôi lại lên xe rồi hướng về Chinatown trực chỉ để tìm tiệm phở ăn trưa vì lúc bấy giờ đã 1 giờ chiều rồi. Nhờ đã xem bản đồ trước nên chẳng mấy chốc anh “TÀI xế” đã đến được Phố Tàu. Đậu xe lại bên đường, chúng tôi rủ nhau đi bộ để tìm tiệm ăn. Sau khi hỏi một người đi đường, chúng tôi gặp ngay ngườiViệt và anh ta chỉ cho chúng tôi đến tiệm phở Sài-gòn nằm ở ngã tư trước mặt. Thế là chúng tôi nhanh chân đến đó ngay. Nhưng lạ thay tiệm này lại đóng cửa ! Nhìn đồng hồ mới có 2 giờ chiều. Chúng tôi nghĩ thầm, ngày chủ nhật mới 2,3 giờ chiều sao mà đóng cửa sớm thế! Theo lời dặn dò của anh hồi nãy, chúng tôi đi thẳng đến tiệm phở Cửu long cách tiệm phở Sài gòn 3 ngã tư. Khoảng mười phút sau chúng tôi đã thấy tiệm phở Cửu long nằm ngay trước mặt. Thế là chúng tôi bước nhanh chân vào vì bụng ai nấy cũng đều nghe kiến bò rồi. Vừa vào trong tiệm, một cô gái có khuôn mặt giống người Á châu đến hỏi chúng tôi dùng gì bằng tiếng Việt nên chúng tôi mới biết đây là tiệm phở của người Việt nam. Dùng cơm trưa xong chúng tôi rời tiệm phở để đi dạo Phố Tàu. Lúc này chỉ mới 3 giờ chiều chủ nhật mà nhiều tiệm đã đóng cửa khiến chúng tôi hơi ngạc nhiên. Tuy nhiên tối hôm ấy khi ghé lại nhà một người bạn cũ ở Hawaii khá lâu, tôi có hỏi bạn tôi chuyện này thì bạn tôi trả lời rằng việc đó là chuyện thường thôi, ở đấy từ lâu đã như thế rồi không có gì là lạ cả. Sau khi vào vài tiệm ở bên đường cũng như vào một số siêu thị chưa đóng cửa mua hàng, trái cây,quà kỷ niệm vv…, chúng tôi lại bắt đầu lên xe để về lại khách sạn nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi vì đi tham quan nhiều nơi giữa lúc trời nắng như thiêu như đốt. Khi anh”TÀI xế” lái vài vòng trong Phố Tàu rồi tiến ra xa lộ, ngồi trên xe tôi để ý thấy tại đây có rất nhiều tiệnm phở nằm hai bên đường như tiệm Phở Chợ lớn, tiệm Phở Mỹ Lan, tiệm Phở 79, tiệm Phở Cửu Long, tiệm Phở Hồng cà phê vv…Về đến khách sạn vừa đúng 5giờ chiều, chúng tôi liền vào phòng để tắm rửa rồi nghỉ ngơi sau một ngày đi tham quan thật đầy ý nghĩa nhưng cũng thật mệt mỏi.

 

Thời gian du lịch chúng tôi chỉ có sáu ngày. Mất hai ngày đi đường nên chỉ còn lại bốn ngày. Trong lúc đó danh lam thắng cảnh tại đảo OAHU này lại tương đối cũng nhiều nên anh “TÀI xế”quyết định chỉ chọn những nơi nào nổi tiếng và đầy ý nghiã sẽ đến tham quan mà thôi. Đọc trên tờ quãng cáo về những di tích lịch sử và những danh lam thắng cảnh trên xứ OAHU này, chúng tôi thấy gồm những địa danh sau đây: Bishop Museum, Damien Museum and Archives, Diamond Head, Duke Kahanamoku Statue, Hanauma Bay, Hawaii Maritime Center, Hawaii Railroad, Hawaii’s plantation village, Iolani Palace, Honolulu Zo o, King Kamehameha Statue, Kualoa Ranch, Nu uanu Pali Lo ok out, Polynesian Cultural Center, Punchbowl Crater, Sea-life Park, Uss Arisona Memorial, Waikiki Aquarium.Theo chương trình đã vạch sẵn, ngày mai chúng tôi sẽ đi thăm chùa Nhật bản và TRUNG TÂM VĂN HOÁ POLYNESIAN (POLYNESIAN CULTURAL CENTER).

Cũng như ngày hôm qua, đúng 6 giờ sáng vừa thức giấc, vợ chồng tôi lại dắt tay nhau xuống bãi biển để đi bộ dọc theo bờ cát trắng vừa đi vừa hít khí trời. Thỉnh thoảng có mấy ngọn sóng mạnh xua đuổi nhau rồi tấp vào bờ sát chân chúng tôi đang đi làm nước văng tung toé lên cao khiến chúng tôi phải dắt tay nhau chạy để tránh nước khỏi văng vào người. Nhưng rồi tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Khi đi bộ thêm vài mét nữa, vì ham nhìn ánh bình minh tuyệt đẹp đang ló dạng ở chân trời, một cơn sóng mạnh từ ngoài khơi đổ xô vào bờ khiến nước biển tung toé văng lên cao làm ướt cả chiếc quần đùi tôi đang mặc.

Thế là tôi nhảy ngay xuống nước tắm luôn sau khi dặn bà xã tôi cứ tiếp tục đi bộ qua lại trên bãi biển gần chỗ tôi đang tắm. Sau khi bơi lội vài vòng dưới nước, tôi đảo mắt nhìn một vòng trên bãi biển thì thấy cũng đã có nhiều người đang đi bộ dọc theo bờ biển để tập thể dục, chứ xuống nước để bơi lội thì chỉ mới có khoảng năm ba người vì trời đang còn sớm. Khi thấy bà xã tôi đi bộ tập thể dục đã đến gần chỗ tôi tắm, tôi liền ngụp lặn xuống nước một lần nữa rồi bước lên bờ. Chúng tôi liền dắt tay nhau để lên phòng tắm rửa, chuẩn bị ăn điểm tâm mà tiếp tục đi tham quan danh lam thắng cảnh trên đảo OAHU này. Hôm nay là ngày 28 tháng 8 năm 2006, ngày thứ ba tại đảo Hawaii, chúng tôi lại lên đường đi thăm chùa Nhật trước. Phu nhân của anh “TÀI xế”ngồi bên cạnh cầm bản đồ hướng dẫn đường đi. Xe chúng tôi rời khách sạn ,vừa đi trên đường KALAKAUA một đọan ngắn liền quoẹo qua đường KAPAHULU để vào xa lộ HI. Xe chạy bon bon trên xa lộ khoảng mười phút thì anh “TÀI xế” cho xe vào Hway LIKELIKE rồi chạy thẳng trên Hway 63 này luôn. Lúc lái xe, anh”TÀI xế” và phu nhân ham nói chuyện phiếm nên đã đi thẳng vào trại TQLC. Cuối cùng anh “TÀI xế” phải nhờ anh lính TQLC đang đứng gác tại đấy chỉ đường lại nên anh “TÀI xế” mới cho xe lui và đi vào Hway 63 để tiến vào xa lộ 83 mới đến chùa Nhật bản được. Con đường vào chùa đi ngang qua một ngọn đồi “nghĩa địa”. Nhìn từ xa người ta cứ tưởng đây giống như một sân chơi golf. Khi đến gần mới biết là nghĩa địa. Một số ngôi mộ có bia màu đen được dựng đứng trước mộ khắc tên những người Nhật, tất cả những ngôi mộ còn lại bia nằm dưới đất giống như tại nghĩa địa Peek Family ở Quận cam vậy.

Muốn vào chùa phải đi qua một cây cầu bằng gỗ bắc qua một cái lạch. Qua khỏi cầu rồi lại thấy một hồ nước nằm ngay trước

chùa trông thật nên thơ. Dưới hồ, hàng trăm cá thia Tàu đủ màu sắc đuổi nhau lượn qua lượn lại trông thật đẹp mắt. Nhìn ngôi chùa người ta có thể thấy đây là lối kiến trúc theo lối cổ xưa. Chung quanh chùa cây cối mọc um tùm. Phía sau chùa được bao quanh bởi một dãy núi và đặc biệt có một ngọn núi đứng sừng sững dưới trời cao ngay sau lưng chùa. Bên trái chùa có một ngôi nhà rất nhỏ để treo chuông bằng đồng. Người ta bảo rằng khi tham quan chùa này, nếu người nào vào nhà nhỏ để đánh chuông sẽ gặp được nhiều may mắn.

 

Sau đây là ngôi chùa Nhật bản:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau khi tham quan ngôi chùa Nật bản khoảng một giờ đồng hồ, chúng tôi lại lên xe chạy ra xa lộ 83 rồi nhắm hướng POLYNESIAN CULTURAL CENTER trực chỉ. Vì xa lộ 83 chạy song song với bờ biển nên chúng tôi vừa ngồi trên xe vừa ngắm biển rất thú vị.

Xe chạy vượt qua bờ biển KAHALU’U, WAIKÀNE. Vài phút sau lại vượt qua luôn bờ biển KA’A’AWA, bờ biển PUNALU’U, rồi bờ biển HAU’ULA. Sau khi vượt qua bờ biển HAU’ULA được vài phút, xe chúng tôi đã đến được TRUNG TÂM VĂN HOÁ POLYNESIAN.

 

Cũng như những nơi khác, tại đây chúng tôi cũng phải sắp hàng để mua vé. Trong thời gian anh “TÀI xế” đại diện đứng chờ mua vé, tôi liền đảo một vòng quanh trong phòng, nhìn những bức hình liên quan đến các chiếc ghe, thuyền xưa cổ của các bộ tộc được đặt trong các lồng kiếng tại viện bảo tàng và một số hình ảnh của mấy chàng thanh niên và thiếu nữ thuộc các bộ tộc nào đó treo trên tường.

Sau khi mua vé xong, chúng tôi bắt đầu vào cổng để đi xem nền văn hoá của của 7 bộ tộc trong từng làng nhỏ. Vừa bước vào cổng, một thanh niên có nước da ngâm ngâm, thân hình vạm vỡ vai u thịt bắp, chỉ mặc một cái váy màu xanh đậm, chân đi dép Nhật và một thiếu nữ cười tươi như hoa, đầu đội mũ bằng lông chim màu vàng đỏ, cổ đeo một sợi dây chuyền, mình mặc một chiếc áo màu vàng để hở cổ, tay và bận một chiếc váy màu đỏ bằng những sợi dây kết thành, chân cũng đi một đôi dép Nhật;Chàng và nàng thay phiên nhau choàng cho chúng tôi mỗi người một vòng hoa kết bằng vỏ ốc nho nhỏ rồi bảo chúng tôi đứng vào để chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm.

Tưởng rằng chụp hình xong người ta sẽ tặng cho mình nào ngờ muốn có tấm hình ấy phải mua 15$. Dĩ nhiên chúng tôi cũng lấy một tấm để làm kỷ niệm. Nhìn bức hình tôi thấy anh chàng mang váy màu xanh đưa tay phải ra đằng trước, bàn tay nắm lại, ngón tay phải chỉ lên trời, ngón tay út chỉ ngang. Còn cô thiếu nữ đưa tay trái ra đằng trước, cũng giống như chàng trai kia, cô ta xoè ngón tay út và ngón tay cái ra, còn ba ngón tay kia thì nắm lại. Thấy hiện tượng là lạ này tôi liền hỏi anh “TÀI xế” thì anh “TÀI xế” nói rằng, đó là hangloose, biểu tượng của relax tức là “nghỉ xả hơi”.

                                                                                                                                                  

Lúc này trời rất nóng nực, chúng tôi liền vào tiệm ăn của Trung tâm để nghỉ ngơi và ăn trưa trước khi đi tham quan nền văn hoá của các bộ tộc trong các làng nho nhỏ. Nói là làng nhưng thực ra các làng ở đây rất gần nhau. Từ làng này qua làng khác đi bộ vòng vo tam quốc khoảng năm mười phút thì tới ngay. Tuy nhiên cũng có thể đi bằng phà, ghe, ca nô bằng đường thuỷ vì các làng đều có một hệ thống đường thuỷ nối liền nhau qua các ao, hồ, lạch.

 

 

Sau khi dùng cơm trưa xong, chúng tôi bắt đầu lên đường đến các làng của bảy bộ tộc theo thứ tự thời gian đi thăm : làng SAMOA, làng AOTEAROA, làng FIJI, làng HAWAII, làng MARQUESAS, làng TAHITi, và làng TONGA.

Mỗi làng có một nền văn hoá và ngôn ngữ riêng biệt nên nhiều biểu tượng khác nhau xuất hiện khi chúng tôi đến thăm. Chẳng hạn chỉ riêng tiếng chào hỏi thôi (Hello) mà mỗi làng một khác. Khi vào làng SAMSOA, người ta chào chúng tôi bằng tiếngTALOFA, làng AOTEAROA bằng tiếng KIA ORA, làng HAWAII bằng tiếng ALOHA, làng MARQUESAS bằng tiếng KAOHA, làng TAHITI bằng tiếng IA ORANA, và làng TONGA bằng tiếng MALO E LELEI.

Cứ mỗi lần đến một làng nào, chúng tôi cũng được nghe người đại diện của làng đó nói về nguồn gốc nền văn hoá của bộ tộc họ (bằng Anh ngữ) rồi xem trình diễn văn nghệ và những vũ khúc liên quan đến nền văn hóa của họ.  

Trước hết chúng tôi đến làng SAMOA.

Đây là quần đảo SAMOA:                                                                                              

Tại đây chúng tôi cùng tất cả du khách được mời ngồi vào các dãy ghế ngoài trời để xem các diễn viên của làng này trình diễn những bản nhạc, những vũ khúc mang sắc thái của bộ tộc họ trên sân khấu lộ thiên. Trước tiên, một đại diện của bộ tộc SAMOA lên sân khấu nói khái quát về nguồn gốc của nền văn hoá, về địa lý và về lịch sử của bộ tộc họ. Theo đó, đảo SAMOA nằm ở trung tâm của quần đảo POLYNESIA, giữa TAHITI và FIJI. Đảo này có hai đảo chính là UPOLU và SAVAII. Cả hai đều do núi lửa biến thể lâu đời mà thành hình. Thủ đô là APIA. Bộ tộc nầy có một nền văn hoá khoảng 3000 năm. Hầu hết dân xứ SAMOA này ở trong nhà lợp bằng tranh gọi là FALE. Sau khi nguời đại diện dứt lời, một màn vũ khúc mang sắc thái của nền văn hoá SAMOA bắt đầu. Các thiếu nữ đều mặc đồng phục áo cụt và váy màu tím, vừa múa vừa hát rất nhịp nhàng uyển chuyển, miệng luôn luôn nở nụ cười tươi như hoa trông giống như những nàng tiên đang múa vũ khúc nghê thường trên nguyệt điện.

 

Sau màn vũ khúc là màn trình diễn leo lên cây dừa để hái dừa. Một thanh niên có nước da ngâm ngâm với đôi vai u thịt bắp, thân hình vạm vỡ, chỉ mặc một cái quần đùi màu nâu đến trước cây dừa rồi bắt đầu leo. Nhanh như con vượn, lẹ như con sóc trên rừng, chàng ta leo thật nhanh phút chốc đã tới đọt cây dừa khiến khách du lịch phải nhạc nhiên và thán phục.

Khi leo lên đến đọt cây, anh ta cười hề hề rồi hái một trái dừa và leo xuống ngay. Vừa leo xuống anh ta vừa đùa giỡn trên cây như vượn mà không bị rơi xuống đất khiến du khách vỗ tay hoan hô và tán thưởng nhiệt liệt.

Tràng pháo tay du khách vừa dứt thì đôi chân anh ta cũng vừa chạm xuống mặt đất thật nhẹ nhàng không khác gì con vượn, con khỉ trên rừng vậy.

Tiếp theo là biểu diễn bóc một trái dừa bằng hai tay chỉ với một cục đá nho nhỏ. Xử dụng sức mạnh của đôi tay, một chàng trai xứ SAMOA vừa nói hài hước vừa đùa giỡn vừa lấy cục đá nho nhỏ đập mạnh vào trái dừa. Cuối cùng trái dừa vỡ làm đôi, chàng ta lấy hết dừa trắng ra bỏ vào trong những xơ dừa vừa lột võ xong dùng hai bàn tay vặn thật mạnh. Một chất lỏng màu trắng chảy xuống đất. Khi chất lỏng chảy ra, chàng ta nói đó là sữa rồi chàng ta bảo rằng tiếng Anh gọi là milk, tiếng Việt nam gọi là sữa, tiếng Đại hàn gọi là…..Chàng ta nói luôn một mách khoảng 6 ngoại ngữ của 6 nước khiến du khách phải bật cười vì thích thú khi nghe chàng ta nhấn mạnh từng chữ của mỗi ngoại ngữ. Ngoài những màn trình diễn nói trên còn có nhiều màn khác nữa cũng rất hấp dẫn. Sau khi ghé tham quan làng SAMOA, chúng tôi liền đi qua làng AOTEAROA ở bên cạnh.

Cũng như làng SAMOA, làng AOTEAROA cũng có một sân khấu lộ thiên để các diễn viên của làng này trình diễn những điệu vũ, những bài ca thuộc nền văn hoá của bộ tộc họ. Một nhân vật đại diện cho làng này lên trình bày tổng quát về nguồn gốc của xứ AOTEAROA theo đó, AOTEAROA cũng có tên là MÀORI thay cho tên New Zealand(Tân Tây Lan). Người ta không biết rõ ràng cho lắm về nguồn gốc của xứ AOTEAROA .AO là mây, TEA là trắng và ROA là dài và người ta thường gọi là “Vùng đất của đám mây trắng dài”. Theo truyền thuyết, người con gái của nhà thám hiểm Kupe thấy một màu trắng ở chân trời liền gọi”He ao! He ao!” (Một đám mây! Một đám mây!). Thế là mảnh đất đầu tiên này được đặt tên là AOTEA(Mây trắng) và được biết như là Hải đảo vĩ đại. Sau này khi người ta tìm thấy những vùng đất rộng lớn hơn quá vùng AOTEA , người ta gọi vùng này là AOTEA-ROA. Sau khi nghe vị đại diện của làng này trình bày khái quát về nguồn gốc của họ, chúng tôi cũng được các thanh niên, thiếu nữ của làng này trình diễn những vũ khúc và những bài hát liên quan đến nền văn hoá của làng OATEAROA.

Để tiếp tục ngày tham quan tại Polynesian Cultural Center, chúng tôi lại đi vào làng FIJI.

Tại làng FIJI, vị đại diện cho bộ tộc nầy cũng đã cho chúng tôi biết tổng quát về đảo này như sau:

Cọng Hoà của Những quần đảo FIJI nầy là một quốc gia ở phía nam Thái bình Dương, phía Đông của Vanuatu, phía Tây của đảo Tonga và ở về phía Nam của Tuvalu. Nước nầy gồm 322 đảo, nhưng cư dân chỉ ở trong 106 đảo mà thôi. Thêm vào đó còn có 522 đảo nho nhỏ nữa. Tuy nhiên chỉ có hai đảo chính là VITI LEVU và VANUA LEVU.Hai đảo này chiếm khoảng 80% dân số toàn quốc. Cư dân ở đảo này đến từ vùng Đông nam Á châu từ lâu trước khi tiếp xúc với các nhà thám hiểm Âu châu vào thế kỷ thư 17. Mãi cho đến thế kỷ thứ 19, dân Âu châu mới đến đây lập nghiệp. Thủ đô là SUVA, nằm trên đảo VITI LEVU. Rồi cũng giống như những làng khác, chúng tôi cũng được xem các vũ khúc và những bài ca do các chàng trai và các thiếu nữ ở làng này trình diễn thật vui tươi và hào hứng.

Sau làng FIJI, chúng tôi đi băng qua một đoạn đường nhỏ rồi quẹo trái thì đến làng MARQUESAS ISLANDS .

MARQUESAS ISLANDS là một số hải đảo nằm trong quần đảo của Pháp, tiếng Pháp gọi là ILES MARQUISES hay là ARCHIPEL des MARQUISES hay là MARQUISES. Ngôn ngữ Marquesan gọi là TE HENUA(K)ENANA (North Marquesan), và TE FENUA.

ENATA (South MARQUESAN), có nghĩa là “ĐẤT CỦA ĐÀN ÔNG”.

Những đảo của MARQUESAS ở phía Bắc gồm:

- EIAO

- HATUTU

- MOTU ITI

- MOTU ‘OA

- MOTU ONE

- NUKU HIVA

- UA HUKA

- UA PU.

Những đảo của MARQUESAS ở phía Nam gồm:

- FATU HIVA

- FATU HUKU

- HIVA ‘OA

- MOHO TANI

- MOTU NAO

- TAHUATA

- TERIHI.

Thủ đô của MARQUESAS là TAI O HA ‘E tại NUKU HIVA mặc dầu thủ đô cũ là ATUONA, ở tại HIVA ‘OA vẫn coi như là trung tâm của chính phủ của các đảo ở phía Nam.

Sau khi xem văn nghệ gồm những điệu múa cũng như những bài ca mang sắc thái của nền văn hoá bộ tộc này, chúng tôi liền nhanh chân qua làng TAHITI ở bên cạnh.

TAHITI là đảo lớn nhất của quần đảo Pháp. Theo cuộc kiểm tra dân số năm 2002, dân số đảo nầy là 169,674 người, thủ đô là PAPEETE nằm ở trên bờ biển phía Tây Bắc. Về phương diện lịch sử, TAHITI cũng được biết như là OTAHEITE. Đảo nầy gồm hai phần nhỏ nằm giữa những ngọn núi hoả diệm sơn dính liền với một eo đất nhỏ mang tên Taravao. Phần tây bắc gọi là TAHITI NUI, phần đông nam gọi là TAHITI ITI hay là TAIARAPU. Các nhà khảo cổ nghĩ rằng cư dân Polynesian đầu tiên định cư tại đây đến từ Tonga và Samoa vào khoảng năm 300-800 sau công nguyên. Năm 1768, nhà thám hiểm Pháp là ông Louis-Antoine de Bougainville, sau khi ghé đảo TAHITI đã ca ngợi TAHITI như là một thiên đường hạ giới, nơi đây đàn ông và đàn bà sống rất hạnh phúc.

 

Tác phẩm Voyage autour du Monde của ông đã xiển dương và cổ xuý cho quan niệm cao quý về nếp sống như thời hoang dã tại TAHITI và đã ảnh hưởng đến những tư tưởng không tưởng của các triết gia như Jean-jacques Rousseau trước khi có cuộc cách mạng Pháp. Năm 1774, thuyền trưởng JAMES –CO OK đã đến đảo này và ước tính dân số nơi đây khoảng 200,000 người. Sau lần viếng thăm của JAMES-CO OK, các tàu của Âu châu liền ghé vào đảo nầy tới tấp mang những bệnh tật, đĩ điếm, rượu chè đến cho đảo làm băng hoại nếp sống cổ truyền cao quý của TAHITI . Vào năm 1797, các bệnh tật như bệnh đậu lào, bệnh đậu mùa đã làm dân đảo nầy chết rất nhiều khiến dân số chỉ còn lại khoảng 16,000 người. Sau đó chỉ còn 6,000 người.

 

 

Năm 1842, khi cuộc khủng hoảng tại Âu châu liên quan đến MOROCO đang leo thang giữa Pháp và Anh thì Đô đốc Dupetit-Thouars của Pháp liền thuyết phục nữ hoàng POMARE đệ tứ của Hạ uy di chấp nhận để cho Pháp bảo hộ TAHITI(protectorate). Tháng 11 năm 1843, Dupetit-Thouars tự ý cho đoàn thuỷ thủ đổ bộ lên đảo rối sáp nhập đảo vào lãnh thổ của Pháp. Vào đầu năm 1844, biến cố tại TAHITI nầy đã được loan truyền đến Âu châu. Một chính khách của Pháp là Francois Guizot, được sự hậu thuẩn của vua Louis-Philippe của Pháp, không chấp nhận sự sáp nhập nầy. Tuy nhiên chiến tranh gữa Pháp và TAHITI vẫn kéo dài cho đến năm 1847 mới kết thúc. Đảo nầy vẫn trở thành một đảo thuộc sự bảo hộ của Pháp cho đến ngày 29 tháng 06 năm 1880 mới chấm dứt, khi vua POMARE đệ ngũ bị ép buộc phải nhường chủ quyền và nền độc lập cho Pháp.

Và làng cuối cùng chúng tôi ghé vào thăm là làng TONGA.

TONGA là một quần đảo độc lập ở phía Nam Thái bình Dương. Đảo này nằm ở khoảng một phần ba giữa Tân tây lan và Hạ uy di, phía Bắc SAMOA và phía Đông FIJI.

Thủ đô là NUKU’ALOFA.

Về phương diện lịch sử, theo các nhà khảo cổ học, những người định cư đầu tiên tại Tonga đến từ các đảo Santa Cruz. Tonga là nơi lâu đời nhất của Polynesia về nghề làm đồ sành, đồ gốm, khoảng 2800-2750 năm trước đây. Tonga, Samoa, và Fiji được coi như là cái nôi của nền văn minh, văn hoá Polynesian. Vào thế kỷ thứ 15 rồi cũng vào thế kỷ thứ 17, cuộc nội chiến lại xảy ra tại đây. Nhưng đến năm 1845, Tonga được thống nhất thành một Vương quốc của Polynesia do một quân nhân trẻ tuổi đầy tham vọng, một chiến lược gia, một nhà hùng biện TAUFA’ÀHAU. Vị quân nhân nầy lấy danh xưng là TU’I KANOKUPOLU nhưng được rửa tội với tên là King GEORGE. Năm 1875, với sự giúp đỡ của nhà truyền giáo Shirly Baker, ông ta tuyên bố Tonga là một quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến.

Các vị vua và nữ hoàng của TONGA:

1-   King George Tupou I (1875-1893)

2-   King George Tupou I I(1893-1918)

3-   Que en Salote Tupou I I I(1918-1965)

4-   King Taufa’ahau Tupou IV(1965-2006)

5-   King George Tupou V (2006-hiện nay)

Vào ngày 18 tháng 05 năm 1900, Tonga trở thành một quốc gia do Anh bảo hộ theo một hiệp ước Thân hữu (A Treaty of Frienship) khi các cư dân Âu châu sống tại đây và các tộc trưởng tìm cách loại bỏ vị vua thứ hai của xứ nầy. Thoả ước Thân hữu và tình trạng bảo hộ của Tonga chấm dứt vào năm 1970 trước khi nữ hoàng SALOTE TUPOU đệ tam qua đời. Tonga gia nhập vào Khối Thịnh Vượng chung năm 1970, vào Liên Hiệp Quốc tháng 9 năm 1999.

Đáng lẽ phải ghi lại đây lúc ghé thăm Hawaii, nhưng ở phần trên tôi đã đề cập đảo OAHU nằm trong đảo Hawai nên ở đây khỏi cần ghi lại nữa.

Sau khi tham quan tất cả các làng trong Trung Tâm Văn Hoá Polynesian, chúng tôi liền đến bờ hồ, nơi được chọn để tất cả các bộ tộc biểu diễn các vũ khúc của mình trên một chiếc phà hay chiếc đò, để xem các vũ khúc do các diễn viên của các làng hồi nãy trình diễn chung trong cùng một chương trình. Trên đoạn đường từ làng của bộ tộc TONGA đến bờ hồ, trời lúc đó đã về chiều, xa xa khói lam chiều từ mái nhà tranh sau lùm cây bay lên cao làm tôi bỗng nhớ nhà da diết. Bất giác, tôi hát bài Chiều, thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh do nhạc sĩ Dương thiệu Tước phổ nhạc:

“Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa trong ngày. Tiếng buồn vang trong mây. Tiếng buồn vang trong mây. Chim rừng thôi cất cánh. Xót xa tình ngây ngây. Có ai sầu vạn cổ.Chất trong hồn chiều nay.Chất trong hồn chiều nay. Tôi là người lữ khách. Trời chiều có làm khuây. Ngỡ hồn mình là rừng. Ngỡ hồn mình là mây. Nhớ nhà châm điếu thuốc. Khói buồn vang trong mây.”

 

Vừa hát xong bài Chiều thì chúng tôi cũng vừa đến bờ hồ.

Nơi đây, tất cả các du khách đều ngồi ở những ghế đá có sẵn quanh bờ hồ nhìn ra giữa hồ để xem trình diễn. Một sân khấu lộ thiên ở cuối bờ hồ đã được dựng lên từ trước để các ca sĩ, các vũ công phụ diễn văn nghệ, cũng như để vị đại diện của TRUNG TÂM đứng giới thiệu chương trình và các tiết mục trình diễn của từng bộ tộc.

Các diễn viên của các bộ tộc gồm cả nam lẫn nữ mang áo quần đủ loại màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng,vừa hát vừa múa may quay cuồng trên một chiếc thuyền, hay phà theo những điệu vũ mang sắc thái văn hoá của bộ tộc mình, trông thật đẹp mắt, thật quyến rũ, thật thơ mộng. Đặc biệt các nam diễn viên hầu hết là những chàng trai vai u thịt bắp, nước da người nào người nấy rám nắng chứng tỏ ngày nào họ cũng phải trình diễn cho du khách thưởng ngoạn dưới ánh nắng mặt trời. Các nữ diễn viên múa thật điêu luyện, thật nhịp nhàng, uyển chuyển, chẳng khác gì vũ khúc của những tiên nữ ở trên Đào Hồng mà Lưu Nguyễn ngày xưa đã lạc bước vào thăm! Có bộ tộc thì vừa múa vừa hát những bản nhạc nghe thật nhẹ nhàng, êm dịu. Trái lại có những bộ tộc vừa hát vừa múa may quay cuồng vừa la hét thật ghê rợn như muốn ăn tươi nuốt sống người nào!

Có một chiếc thuyền vì các diễn viên trình diễn vừa múa vừa nhảy quá mạnh khiến anh chàng chèo thuyền đứng thất thế nên rớt xuống nước ướt cả áo quần. Anh ta liền phải leo lên thuyền lại gấp

 

rồi chèo cho chiếc thuyền đi nhanh để thuyền bộ tộc khác xuất hiện. Sau đây là các hình ảnh của những thanh niên và thiếu nữ của các bộ tộc trình diễn trên hồ cho du khách xem:

 

 

 

 

    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Màn trình diễn của bộ tộc này vừa chấm dứt thì một chiếc thuyền xuất hiện từ bờ hồ đằng xa từ từ tiến ra giữa hồ. Trên thuyền, một người đàn ông mang hia đội mũ, trang phục màu vàng đỏ như những vị vua chúa ngày xưa, ngồi chểm chệ trên một chiếc ghế bành được đặt giữa thuyền. Bên cạnh là một người đàn bà bận áo quần muôn màu sặc sỡ: đó là Hoàng đế và Hoàng hậu của xứ HẠ UY DI một thời vang bóng. Hai bên có hai người lính cầm giáo đứng hầu.

Chiếc thuyền này được người chèo thuyền chèo chầm chậm để du khách có thể quan sát, chiêm ngưỡng vua và hoàng hậu của xứ Hạ uy di, một xứ sở được mệnh danh là thiên đường hạ giới, một hải đảo mà văn sĩ Mark Twain gọi đây là miền đất thanh bình và hạnh phúc nằm giữa Thái bình dương với khí hậu quanh năm suốt tháng luôn luôn hiền hoà, dịu mát.

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi chiếc thuyền chở vị Vua và Hoàng hậu vừa biến mất cuối bờ hồ là xem như chấm dứt cuộc trình diễn ngày hôm nay của các bộ tộc, chúng tôi liền theo du khách vào Restaurant để chuẩn bị ăn cơm tối. Mặc dầu lúc bấy giờ đã 07 giờ chiều, nhưng vì mùa hè nên trời vẫn còn sáng. Sau khi làm thủ tục nộp vé vào cổng, cũng giống như buổi trưa lúc mới vào cổng để bắt đầu đi tham quan các làng, một thanh niên thân hình vạm vỡ và một thiếu nữ của một bộ tộc thay phiên nhau choàng cho chúng tôi mỗi người một vòng hoa tươi như mới hái từ trên cây xuống. Chúng tôi rất thích thú khi mang những vòng hoa này vì đây có lẽ là biểu tượng rõ nét nhất của cuộc du lịch trên xứ Hạ uy di nầy. Nhớ lại sáng nay khi được choàng những vòng hoa kết bằng những vỏ ốc nho nhỏ, chúng tôi cũng không được vui lắm và cũng hơi ngạc nhiên tại sao người ta lại không choàng cho mình vòng hoa mà lại choàng bằng vòng “võ ốc”. Sau khi suy nghĩ vài dây tôi nghiệm ra rằng trưa nay, có lẽ người ta chưa choàng cho mình những vòng hoa tươi, mà chỉ choàng bằng những vòng “võ ốc” vì trong thời gian đi từ làng này qua làng khác giữa trời nắng chang chang, những vòng hoa này sẽ bị héo đi chăng?

Sau khi choàng những vòng hoa xong, họ cũng mời chúng tôi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm. Khi đứng chụp hình với chúng tôi, chàng thanh niên và nàng thiếu nữ nầy cũng để các ngón tay thành biểu tượng của hangloose (relax) như chàng thanh niên và nàng thiếu nữ sáng nay vậy.

 

Sau khi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm, chúng tôi được nhận một tấm phiếu có đề số để vài giờ sau, nếu muốn lấy hình thì cầm phiếu ấy kèm thêm 15$ đến lấy hình về! Sau đó chúng tôi được mời vào phòng ăn để dùng cơm tối. Phòng ăn khá rộng rãi, có thể chứa khoảng 200 thực khách.

 

 

Đối diện với phòng ăn là một sân khấu lộ thiên tương đối rộng được thiết lập đâu từ trước, nơi đây các diễn viên của các bộ tộc sẽ trình diễn văn nghệ giúp vui lúc du khách đang ngồi ăn cơm tối. Lần lượt từng bàn nọ đến bàn kia, chúng tôi tự động sắp hàng đi lấy dồ ăn kiểu self-service rồi đem về lại chỗ ngồi vừa ăn vừa xem văn nghệ. Tuy nhiên trước khi bắt đầu dùng cơm tối, một xướng ngôn viên đứng trên sân khấu thông báo cho toàn thể thực khách rằng, ai muốn đến xem lấy con heo quay dưới đất lên thì hãy tiến về phía trái của sân khấu. Con heo này được quay theo một tiến trình đặc biệt khác với heo quay như người ta vẫn làm ở nững nơi khác. Khi đến xem, tôi thấy người ta bắt đầu lấy lớp bao bố ở phía trên ra. Khi bao bố vừa được lấy ra, hơi nóng vẫn còn đang bốc lên. Sau lớp bao bố là một lớp lá chuối phủ lên trên. Hơi nóng cũng đang bốc lên từ lớp lá chuối này. Khi lấy hết lớp lá chuối, một chiếc rọ bằng sắt hiện ra trước mặt mọi người và dưới rọ là con heo đã được quay xong đang còn bốc hơi. Nước mỡ từ thân con heo quay chảy xuống đất toả mùi thơm phức khi người ta khiêng con heo lên để đem vào trong xắt thịt cho thực khách ăn.

 

Khi con heo vừa được nhấc lên, người ta thấy một lớp đá cuội nằm dưới cùng vẫn còn nóng và đang bốc hơi. Như vậy là lò lửa được thiết lập dưới đất bằng than, rồi được đun nóng thường xuyên trong một thời gian nào đó đủ để con heo vừa được quay chín vàng là có thể lấy ra ăn được.

Sau khi xem lấy con heo quay ở lò quay ra, chúng tôi liền đi lấy thức ăn rồi vừa ngồi ăn vừa xem văn nghệ do các diễn viên của trung tâm văn hoá Polynesian trình diễn. Cũng giống như tại các làng chúng tôi ghé lại lúc buổi trưa và buổi chiều, tại đây chương trình văn nghệ gồm những vũ khúc và những bài ca cũng mang những sắc thái của nền văn hoá từng bộ tộc. Các diễn viên nam nữ trình diễn rất nhuần nhuyễn. Nhìn những trang phục đủ màu sắc loè loẹt, nghe những lời ca khi thì nhẹ nhàng khi thì man rợ, khi thì chát chúa khi thì hãi hùng, du khách ngồi xem có thể đoán được nền văn hoá của từng bộ tộc như thế nào. Nếu đem so sánh những điệu vũ cũng như những giai điệu và tiết tấu trong các bản nhạc của nền văn hoá Polynesian này, tôi thấy nền văn hoá này không khác gì nền văn hoá của các dân tộc thiểu số ở nước ta bao nhiêu cả.

Sau khoảng một giờ ngồi vừa dùng cơm tối vừa xem văn nghệ, chúng tôi lại chuẩn bị vào hội trường gần đấy để xem một màn trình diễn vĩ đại đầy đủ tất cả tiết mục mang hầu hết sắc thái văn hoá của các bộ tộc SAMOA, AOTEAROA, FIJI, HAWAII, MARQUESAS ISLANDS, TAHITI, TONGA. Sau khi nộp vé vào cửa, chúng tôi liền đi tìm số ghế để ngồi xem. Đứng trước chiếc ghế đã tìm ra số, tôi đảo mắt nhìn quanh một vòng trong hội trường mới thấy hội trường này thật là rộng, có thể chứa khoảng 10 nghìn người.

Vị trí ngồi của khán giả xuôi như mái nhà từ cao xuống thấp trông giống như chỗ ngồi ở ngoài sân vận động vậy. Mặc dầu lúc bấy giờ đã gần 08 giờ tối nhưng trời vẫn còn sáng nên chúng tôi nhìn lên sân khấu vẫn còn thấy sân khấu rất rõ ràng. Nói là nhìn lên sân khấu, nhưng thực ra là nhìn xuống vì chúng tôi đang ngồi ở một vị trí trên cao của hội trường.

Nhìn thật kỹ trái, phải, trước, sau của sân khấu, tôi thấy đây là một ngọn núi nho nhỏ được biến chế, thiết lập, xây cất với những cây cối um tùm, rậm rạp bao bọc xung quanh. Một thác nước từ trên cao chảy xuống thường xuyên trông rất đẹp mắt nằm ngay phía sau sân khấu. Sân khấu là một mặt bằng diện tích rất rộng, bên trái, bên phải, phía sau sân khấu có những lối đi bằng đường hầm để các diễn viên đi từ sân khấu ra hậu trường và từ hậu trường ra sân khấu. Đặc biệt ở phía bên trái, bên phải của sân khấu nhìn lên cao, tôi thấy có hai mặt bằng tạo thành hai sân khấu nho nhỏ nằm ở lưng chừng núi, bao quanh với những cây cối um tùm

để các diễn viên xuất hiện đột xuất khi trình diễn những vũ khúc man rợ giữa núi rừng. Tóm lại, mặt bằng sân khấu như là một thung lũng nho nhỏ được vây quanh bởi ngọn núi có cây cối rậm rạp và thác nước chảy liên tục đêm ngày.  

Sau khi tất cả du khách an tọa đầy đủ trên các dãy ghế trong hội trường thì trời cũng bắt đầu tối, đèn điện trên sân khấu được bật sáng. Một vị đại diện lên chào du khách và đọc chương trình văn nghệ giúp vui, hầu hết là những vũ khúc của tất cả các bộ tộc mà tôi đã đề cập ở trên. Sau đó các vũ khúc của các bộ tộc bắt đầu. Trang phục của các diễn viên đủ tất cả màu sắc loè loẹt, sặc sở trên trần gian này. Xanh có, đỏ có, tím có, vàng có, nâu có, vv…Nhiều vũ khúc chỉ có hai hoặc ba người, nhiều vũ khúc năm hoặc mười người, có vài vũ khúc lên đến ba bốn chục người, năm chục người, hay gần một trăm người.

Nhiều vũ khúc chỉ có nữ diễn viên của các bộ tộc trình diễn, lắm vũ khúc chỉ có nam diễn viên mà thôi, nhưng cũng có nhiều vũ khúc gồm cả nam lẫn nữ trình diễn chung với nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi những vũ khúc chỉ gồm những nữ diễn viên trình diễn, dưới ánh điện mờ mờ ảo ảo thêm vào những ánh trăng ảo ảo mờ mờ từ trên trời rọi xuống, tôi thấy những đôi tay của các thiếu nữ múa qua múa lại thật mềm mại, uyển chuyển, nhẹ nhàng, thật nhịp nhàng đều đặn, miệng luôn luôn nở những nụ cười thật là xinh. Toàn cảnh trên sân khấu trông rất đẹp mắt, thật ngoạn mục giống như những tiên nữ giáng trần đang múa những khúc nghê thường dưới chốn dương gian giữa rừng khuya đêm vắng.

Bỗng đâu nơi hai sân khấu nho nhỏ ở trên cao giữa mấy lùm cây về phía trái và phía phải của sân khấu lớn xuất hiện hai cô sơn nữ mang gùi, mắt ngẩng lên nhìn ánh trăng đêm, nhìn lá vàng rơi, miệng cất tiếng ca giống như tiếng ca của đoàn vũ nữ đang vừa hát vừa múa dưới sân khấu chính, tạo thành một cảnh thật linh động như trên nguyệt điện của chị Hằng nga. Thấy hai cô sơn nữ mang gùi vừa múa vừa hát, vừa nhìn trăng rồi nhìn lá vàng rơi làm tôi chợt nhớ đến bài Sơn nữ ca.

Bất giác tôi cất tiếng hát:

 

“Một đêm trong rừng vắng, ánh trăng chênh chếch đầu ghềnh thấp thoáng bóng cô sơn nữ miệng cười xinh xinh. Một đêm trong rừng núi, có anh lữ khách nhìn trời xa xa biết đâu sơn nữ nhìn mình đăm đăm. Môt đêm trong rừng vắng, có cô sơn nữ miệng cười khúc khích ngắm anh lữ khách rồi lòng bâng khuâng. Một đêm trong rừng núi, có anh lữ khách nhìn trời xa xa ngắm trăng say đắm một mình bâng khuâng.

Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi!

Đành lòng sống với bên rừng thơ mộng cùng hoa với lá ngàn hương.

Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ. Sơn nữ ơi!

Hoàng hôn xuống rồi đợi chờ ai đây.

Hãy nhìn trăng lên, rồi lu mờ dần. Khi nhìn chim bay, thiết tha về ngàn chờ đợi tay người sơn nữ. Khi nhìn chim bay, bay đi tìm đàn, khi nhìn gió cuốn, lá thu rời cành cuộn bay lên người sơn nữ. Sơn nữ ơi! Làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian rồi thương rồi nhớ. Sơn nữ ơi! Hoàng hôn xuống rồi đợi chờ ai đây.”

 

Tôi vừa hát bài sơn nữ ca xong thì vũ kúc cũng vừa chấm dứt, đèn điện trên sân khấu bỗng vụt sáng. Thác nước sau sân khấu vẫn đổ xuống ào ào đều đều trông thật thơ mộng.

Màn vũ tiếp theo tôi nghe giới thiệu không rõ thì bỗng đâu, mấy chàng thanh niên thuộc bộ tộc nào đó vừa nhảy ra sân khấu vừa cầm giáo, mác, đoản côn, trường côn, vừa nhảy vừa múa, vừa la, vừa hét, làm âm thanh dội cả một góc rừng thật đinh tai nhức óc. Mấy anh chàng nầy có rất nhiều hình xâm trên mặt, trên người, trên tay, sau lưng, đầu chít một vòng đầy những lông chim giống hình ảnh của dân da đỏ. Họ vừa đi, vừa chạy, vừa nhảy, vừa hét, vừa quay lui, quay tới, trông thật hãi hùng man rợ cứ tưởng như họ sắp ăn tươi nuốt sống người nào. Khoảng mười phút sau, mấy anh chàng này chia làm hai toán, mỗi toán đi vào mỗi đường hầm nằm hai bên sân khấu rồi mất dạng.

Nói chung, tất cả các vũ khúc mang sắc thái văn hoá của mấy bộ tộc thuộc quần đảo Polynesia đều được trình diễn trong đêm cho tất cả du kách xem. Vũ khúc độc đáo nhất và nguy hiểm nhất là vũ khúc múa đuốc. Gần năm, sáu chục người ở trên sân khấu cầm đuốc được thắp sáng rực cả một góc trời. Họ vừa cầm đuốc vừa nhảy vừa múa, chàng nào cũng ở trần, chỉ mang một cái váy che thân, nếu sơ ý một tí là đụng lửa vào da sẽ bị phỏng ngay. Vậy mà chẳng có chàng nào bị phỏng cả. Tuy nhiên tôi nhớ hồi còn đang theo học ở bậc trung học, một giáo sư vật lý có giải thích cho tôi nghe về một chất hoá học dưới dạng chất lỏng. Nếu bôi chất lỏng này vào da hay bất kỳ chỗ nào trên cơ thể thì khi đụng lửa, da ở nơi đó vẫn không bị phỏng. Vì vậy trong các gánh xiệc, khi một người biểu diễn đưa một que vải tẩm dầu với lửa đỏ rực vào miệng, khi lấy que lửa ra, miệng anh ta vẫn không bị gì cả nhờ đã bôi trong miệng một lớp chất nước hoá học kia rồi. Vậy thì tôi nghĩ rằng, chắc các chàng diễn viên nầy đã bôi một lớp nước hoá học kia khắp cả cơ thể rồi nên mới múa may quay cuồng mà chẳng lo ngại gì chăng?

Đó cũng là lý do tại sao khi tôi thấy một anh chàng diễn viên người hơi thấp, đầu chít một vòng dây gắn mấy sợi lông gà, tay cầm một ngọn đuốc sáng rực đứng múa may quay cuồng giữa cả một rừng đuốc trên sân khấu, quay ngọn đuốc vòng quanh cơ thể mình rất nhanh, rất mạnh, lắm lúc đụng chân, đụng tay mà chàng ta vẫn cười tươi như hoa nở!

Hầu hết du khách đều thán phục và ca ngợi màn múa đuốc nầy bằng những tràng vỗ tay liên tục, vang dội cả một góc rừng. Màn vũ khúc múa đuốc độc đáo nầy cũng chấm dứt chương trình văn nghệ trong 2 giờ đồng hồ và chúng tôi liền vội vã ra xe để về khách sạn vì lúc ấy đã 10 giờ khuya rồi. Mặc dù đường xa xứ lạ lại gặp lúc đêm khuya thanh vắng, nhưng anh “TÀI xế” lái xe rất thông thạo vì đã nhớ đường đi nên cũng nhớ đường về.

Gần 40 phút sau khi băng qua mấy xa lộ, vượt qua mấy đại lộ, xe chúng tôi đã về tới khách sạn OUTRIGGER WAIKIKI on the beach.

Đi bộ suốt ngày từ làng này qua làng khác giữa trời nắng chang chang, mặc dầu đi chầm chậm vì không nằm trong đoàn du lịch nào cả, nhưng khi vừa về đến khách sạn, chúng tôi ai nấy đều cảm thấy mỏi mệt, chân tay rã rời. Sau khi tắm rửa rồi lên giường nằm ngủ, trong lòng mới thấy khoẻ khoắn, thảnh thơi. Thật không đâu bằng nơi mình ở, không đâu bằng “chốn quê nhà”. Bất giác tôi mở miệng đọc mấy câu thơ của thi sĩ Anh quốc Lord Byran:

Home, home, home, sweet home

How humble the home may be!

There is no place like home!

 

Nằm trên giường ngủ, tôi lấy remote control bật TV lên xem tin tức nhưng rồi mấy phút sau ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Bỗng chuông điện thoại reo lên làm tôi thức giấc. Nhìn đồng hồ đã 7 giờ sáng. Nhấc điện thoại lên đã nghe anh “TÀI xế” đầu dây rủ xuống biển tắm. Thế là tôi và bà xã tôi liền vùng dậy bận đồ tắm, mỗi người mang một khăn tắm choàng lên vai rồi ra khỏi phòng, bước vào thang máy trước phòng, bấm nút. Vừa ra khỏi thang máy đã thấy anh”TÀI xế” và phu nhân đứng đợi sẵn tại đây rồi. Thế là chúng tôi kéo nhau xuống biển để tắm và hít không khí mát mẻ trong lành thêm một buổi nữa của xứ Hạ uy di giữa mùa hè nóng bức.

 

Chương trình ngày hôm nay là đi tắm tại HANAUMA BAY. Nhưng vì hôm nay là ngày thứ ba nên HANAUMA BAY đóng cửa. Vì vậy anh “TÀI xế” quyết định thay vì đi HANAUMA BAY, chúng tôi sẽ đi dọc theo bờ biển để nhình cảnh trời bao la bát ngát, nơi nào đẹp thì “dừng chân đứng lại trời non nước, một mảnh tình chung ta với ta”. Cảnh đẹp thì chụp hình, biển đẹp thì xuống tắm. Thế là sau khi tắm biển ở trước mặt kách sạn xong, chúng tôi lên phòng thay áo quần để xuống ăn điểm tâm.

Đúng 9 giờ sáng, chúng tôi bắt đầu lên đường đi dọc theo bờ biển của đảo OAHU.

Cứ lái xe đi vài ba miles, nếu thấy nơi nào cảnh đẹp có trời xanh mây trắng nắng hồng, nơi nào bờ biển có gió mát trong lành thì đất lành chim đậu. Nhờ vậy chúng tôi cũng chụp được một số hình ảnh làm kỷ niệm cho chyến du lịch trên xứ Hạ uy di này.

Sau gần mấy tiếng đồng hồ đi dọc theo bờ biển vừa chụp hình vừa ngắm cảnh, chúng tôi liền đi tìm tiệm ăn để ăn trưa vì ai nấy đều đói bụng cả rồi. Anh “TÀI xế” vội quẹo trái, rồi nhắm thành phố trực chỉ. Sau khi vượt qua một đại lộ, băng qua hai đường nhỏ, khi thấy một tiêm ăn của người Thái trước mặt, anh “TÀI xế” liền lái xe vào parking-lot của tiệm ăn rồi dừng xe lại. Khi chúng tôi vào trong tiệm ăn thì chủ tiệm bảo rằng, tiệm ăn đã đóng cửa và 5 giờ chiều mới bắt đầu mở lại. Tuy nhiên sau vài phút “thương lượng”, chủ tiệm bằng lòng dọn cơm cho chúng tôi ăn sau khi anh ta được mấy người giúp việc trong nhà bếp chấp thuận nấu cho chúng tôi vì chỉ có 4 nguời ăn chung một mâm mà thôi. Trong thời gian ngồi chờ đầu bếp bưng đồ ăn ra, tôi đến xem hình mấy bức tượng được đặt ở sát lối đi vào cửa chính của tiệm ăn. Có một bức tượng đối diện với cửa ra vào được thờ phượng rất nghiêm trang. Có lẽ đây là thần tài mà ở bất kỳ tiệm ăn nào của Thái Lan cũng thờ cả.

 

Sau khi dùng cơm trưa xong, vì trời còn quá sớm khoảng 4giờ chiều mà ánh nắng vẫn còn gay gắt nên chúng tôi quay ra bờ biển lại, đến gần địa điểm chụp hình sáng nay đậu xe lại ngồi hóng mát. Tại đây, chúng tôi chụp thêm một số hình ở trên bờ biển nữa và khoảng một giờ sau mới trở về khách sạn để nghỉ ngơi.

Sau ngày đi dọc theo bờ biển đảo OAHU để chụp hình và tắm nắng, chúng tôi chỉ còn lại 2 ngày nữa là chấm dứt cuộc du lịch trên xứ Hạ uy di thơ mộng này. Nói là 2 ngày chứ thực ra chỉ còn một ngày nữa thôi vì ngày mốt lên máy bay về lại California rồi.

Vì vậy sau khi thức giấc, như thường lệ tôi và bà xã tôi dắt tay nhau xuống bờ biển để đi bộ dọc theo bờ cát trắng trước mặt khách sạn, vừa đi vừa hít khí trời vùng biển Hạ uy di lần cuối để ngày mai giã biệt, trở lại quê nhà. Và cũng như sáng qua, chúng tôi cũng dùng điểm tâm tại khách sạn với coupon cuối cùng mà nhân viên khách sạn trao cho lúc mới đến mấy ngày trước. Đúng 9 giờ sáng, chúng tôi lại lên xe và anh “TÀI xế” vì đã thuộc đường đi nước bước nên đã cho xe băng qua hai ba đại lộ và phút chốc đã chạy bon bon trên con đường dọc theo bờ biển như ngày hôm qua. Gần một giờ sau chúng tôi đã đến Vịnh HANAUMA. Vừa quẹo xe vào để đến parking-lot, anh “TÀI xế” thấy có bảng đề hết chỗ đậu nên phải cho xe lui ra lại ngoài đường rồi tiếp tục lái dọc theo bờ biển tìm chỗ đậu xe. Đi được khoảng vài trăm thước thấy có rất nhiều chỗ cho xe đậu, nhưng vì hơi xa nên anh “TÀI xế” lại cho xe quay trở lại để vào parking-lot hồi nãy xem sao.

Cuối cùng chúng tôi lại vào được vì có một số người vừa mới ra về nên parking-lot dư nhiều chỗ trống. Sau khi xuống xe, chúng tôi mỗi người cầm một xách tay đựng áo quần tắm biển và theo đoàn du khách vào sắp hàng để mua vé. Mỗi vé vào cổng 5 Mỹ kim .

Riêng những cư dân thuộc tiểu bang này gọi là KAMA’AINA vào cửa khỏi trả tiền nhưng phải trình thẻ căn cước cho người gác cổng xem. Sau khi mua vé xong, chúng tôi được lệnh phải vào hội trường xem video “EDUCATIONAL VIDEO”. Đi vào hội trường phải băng qua phòng “Bảo tàng viện”, nơi đây rất nhiều tranh ảnh liên quan đến Vịnh HANAUMA được treo trên tường và nhiều bể nước nho nhỏ nuôi rất nhiều loại cá đủ màu sắc.

 

Sau khi vào hội trường để xem video, chúng tôi được một nhân vật đại diện của vịnh HANAUMA trình bày tổng quát về lịch sử địa lý của vịnh này. Nhờ vậy chúng tôi mới được biết rằng, HANAUMA BAY(đọc là ha-NOW-mah) là vịnh do một miệng núi lửa tạo thành. Vịnh này nằm dọc theo bờ biển phía đông nam của đảo OAHU, phía đông của HONOLULU, nằm trong đảo Hạ uy di. Hàng chục nghìn năm trước đây (khoảng trên 80,000 năm), nhiều miệng núi lửa được hình thành dọc theo bờ biển phía đông nam của đảo OAHU. Không như loại dung nham chảy ra rồi hình thành đảo Hạ uy di, phún xuất thạch ở giai đoạn cuối tại đảo OAHU này nổ rất mạnh rồi phun ra tạo thành miệng núi lửa HANAUMA rồi từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, lâu ngày biến thành vịnh HANAUMA. Đặc biệt tại vịnh HANAUMA này, dọc theo phía bên trái của vịnh có Toilet Bowl, một chậu suối khoáng thiên nhiên khi dâng cao lúc hạ xuống theo thuỷ triều. Vào những lúc thuỷ triều dâng cao, sóng lớn rất nguy hiểm có thể làm chết người nên đã cấm mọi người vào vùng này tắm từ năm 1990.

 

Đây là một trong những trung tâm du lịch nổi tiếng nhất của xứ Hạ uy di. Hằng năm có trên 3 triệu du khách đến tham quan.

Theo sự thuyết trình của vị đại diện này, sở dĩ chúng tôi phải xem video để biết khi vào tắm nơi vịnh này phải làm gì để khỏi vi phạm những qui định của vịnh. Video chỉ cho những du khách mới đến không được đụng chạm gì đến những sinh vật đang sống trong vịnh này, đặc biệt là những con rùa (honu) và phải cẩn thận về những tảng đá ngầm dưới nước. Du khách nào đã xem video rồi sẽ được nhận một mảnh giấy chứng nhận đã được xem, để lần sau khỏi cần xem lại trong vòng một năm nếu muốn đến tham quan vịnh lại.

Trên đỉnh miệng núi lửa của vịnh có một tiệm cafeteria bán đầy đủ thức ăn nội địa. Và vì bờ biển nằm dưới dốc thoai thoải nên từ trên hội trường xuống, ai muốn khỏi mệt lúc đi xuống dốc sẽ có xe chở xuống nhưng phải trả một người 50 cent, đi lên một đô la.

HANAUMA vừa là nơi bảo tồn thiên nhiên, vừa là nơi duy trì và bảo tồn các sinh vật của đại dương. Nơi đây có khoảng 450 loại sinh vật nhiệt đới đầy màu sắc như sao biển, rùa biển, lươn, bạch tuộc, cá màu, rong tảo vàng, và rất nhiều sinh vật dưới biển đặc biệt của xứ Hạ uy di nữa. Vì vậy du khách khi đến đây phải theo luật lệ của vịnh đã ấn định, không được bắt cá đang lội, không được bắt rùa đang bơi, không được đạp lên san hô, cẩn thận lúc lội dưới nước vì đá ngầm và san hô rất nhiều. Nếu bơi lội mà đụng san hô hay đá ngầm có thể làm ta chảy máu rất nguy hiểm. Những người nào yếu tim hay bệnh hoạn phải có người lội theo bên cạnh để canh chừng. Vì vịnh có một địa hình địa vật đặc biệt nên khi du khách đến đây để tắm, rất nhiều người mang theo dụng cụ của người nhái để vừa tắm vừa lặn xuống nước xem cá bơi, rùa lội vv…

Sau khi nghe thuyết trình và xem video xong, chúng tôi liền theo đoàn du khách rời hội trường lên xe đò để xuống bờ biển tắm. Dĩ nhiên mỗi người chúng tôi phải trả 50 cent cho anh tài xế để khỏi đi bộ xuống dốc. Vừa xuống đến bờ biển chúng tôi thấy du khách đã nằm la liệt dọc theo bãi cát trắng từ lâu rồi. Hầu hết người ta đều chọn nơi ngồi là dưới bóng dừa vì trời nắng quá. Kẻ thì nằm nghỉ, người thì bơi ở ngoài xa, kẻ thì đi dạo trên bờ, người thì nằm sấp trên cát tắm nắng. Chúng tôi liền chọn một chỗ tương đối đỡ nắng dưới bóng một cây dừa không được nhiều lá lắm. Sau khi đã có vị trí ngồi nghỉ và hóng mát, bà xã tôi và phu nhân của anh”TÀI xế” chỉ ngồi nhìn ra biển cả vì trời đang nắng gay gắt. Còn tôi và anh “TÀI xế” rủ nhau xuống tắm. Anh “TÀI xế” không quên mang theo hai bộ đồ lặn của người nhái mà anh ta đã mua sẵn từ lâu. Lần đầu tiên tôi mới xử dụng bộ đồ lặn này nên tập hơi lâu. Anh “TÀI xế” chỉ cho tôi mang cặp kiếng vào như thế nào, bỏ ống thông hơi vào miệng để thở như thế nào, mang đôi chân vịt vào ra làm sao, khi bơi phải như thế nào vv…Cuối cùng mất khoảng gần mười phút tôi mới vừa bơi vừa thở được.

Vì lần đầu tiên tôi thở bằng miệng khi đang bơi nên hơi khó chịu nhưng mấy phút sau cũng quen dần. Khi thấy tôi bơi thạo rồi anh “TÀI xế” liền rủ tôi ra xa hơn một tí nữa, bơi xuống dưới nước sâu sẽ thấy đủ loại cá xanh, đỏ, tím, vàng. Vì lớn tuổi và đang đau cột sống nên tôi không dám ra xa nữa, chỉ bơi trong vùng nước cạn mà thôi.

Thế là tôi lặn xuống nước rồi bơi chầm chậm, vừa bơi vừa giữ thăng bằng sao cho ống thở khỏi vô nước. Mấy phút sau tôi đã quen dần và sau đó tôi đã bơi song song với đàn cá đang tung tăng lội dưới nước.

 

Bơi trong vùng nước cạn vậy mà tôi cũng thấy có rất nhiều đàn cá đủ màu sắc. Mặc dầu xem video đã biết không được sờ mó hay bắt cá, nhưng tôi cũng với tay bắt thử một con xem có được không nhưng thật khó mà bắt được nó. Thảo nào người xưa đã nói “như cá gặp nước, như rồng gặp mây” thì làm sao mà mình bắt nó bằng tay được!

 

Khoảng nửa giờ sau tôi bắt đầu thấy lạnh nên nói vói ra cho anh “TÀI xế” biết là tôi lên trước. Sau đó anh “TÀI xế” tiếp tục lội thêm vài phút nữa rồi cũng lên luôn. Sau khi vào phòng tắm nước ngọt xong, chúng tôi ra bờ biển ngồi nghỉ thêm vài phút nữa rồi cùng nhau khăn gói để ra về. Từ bờ biển để lên trên kia đường rất dốc nên chúng tôi quyết định lên xe đò cho đỡ mỏi chân. Dĩ nhiên mỗi người phải trả một đô la tiền xe.

Sau khi đến parking-lot, chúng tôi vội vàng leo lên xe để đi tìm tiệm ăn vì bụng người nào người nấy đều đói cồn cào cả rồi. Tuy nhiên khi vào một siệu thị, chúng tôi thấy có tiệm Mac Donald gần đấy nên ghé vào mua mì sandwich và ít nước ngọt rồi lại lên xe đi tìm nơi nào có bóng mát để ngồi ăn. Vì anh “TÀI xế” lái xe ra lại đường cũ nên đi đâu cũng thấy biển, đứng đâu cũng thấy biển, ngồi đâu cũng thấy biển, nhìn đâu cũng thấy biển. Vì vậy chúng tôi quyết định xuống bờ biển lại ngồi ăn cho mát. Sau khi ăn uống xong chúng tôi lại xuống biển tắm một lần nữa và đây là lần tắm cuối cùng trên bãi biển Hạ uy di vì ngày mai chúng tôi lên máy bay trở về California rồi, không còn dịp nào để tắm nữa. Khoảng 6 giờ chiều chúng tôi lên xe trở về khách sạn. Sau khi tắm rửa thay áo quần xong, chúng tôi lại lên xe để anh” TÀI xế” chở đến tiệm cơm Nhật bản ăn cơm tối như chương trình đã được vạch sẵn. Sau khoảng 20 phút xe chúng tôi đã đến tiệm ăn Nhật bản có tên là BENIHANA.

Đây là một loại Steak House mà thức ăn được nấu ngay trên bàn mình đang ngồi. Vì đến đúng giờ ăn tối nên thực khách rất

đông. Chúng tôi phải đứng ở ngoài chờ đến lượt mình mới được gọi vào. Trong lúc chờ đợi vào ăn, tôi đi bộ đến ngã tư gần đấy chụp một bức hình về ba cây trồng đối diện xéo vời nhà hàng Nhật. Ba cây nầy được gắn hằng trăm bóng điện nho nhỏ từ gốc lên cành trông thật đẹp mắt và sáng rực cả một góc đường về đêm.

 

Sau đó một nhân viên nhà hàng hướng dẫn chúng tôi vào ngồi một bàn ở góc trong cùng. Cùng ngồi chung một bàn với chúng tôi có hai cặp vợ chồng già người Mỹ mà sau đó chúng tôi được biết họ cũng ở California, quận Riverside qua đây du lịch. Trong lúc chờ đợi đầu bếp mang thức ăn ra nấu trước mặt, chúng tôi chuyện trò qua lại rất vui vẻ. Nhờ cuộc chuyện trò thân mật đó, chúng tôi mới biết hai Ông Mỹ nầy một người trên 70 tuổi, một người trên 80 tuổi. Ông già trên 80 tuổi lãnh hai, ba lọai tiền hưu tha hồ lấy tiền mà đi du lịch. Ông già 80 tuổi nầy trước đây có ở tại Đà nẵng trong đơn vị hải quân. Sau đó lại thuyên chuyển vào Sàigòn một thời gian và cuối cùng trở về Mỹ lại rồi về hưu. Còn hai bà Mỹ tuổi cũng thất thập cổ lai hy nhưng cũng thấy còn khoẻ mạnh lắm. Hai bà này thỉnh thoảng mới nói vài lời, còn hai ông già thì đối thoại với chúng tôi liên tục. Sau đó chúng tôi chụp chung một bức hình làm kỷ niệm.

Chúng tôi vừa chụp hình xong thì nhân viên nhà hàng mang menu đến để chọn thức ăn.

Ai chọn thức ăn nào thì anh đầu bếp đứng sẵn sàng trước bàn để nấu thức ăn đó vì “lò bếp” là mặt bàn bằng thép được làm nóng bằng một dòng điện chạy vào. Tôi thì thích cá kho, ông Mỹ thì thích beef steak, anh “TÀI xế” lại muốn cua rang muối vv…Tất cả thức ăn người đầu bếp từ từ nấu ngay trước mặt chúng tôi. Nếu kho cá, một con cá sống còn nhảy, được mang đến thả lên bàn, anh đầu bếp bắt đầu cầm dao tung lên trời, dao vừa rơi xuống anh ta chụp ngay rồi quay vài vòng, múa vài chiêu thật đẹp mắt. Sau đó tay trái cầm một cái nĩa đè con cá (bây giờ đã nằm im phăng phắc vì nóng quá), tay phải cầm con dao lột vảy, chặt đuôi rồi khứa nhẹ ba khúc, đoạn mổ bụng lấy ruột ra vất đi rồi dùng con dao lật con cá lên xuống vài lần cho đến lúc cá vừa chín vàng thơm phức thì anh ta trộn gia vị vào. Mọi động tác anh ta làm thật nhanh nhẹn và rất đẹp mắt khi nấu bất kỳ loại thức ăn nào cho thực khách. Anh ta ít nói, chỉ lặng lẽ làm việc như chiên cá, xào thịt, trộn gia vị vv…vì quá nhiều món cần phải làm gấp để thực khách ăn cho kịp.

Vì khách hàng thích ăn món nào thì nói cho anh ta món đó nên cứ mỗi thức ăn của một khách hàng, anh ta phải làm thật nhanh để cung cấp thức ăn ngay cho thực khách. Nếu hai hay ba thực khách cùng thích dùng một món giống nhau thì anh đấu bếp này đỡ vất vả. Anh ta chỉ việc làm một loại cho nhiều rồi cung cấp cho thực khách ngay, khỏi phải mất nhiều thời gian vì nhiều loại khác nhau.

Lúc nhìn anh đầu bếp đang nấu ăn trước mặt, tôi có hỏi anh ta người nước nào thì anh ta bảo là người Lào, qua đây lập nghiệp đã lâu rồi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi anh đầu bếp đang nấu thức ăn, một nhân viên nhà hàng mang máy chụp hình đến xin chụp một tấm hình làm kỷ niệm. Mấy phút sau anh ta mang hình đến và bảo rằng nếu thích thì lấy và trao cho anh ta 15đô la! Chỗ nào cũng làm tiền cả, từ trung tâm văn hoá POLYNESIAN đến nhà hàng ăn uống. Vì là hình kỷ niệm và cũng vì thấy tội nghiệp cho anh chàng chụp hình nên chúng tôi cũng lấy một tấm hình. Sau đó một nhân viên nhà hàng bưng cơm nóng ra để sẵn trước mặt chúng tôi để món ăn nào vừa nấu xong chúng tôi ăn liền cho nóng. Thấy đồ ăn ngon quá anh “TÀI xế” liền gọi hai ly rượu sakê Nhật, mấy ly rượu cocktail để chúng tôi vừa ăn vừa uống cho ngon miệng, vừa thưởng thức rượu sakê Nhật và rượu cocktail ra làm sao. Uống rượu sakê Nhật tôi thấy không ngon bằng rượu nếp của ta, còn rượu cocktail thì thấy là lạ vì có mùi gì vừa thơm lại vừa the, vừa ngọt. Chúng tôi vừa ăn anh đầu bếp vừa nấu, anh đầu bếp vừa nấu chúng tôi lại vừa ăn, phút chốc bữa cơm rồi cũng tàn dần và chấm dứt. Chúng tôi liền đứng dậy chia tay nhau ra về và hẹn hai cặp vợ chồng già nguời Mỹ sẽ gặp nhau lại tại California.

 

Về đến khách sạn gần 11 giờ khuya, chúng tôi liền dọn dẹp đồ đạc cho ngăn nắp thứ tự, sắp xếp áo quần vào valise gọn gàng để sáng mai thức giấc là lên xe đi, khỏi phải vội vàng hấp tấp. Sau khi chuẩn bị hành trang xong, chúng tôi liền lên giường ngủ sớm để sáng mai thức dậy cho đúng giờ.

 

Đúng 6 giờ sáng, vừa nghe đồng hồ báo thức từ chiếc cell phone, chúng tôi liền vùng dậy ngay. Nghe tiếng sóng vỗ ầm ầm ngoài xa, biết rằng sắp ra đi, biết rằng sắp giả từ, tôi và bà xã tôi tiến về phía cửa nhìn ra ngoài biển cả mênh mông bát ngát, nhìn xuống bãi biển sóng đang vỗ rì rào mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách, người sắp đi rồi, còn gì đâu nữa, mà khóc với cười!”. Bất giác tôi đọc mấy câu thơ của thi sĩ Lord Byron:

 

When we two parted

In silence and tears

Half broken hearted

To sever for years.

 

 

mà một thi sĩ nào đó đã dịch là:

 

“Giờ phút chia ly đã điểm rồi

Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi

Mang mang nửa cõi lòng tan tác

Ly biệt xui chi tủi trọn đời.”

 

Bỗng chuông điện thoại reo lên, tôi nhấc điện thoại lên nghe thì từ đầu dây, anh”TÀI xế” hỏi chúng tôi đã chuẩn bị hành trang xong xuôi chưa để xuống ăn điểm tâm mà lên đường.

Sau đó chúng tôi liền xuống thang máy, ra nhà điểm tâm ăn qua loa vài món rồi lên lại phòng xách hành trang xuống văn phòng làm thủ tục trước khi rời khách sạn.

Khoảng 5 phút đợi chờ, nhân viên khách sạn đã lái xe ra cho chúng tôi và chúng tôi bắt đầu lên xe nhắm hướng phi truờng HONOLULU trực chỉ. Vì sợ đến trễ sẽ vội vàng mệt nhọc nên chúng tôi quyết định đi thật sớm cho thoải mái .Theo chương trình, đúng 11 giờ máy bay sẽ cất cánh. Vì vậy chúng tôi quyết định đến phi trường trước khi bay 2 giờ để nếu vừa kẹt xe vừa làm thủ tục mất thì giờ cũng không thể nào bị trễ được. Vì đã thuộc đường đi nước bước nên anh “TÀI xế” lái một mạch đã đến phi trường. Sau khi làm thủ tục trả xe rồi leo lên xe của hảng để vào phi trường làm thủ tục trước khi bay, chúng tôi đến trước giờ bay 1 giờ 30 phút nên cùng nhau ngồi chờ. Trước khi đi vào phòng đợi, chúng tôi phải đi ngang qua một phòng, tại đây có một ban nhạc đang trình diễn cho du khách xem trước khi du khách giả từ Hạ uy di. Khi đi ngang qua đây, tôi thấy một thiếu nữ có trang phục giống các cô đã trình diễn tại trung tâm văn hoá POLYNESIAN, cổ choàng một vòng hoa tim tím, vừa múa vừa hát theo tiếng đàn, tiếng trống của các nhạc công rất đẹp mắt và thật dễ thương.

Sau những phút chờ đợi, chúng tôi được lệnh vào phòng để lên máy bay. Đúng 11 giờ, máy bay bắt đầu cất cánh rời phi trường HONOLULU để bay về California.

Ngồi trên máy bay nhìn xuyên qua cửa kính, tôi thấy thành phố HONOLULU mỗi lúc một xa dần, xa dần, rồi quần đảo Hawaii cũng dần dần nhỏ lại, dần dần lu mờ. Thôi thế là hết!

Biết bao giờ trở lại Hạ uy di để nghe sóng vỗ rì rào suốt ngày đêm trên bờ biển. Biết bao giờ trở lại Hạ uy di để tắm nắng chiều trên bờ cát trắng dưới những bóng dừa loang loáng ánh nắng vàng. Xin tạm biệt Hawaii, xin tạm biệt các cô sơn nữ rất khả ái dễ thương như những nàng tiên giáng trần miệng luôn luôn nở những nụ cười tươi như hoa nở. Xin tạm biệt các chàng trai thân hình vạm vỡ, nước da ngâm ngâm của các bộ tộc SAMOA, AOTEAROA, FIJI, HAWAII, MARQUESA, TAHITI. Ngồi trong máy bay, tôi đưa tay vẫy chào Hạ uy di lần cuối mà lòng xao xuyến bâng khuâng, bất giác tôi cất tiếng hát bài Biệt ly của nhạc sĩ Doãn Mẫn:

 

Biệt ly nhớ nhung từ đây
Chiếc lá rơi theo heo may

Người về có hay
Biệt ly sóng trên giòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi
Ngày tháng trôi cùng lướt trôi
Mấy phút bên nhau rồi thôi
Đến khi bóng em mờ khuất
Người về u buồn khắp trời
Người ra đi với ngàn nhớ thương Mấy phút bên em rồi thôi
Dáng em sống trong hồn tôi
Xa cách ta còn tìm đâu ngày vui Biệt ly ước bao đường tơ
Réo rắt trong muôn hương mơ
Thành sầu tiễn đưa
Biệt ly ước mong hoàng hôn
Êm đềm về ru ấm tâm hồn
Người yêu đương cách xa
Đành sống vui cùng gió sương.
 

California, ngày 14 tháng 10 năm 2006.
Dương viết Điền.

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Saturday, 08 December 2012 10:29 )  
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account