CHANGE COLOR
  • Default color
  • Brown color
  • Green color
  • Blue color
  • Red color
CHANGE LAYOUT
  • leftlayout
  • rightlayout
SET FONT SIZE
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Change COLOR/LAYOUT/FONT

Câu Lạc Bộ TÌNH NGHỆ SĨ

TRANG CHÍNH Văn Học Văn Biên Khảo Viết Cho Tháng Tư Năm 2012

Viết Cho Tháng Tư Năm 2012

E-mail Print
User Rating: / 0
PoorBest 

 

Thang_Tu_Buon_copyNhà văn trẻ Huỳnh Thục Vy hiện còn ở Việt Nam trong bài viết về những cảm nghĩ của cô về tháng Tư buồn, bài viết đề cập về nhận xét của Thống tướng Westmoreland, cựu Tư Lệnh chiến trường Việt Nam của quân đội Đồng minh, ông cho biết viên tướng đối thủ tại Bắc Việt là Võ Nguyên Giáp thú nhận miền Bắc Việt Nam đã nướng nửa triệu quân Cộng Sản vào công cuộc thôn tính miền Nam. Điều này cho thấy tính chất vô nhân đạo của đảng CSVN xem mạng sống con người rẻ mạt như phương tiện hy sinh để đạt cứu cánh. Trong cùng bài viết thì lập trường của những nhà lãnh đạo miền Bắc rất quyết tâm và ngông cuồng khi chủ trương: "giúp Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Hay như Lê Duẩn từng nói : “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN, cho cả nhân loại”. Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt".

Thật vậy, một khi đất nước Việt Nam kiệt quệ và suy sụp từ gánh nặng của cuộc chiến, quân đội Việt Nam mệt mỏi rả rời thì Trung Cộng thôn tính Việt Nam dễ dàng như âm mưu của nước Đại Hán ở phương Bắc.

Ngày 30/4 lởn vởn trong tâm trí khó phai của tôi vẫn là ngày quốc hận đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chịu thiệt thòi vô lý vì cuộc chiến xét ra không cần thiết, không ích lợi cho dân tộc Việt Nam, nhưng tham vọng của các nhà lãnh đạo Cộng Sản tại miền Bắc cam tâm đưa đất nước vào vòng nô lệ bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản. Người dân Miền Nam chịu đựng bao cuộc tấn công tàn nhẫn của miền Bắc, những chiến từ nghe quen thuộc như từ Tổng công kích tết Mậu Thân thảm sát 1968 đầy máu lửa, Mùa Hè đỏ lửa 1972, rồi Tổng tấn công Mùa Xuân 1975. Với dân chúng Miền Bắc còn tệ hơn sau những phong trào bần cùng hóa qua vũ Cải cách ruộng đất, triệt hạ trí thức và văn hóa như phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, và cả nước sau ngày 30/04/1975 đã chứng kiến hệ quả của cuộc chiến tranh tương tàn khiến quốc gia tụt hậu, Việt Nam đã bị bỏ xa bởi các lân bang như đã thua sút Thái Lan đến gần 100 năm phát triển liên tục, thua Singgapore gần 160 năm, thua Nam Dương độ 50 năm phát triển không ngừng, những nước này trước đây được giới kinh tế tài chánh thế giới đánh giá là nghèo hơn Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta rất nhiều.

Ngẫm nghĩ lại ngày 30/04 khiến cho người dân Miền Bắc nói riêng và tất cả người dân Việt Nam nói chung đau buồn vì ngày 30-4 đưa đảng Cộng Sản cơ hội thống trị cả nước trong tan hoang, mất mát. Cả nước giờ đây nhận chân ra 37 năm qua là những nguy khốn, những thảm cảnh tai họa cho sự suy vong của dân tộc, nhất là nạn Hán hóa đang gặm nhấm quê hương từng ngày.

Nhà thơ Trần Văn Lương sáng tác bài thơ về ngày 30/04 với tên tựa đề là "Hãy Chụp Giùm Tôi", hãy chụp những bức ảnh quê hương trong đọa đày, xin trích đoạn:

 

"Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,

Lấn vào đất của ông cha để lại,

Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,

Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu...

 

Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,

Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,

Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,

Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.

 

Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,

Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.

Rồi tha phương lữ thứ,

Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.

 

Lòng người chóng nguôi ngoai,

Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!"

Trần Văn Lương

Cali, đầu mùa Quốc Hận

oOo

Dịp 30/04 là thời gian mà hàng triệu con dân Việt Nam trăn trở cảm nghĩ, oằn oại tâm thức vì những ký ức, những hồi tưởng từ xa xưa trở về, xin tiếp tục lược qua một số văn thơ nhạc tiêu biểu cho mùa tưởng niệm Quốc Hận, qua những ngòi bút, những áng thơ, những nốt nhạc sau đây.

Bàn về biến cố tháng Tư 1975 trong văn học ViệtNamhải ngoại, nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh viết như sau:

“Tháng Tư năm 1975. Thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ. Ba mươi mấy năm trôi qua. Bao nhiêu là hồi ức. Không phải riêng với từng cá nhân mà còn với rất nhiều người và nói rộng ra với cả dân tộc chúng ta nữa. Những vết chém tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tâm não nhiều thế hệ. Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư là lại một dịp để những hồi ức cũ, những đau xót xưa lại trở về. Hôm nay, chúng ta hãy thử giở lại những trang sách, đọc lại những đoạn văn, những câu thơ đã qua của văn học ViệtNamđể nhìn lại những tâm tình của một thời đại lịch sử đầy biến động của đất nước ta.

Có nhiều người nhận định rằng cuộc chiến tranh đã qua và bây giờ mọi người hãy bỏ quên quá khứ đau thương để hướng về tương lai của dân tộc. Nếu chúng ta giở lại những trang sách viết về ngày 30 tháng Tư năm 1975 đau buồn của lịch sử có phải là hành động đào sâu thêm hố thẳm ngăn cách dân tộc?

Thực ra, thì không hẳn nhắc lại chuyện xưa là để làm sống lại những năm tháng chiến tranh máu lửa, để chuyện quá khứ vẫn mãi đeo đuổi trong tâm thức mọi người.

Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy. Trong thời điểm hiện tại, đọc những bài thơ, những bài văn viết về biến cố này, không phải là làm nặng nề thêm sự chia rẽ dân tộc mà chính là dịp để mỗi người chúng ta nhìn lại lịch sử để hiểu biết thêm những kinh nghiệm đắng cay của những quốc gia nhược tiểu. Qua một cuộc chiến, dĩ nhiên có bên thua và bên được. Nhưng, ở chiến tranh ViệtNam, dân tộc ViệtNamlà nạn nhân của những thế lực bên ngoài. Hiện trạng tụt hậu xã hội đến bây giờ vẫn là do một chủ nghĩa ngoại lai và một chế độ độc tài toàn trị...

Một điều khác, chúng ta không thể nào quên được những anh hùng trong cuộc chiến, những người lính vô danh đã nằm xuống cho lý tưởng của mình. Ngày 30 tháng Tư mỗi năm, nhắc đến họ như thắp lên nén hương lòng để tưởng niệm...”

Bị kẹt lại trong xứ năm 1975, nhà văn Nguyễn Thụy Long (1938-2009) viết về "Ngày 30 Tháng Tư" trong cảm nghĩ về cuộc sống sau khi đoàn quân CSVN vào chiếm đoạt miềnNam: (bài viết trong năm 2004)

“Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên, trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng, vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam. Tôi là dân bại trận ở lại ViệtNam.

Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có, gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy. Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo SỐNG bị giết chết vì đạn pháo kích lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy thoát ra được đến cửa biển Cần Giờ...

Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng Tư trên đất nước “Xã Hội Chủ Nghĩa VN,” kể ra thêm mệt nhưng không thể không kể. Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.

Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứng kiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh như thế mà buồn sao?

Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chíNam. Các ông cai ngục, cai tù được gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại. Đọc qua giấy này họ mới té ngửa ra, lúc ấy mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian. Còn người ở lại được nhà trại nói lấp lửng chừng nào “học tập tốt” thì về. Có người phải ở trong tù vài chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt. Tôi không hiểu người ta dựa vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy,

với lời kết án thật mơ hồ.”

Một bài viết khác là “Vết thương ngày 30 tháng 4”, tác giả kể về những khó khăn cho cả đất nước hai miền đều là nạn nhân của chế độ CSVN:

"Ngày 30 tháng 4, 1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đã nói với các cộng sự viên của mình là một trang sử vừa lật qua, có những lúc phải chống nhau nhưng cũng có những lúc phải cố gắng để bắt tay nhau xây dựng đất nước. Tôi chấp nhận thất bại và bằng lòng trả giá cho sự thất bại đó bằng cách từ đây không đòi hỏi bất cứ một vinh dự nào. Tôi chỉ còn một tham vọng làm được một vài điều lợi ích cho đất nước trong vai trò của một chuyên viên. Nhưng chỉ vài ngày sau tôi hiểu là ngay cả cái ao ước rất tầm thường đó cũng không thực hiện được... Người miềnNammất tài sản, địa vị và vai trò. MiềnNammất ngôn ngữ, mất tên và mất cả căn cước. Ðây không phải là một cuộc thống nhất, mà là một cuộc chiếm đóng. Hòa giải và hòa hợp dân tộc được hiểu một cách giản dị là tha chết cho kẻ chiến bại...

Ngày 30 tháng 4, 1975 không phải chỉ là một tủi hận cho người miềnNam. Ðối với người miền Bắc, đặc biệt là đối với những người đã đóng góp cho guồng máy cộng sản, sự tủi hận có lẽ còn lớn hơn. Họ không chịu đựng từ 1975, mà từ hai mươi năm về trước. Họ đã phải im lặng trong đợt cải cách ruộng đất, đã phải chà đạp lên chính lương tâm mình để đánh hôi nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, nhóm Xét Lại Chống Ðảng. Họ không những chỉ là những nạn nhân chịu đau mà không dám than khóc, họ còn bị bắt buộc phải làm đồng lõa cho cái tồi bại. Khi một đứa con bị bắt buộc phải chỉ vào mặt mẹ mà quát, “Con này, mày có biết tao là ai không?” thì không phải chỉ có đứa con và người mẹ là khốn khổ, không phải chỉ có chế độ là đểu cáng, mà cả dân tộc cũng bị làm nhục. Và nhục nhã nhất là chính những người phải tiếp tay cho guồng máy ghê tởm đó. Nhân cách và sự tự trọng không thể sống sót, người ta sau đó không còn cả lòng tự hào để nghĩ đến chống lại nữa."

(theo tác giả Nguyễn Gia Kiểng)

GS. Trần Thủy Tiên gởi gấm ý tưởng qua bài viết nhắn nhủ tuổi trẻ sinh sau không biết nhiều về CSVN, bài viết "Ý Nghĩa Của Ngày Quốc Hận 30/4":

"Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Việt Nam Cộng Hoa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình."

Nhà văn Trần Trung Ðạo trong bài ghi nhận những cảm nghĩ về biến cố 30.04/1975:

"Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, với tôi, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người VN có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau, bức xúc khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ.

Sức mạnh của dân tộc VN không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Sinh mệnh dân tộc VN do chính nhân dân VN quyết định. Và do đó, con đường chung để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác."

Tôi nhớ câu chuyện về nhà văn Dương Thu Hương khi bà theo đoàn quân Bắc Việt "tiếp thu" Sài Gòn, sự chiến thắng của miền Bắc khiến cho bà và nhiều người dân miền Bắc nhận chân ra sự lừa phỉnh, sự gian trá của cấp lãnh đạo CS Bắc Việt khi bi thảm hóa đời sống "bị kềm kẹp" của nhân dân miền Nam, nhà văn Dương Thu Hương đã bật khóc vì sự tiến bộ của miền Nam, khác với những gì bà và các bạn bị nhồi sọ, tuyên truyền trong bao năm khi bức màn sắt che kín miền Bắc. Bà tâm sự như sau:

"Khóc thì tôi có hai lần khóc. Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. VàoNamtôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miềnNamngười ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc ViệtNamphạm phải..."

Bàn về biến cố tháng Tư 1975 trong văn học ViệtNamhải ngoại, nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh viết như sau:

“Tháng Tư năm 1975. Thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ. Ba mươi mấy năm trôi qua. Bao nhiêu là hồi ức. Không phải riêng với từng cá nhân mà còn với rất nhiều người và nói rộng ra với cả dân tộc chúng ta nữa. Những vết chém tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tâm não nhiều thế hệ. Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư là lại một dịp để những hồi ức cũ, những đau xót xưa lại trở về. Hôm nay, chúng ta hãy thử giở lại những trang sách, đọc lại những đoạn văn, những câu thơ đã qua của văn học ViệtNamđể nhìn lại những tâm tình của một thời đại lịch sử đầy biến động của đất nước ta.

Có nhiều người nhận định rằng cuộc chiến tranh đã qua và bây giờ mọi người hãy bỏ quên quá khứ đau thương để hướng về tương lai của dân tộc. Nếu chúng ta giở lại những trang sách viết về ngày 30 tháng Tư năm 1975 đau buồn của lịch sử có phải là hành động đào sâu thêm hố thẳm ngăn cách dân tộc?

Thực ra, thì không hẳn nhắc lại chuyện xưa là để làm sống lại những năm tháng chiến tranh máu lửa, để chuyện quá khứ vẫn mãi đeo đuổi trong tâm thức mọi người.

Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy. Trong thời điểm hiện tại, đọc những bài thơ, những bài văn viết về biến cố này, không phải là làm nặng nề thêm sự chia rẽ dân tộc mà chính là dịp để mỗi người chúng ta nhìn lại lịch sử để hiểu biết thêm những kinh nghiệm đắng cay của những quốc gia nhược tiểu. Qua một cuộc chiến, dĩ nhiên có bên thua và bên được. Nhưng, ở chiến tranh ViệtNam, dân tộc ViệtNamlà nạn nhân của những thế lực bên ngoài. Hiện trạng tụt hậu xã hội đến bây giờ vẫn là do một chủ nghĩa ngoại lai và một chế độ độc tài toàn trị...

Một điều khác, chúng ta không thể nào quên được những anh hùng trong cuộc chiến, những người lính vô danh đã nằm xuống cho lý tưởng của mình. Ngày 30 tháng Tư mỗi năm, nhắc đến họ như thắp lên nén hương lòng để tưởng niệm...”

Bị kẹt lại trong xứ năm 1975, nhà văn Nguyễn Thụy Long (1938-2009) viết về "Ngày 30 Tháng Tư" trong cảm nghĩ về cuộc sống sau khi đoàn quân CSVN vào chiếm đoạt miềnNam: (bài viết trong năm 2004)

“Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên, trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng, vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam. Tôi là dân bại trận ở lại ViệtNam.

Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có, gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy. Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo SỐNG bị giết chết vì đạn pháo kích lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy thoát ra được đến cửa biển Cần Giờ...

Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng Tư trên đất nước “Xã Hội Chủ Nghĩa VN,” kể ra thêm mệt nhưng không thể không kể. Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.

Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứng kiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh như thế mà buồn sao?

Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chíNam. Các ông cai ngục, cai tù được gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại. Đọc qua giấy này họ mới té ngửa ra, lúc ấy mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian. Còn người ở lại được nhà trại nói lấp lửng chừng nào “học tập tốt” thì về. Có người phải ở trong tù vài chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt. Tôi không hiểu người ta dựa vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy,

với lời kết án thật mơ hồ.”

Một bài viết khác là “Vết thương ngày 30 tháng 4”, tác giả kể về những khó khăn cho cả đất nước hai miền đều là nạn nhân của chế độ CSVN:

"Ngày 30 tháng 4, 1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đã nói với các cộng sự viên của mình là một trang sử vừa lật qua, có những lúc phải chống nhau nhưng cũng có những lúc phải cố gắng để bắt tay nhau xây dựng đất nước. Tôi chấp nhận thất bại và bằng lòng trả giá cho sự thất bại đó bằng cách từ đây không đòi hỏi bất cứ một vinh dự nào. Tôi chỉ còn một tham vọng làm được một vài điều lợi ích cho đất nước trong vai trò của một chuyên viên. Nhưng chỉ vài ngày sau tôi hiểu là ngay cả cái ao ước rất tầm thường đó cũng không thực hiện được... Người miềnNammất tài sản, địa vị và vai trò. MiềnNammất ngôn ngữ, mất tên và mất cả căn cước. Ðây không phải là một cuộc thống nhất, mà là một cuộc chiếm đóng. Hòa giải và hòa hợp dân tộc được hiểu một cách giản dị là tha chết cho kẻ chiến bại...

Ngày 30 tháng 4, 1975 không phải chỉ là một tủi hận cho người miềnNam. Ðối với người miền Bắc, đặc biệt là đối với những người đã đóng góp cho guồng máy cộng sản, sự tủi hận có lẽ còn lớn hơn. Họ không chịu đựng từ 1975, mà từ hai mươi năm về trước. Họ đã phải im lặng trong đợt cải cách ruộng đất, đã phải chà đạp lên chính lương tâm mình để đánh hôi nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, nhóm Xét Lại Chống Ðảng. Họ không những chỉ là những nạn nhân chịu đau mà không dám than khóc, họ còn bị bắt buộc phải làm đồng lõa cho cái tồi bại. Khi một đứa con bị bắt buộc phải chỉ vào mặt mẹ mà quát, “Con này, mày có biết tao là ai không?” thì không phải chỉ có đứa con và người mẹ là khốn khổ, không phải chỉ có chế độ là đểu cáng, mà cả dân tộc cũng bị làm nhục. Và nhục nhã nhất là chính những người phải tiếp tay cho guồng máy ghê tởm đó. Nhân cách và sự tự trọng không thể sống sót, người ta sau đó không còn cả lòng tự hào để nghĩ đến chống lại nữa."

(theo tác giả Nguyễn Gia Kiểng)

GS. Trần Thủy Tiên gởi gấm ý tưởng qua bài viết nhắn nhủ tuổi trẻ sinh sau không biết nhiều về CSVN, bài viết "Ý Nghĩa Của Ngày Quốc Hận 30/4":

"Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Việt Nam Cộng Hoà, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình."

Nhà văn Trần Trung Ðạo trong bài ghi nhận những cảm nghĩ về biến cố 30.04/1975:

"Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, với tôi, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người VN có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau, bức xúc khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ.

Sức mạnh của dân tộc VN không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Sinh mệnh dân tộc VN do chính nhân dân VN quyết định. Và do đó, con đường chung để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác."

oOo

Riêng tôi sinh hoạt trong nhóm văn học và nghệ thuật, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, những anh chị em trong tổ chức có những cảm nghĩ u buồn, dù là người ra đi trước hay ly hương sau, tựu trung thì Ngày 30 tháng Tư là Ngày Quốc Hận của nước Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử oan khiên.

Vì thế cho nên hằng năm vào dịp Tháng Tư Đen, trong tâm khảm mỗi người Việt tị nạn gốc Quốc Gia phải tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng 4 năm 1975 khi mà giặc Cộng Sản cưỡng chiếm Miền Nam và áp đặt lên đất nước một chế độ toàn trị phi nhân tính bởi những cưỡng bức đọa đày nhân dân, dâng bờ cõi cho ngoại bang, những tội ác sẽ còn mãi trong lịch sử Việt Nam, trước tai họa bị Hán hóa người dân biểu tình chống ngoại xâm, giới cầm quyền CSVN ra tay triệt hạ người dân biểu tình. Người ta không quên hình ảnh viên công an CS tên Minh đã đạp thô bạo vào mặt vào mặt người biểu tình tên Nguyễn TiếnNam.

Tưởng niệm năm 2012 đánh dấu 37 năm lưu lạc nơi quê người, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đã tổ chức Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư tại phòng thu hình của đài Global TV, buổi lễ diễn ra thật khắng khít và cảm động. Tôi xin trích đoạn bài viết của nhạc sĩ Cao Minh Hưng:

"Phải nói là Mùa tháng Tư Đen là mùa các đài phát thanh hay đài truyền hình QG đều bận rộn, đây là biến cố lớn xác định căn cước của người QG, nên lịch trình bận rộn thâu hình của đài Global TV vào những ngày cuối tháng Tư mọi người ghé đài đã mục kích sự kiện này, chúng tôi thu xếp và chương trình của đài ấn định ngày 21 tháng Tư cho buổi trình diễn và thâu hình để chiếu trong dịp Quốc Hận 30-4.  Trong những nổ lực và tấm lòng nhiệt tình của các anh chị em trong CLB TNS để dành hết cho ngày trọng đại này, có những người ở xa phải lái xe đến các buổi tập dợt sau giờ làm việc như ca sĩ Thúy Quỳnh và anh Trương Bình, 2 diễn viên chính trong hoạt cảnh "Đôi Mắt Phượng", rồi đến ca sĩ Hà Trúc Mai, Ngọc Bích, Nguyệt Lê và người đạo diễn Thy Linh. Đặc biệt vai anh quân y sĩ trong câu chuyện được ca sĩ Steven Bửu, một quân nhân quân y vừa mới trở về từ một đơn vị bộ binh Hoa Kỳ, cũng hăng hái nhập vai hoạt cảnh của mình.  Các anh chị trong các tiết mục hợp ca, đơn ca, như các ca sĩ Hạnh Cư, Ngọc Quỳnh, Như Ngọc Hoa, Đỗ Trọng Thái, Khánh Vân, Lan Hương, Xuân Thanh, Thanh Thanh, Thu Hà, v.v  cũng đã dành thời gian sau ngày làm việc để đến ráo riết tập dợt. Tôi cũng xin cám ơn các anh chị em trong Ban Hợp Ca của CLB TNS, ngay sau buổi hát góp mặt với Phong Trào Hưng Ca, đã đến ngay nhà chị Khánh Vân để tập dợt cho 2 màn hợp ca.

Có thể nói lên điều chúng tôi vui vì những anh chị em biểu lộ ý thức và lập trường rõ ràng về quan điểm ngày 30-04 là ngày gì trong ý nghĩ của mọi người. Ngày Quốc Hận là niềm tôn kính trọn vẹn cần có, hơn lúc nào hết là dịp hát vinh danh tự do và chính nghĩa QG....", Cao Minh Hưng.

Đó là ghi nhận của người cựu chủ tịch của CLBTNS cho biết cảm nghĩ của anh. Tôi nhớ ca sĩ Tuấn Minh phát biểu là các anh chị em trong nhóm CLBTNS có tinh thần QG cao và một tổ chức tương đối mới, nhưng phát triển khá nhanh.

Với tôi, nhìn chung nhóm qui tụ nhiều thế hệ, tiêu biểu như nhạc sĩ cao niên Anh Bằng, tuổi đời đang hướng về 90, Lý Tòng Tôn thế hệ hiệp định Genève, Cao Minh Hưng thế hệ Tết Mậu Thân, Hà Trúc Mai thế hệ tiêu biểu 1975, và Steven Bửu 26 tuổi, thế hệ hậu 1975, sinh ra tại Mỹ.

Những bài ca gợi nhớ biến cố 30 tháng Tư hay hậu 1975 như Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt, Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Xin Đời Một Nụ Cười, Đôi Mắt Phượng, Vì Sao?,...

Tôi hỏi về nguồn cảm hứng sáng tác của tác giả Cao Minh Hưng của 2 bài sau cùng, anh cho biết như sau:

Vi_SaoBản nhạc "Vì Sao?" được sáng tác ngay sau khi tôi được xem những hình ảnh tên công an cộng sản Việt Nam đạp vào mặt một người dân đi biểu tình.  Hành động man rợ, vô nhân tính của những kẻ cầm quyền với những người dân không một tấc sắt trong tay đã dấy trong tôi lòng căm phẩn tột cùng.  Tôi muốn lên tiếng thay cho những người dân không được cất lên tiếng nói của mình. 

Và cứ như thế mà những câu hỏi cứ tuôn tràn: "Vì sao anh chà đạp lên Anh Em Dân Việt? Vì sao anh chà đạp lên Tiếng Nói Tự Do? Vì sao anh chà đạp lên Trái Tim Việt Nam?".  Những câu hỏi này cũng là những lời kết án mạnh mẻ dành cho bọn hèn với giặc, ác với dân, dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung cộng,....  Ở đoạn kết của bản nhạc, tôi muốn nhắc nhở và kêu gọi mọi người hãy ghi nhớ và tự hào chúng ta là con cháu của các vị Trưng Vương, Lê Lợi, Quang Trung,... và noi theo những bậc tiền nhân để giữ vững tinh thần không bao giờ khuất phục và sợ hãi trước bọn giặc ngoại xâm phương Bắc!

Link bài hát "Vì Sao?" (nhạc và lời: Cao Minh Hưng):

http://caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=606

 

 

 

Doi_Mat_Phuong_Hoat_canh "Đôi Mắt Phượng" được sáng tác từ những cảm xúc sau khi tôi đọc câu chuyện thật thương tâm của nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh. Câu chuyện bắt đầu từ chuyện tình của một chàng quân y sĩ, yêu và thành hôn với một nữ sinh Trưng Vương tên Phượng, cô sinh viên có đôi mắt tuyệt đẹp.  Cuộc đời của đôi trai tài gái sắc tưởng chừng sẽ tươi đẹp và hạnh phúc nhưng biến cố 30 tháng Tư đã làm tan biến tất cả. Anh vào tù, Phượng ở nhà phải bán thân mình để có tiền mua tấm vé để cùng anh vượt biển tìm tự do. Trong cuộc hành trình vượt sóng, họ đã trải qua muôn vàn khổ cực, đói khát và mất đi một đứa con... Sau khi mớm cho con những giọt máu cuối cùng của mình, Phượng đành buông tay vĩnh viễn gửi thân xác vào lòng đại dương.

Đây là một bản nhạc mà tôi đã không cầm được nước mắt trong khi sáng tác.  Dù bao nhiêu năm tháng đã trôi qua, nhưng trang sử đau thương của Thuyền Nhân Việt Nam có lẽ sẽ chẳng bao giờ phai mờ.  Tôi muốn góp một phần nhỏ bé của mình ghi lại trang sử đau thương này của dân tộc Việt qua bài hát "Đôi Mắt Phượng".

Link bài hát "Đôi Mắt Phượng"

http://caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=397

                                                                                                                                                                                   

Hai tác phẩm trên đã nói lên tính cách âm nhạc đấu tranh, thích hợp với dịp 30 tháng 4. Tháng Tư Đen là dịp tưởng niệm biến cố bi thương đã ảnh hưởng đến mỗi chúng ta, là thời gian tưởng nhớ những quá khứ kiêu hùng của VNCH, xin hãy lắng tiếng lòng tưởng niệm về nước Việt Nam Cộng Hòa cùng bao nhiêu quân nhân cán chính và đồng bào đã bị bức tử hay hy sinh mạng sống để cho chúng ta hiện hữu.

Cũng dịp này thi sĩ Phi Loan Cỏ May cho đăng bài thơ về dịp 30/04 mới sáng tác post trên website của CLBTNS, tôi mạn phép xin trích đăng kèm theo đây:

THÁNG TƯ ĐEN

(Viết cho ngày quốc hận 30 tháng 4 )

 

Tháng tư năm ấy khóc sang trang

Tháng tư nhuộm đẫm, máu thành hàng

Tháng tư buông súng lòng uất nghẹn

Nước NAM phủ kín một màu tang

 

Tháng tư năm ấy, tháng thê lương

Trời hỡi! gieo chi những đoạn trường

Anh hùng tuẩn tiết trong oanh liệt

Giữ trọn lòng trung với núi sông

 

Tháng tư năm ấy, tháng nối dòng châu

Bỏ lại sau lưng tiếng thét gào

Oan khiên trao tặng đời vong quốc

Nhớ về chốn cũ nặng lòng đau

 

Tháng tư năm ấy, tháng tư ơi !

Bão tố bủa vây giữa giòng đời

Dân tôi tức tưởi trong oan nghiệt

Ôm TỰ DO chìm giữa biển khơi...

Phi Loan Hoàng Thi Cỏ May

Cali 2012

Nếu 30 tháng Tư, năm 1975 là biến cố chia lìa chốn quê nhà thân yêu cho nhiều người khi miền Nam bị thế giới bức tử, và sau đó hàng triệu người gạt nước mắt ly hương, xin hãy cầu nguyện cho ngày hồi hương khi chế độ Cộng Sản chính thức cáo chung, được tẩy sạch trên quê hương ta khi trên con đường mòn quê hương, nhạc khúc "Anh Vẫn Mơ Một Ngày Về" của Nguyệt Ánh (1) được vang lên, hay như những vần thơ "Ta Về" của thi sĩ Ngô Minh Hằng (2) vẽ lên bức tranh ngày mới, ta về hôn lên đất đá quê hương yêu thương ngàn đời.

Việt Hài Los Angeles

(Hết)

Ghi chú:

(1): Anh Vẫn Mơ Một Ngày Về

(Nhạc sĩ Nguyệt Ánh)

 

"Anh vẫn mơ một ngày nào

quê dấu yêu không còn cộng thù

Trên con đường mòn, sau cơn mưa chiều,

anh ôm đàn dìu em đi dưới trăng.

Ta đứng yên nghe rừng thì thầm.

Ta ngước trông sao trời thật gần.

Anh ôm cây đàn,

Anh buông tơ trầm.

Em ca bài mừng quê hương thanh bình.

ĐK:

Rồi bình minh tới anh đưa em về làng

Này bà con đón kìa anh em chào mừng

Thôn quê tưng bừng,

Muôn chim reo hò hát mừng người

vừa về sau chiến chinh.

Rồi hoàng hôn xuống ta say men rượu nồng

Họ hàng trong xóm thay nhau nhen lửa hồng

Sương giăng mịt mùng

Đêm sâu chập chùng xóa ngục tù xiềng gông bao năm.

Anh vẫn mơ một ngày nào anh với em chung tình bạc đầu.

Trên quê hương nghèo. Trong khu rừng già.

Trước mái nhà cờ vàng bay phất phơ.

Bên mái hiên ta ngồi chuyện trò.

Khoai nướng thơm hương tình ruộng đồng.

Con thơ ngoan hiền ê a đánh vần

"Vê en-Nờ" là Việt Nam kiêu hùng.

ĐK:

Rồi ngày con lớn con ca vang tình người

Hòa bình no ấm con ca vang tình đời

Thay cho cha già

Suốt cuộc đời hòa lời ca đấu tranh.

Rồi ngày con lớn con đi xây cuộc đời

Màu cờ tổ quốc con tô thêm rạng ngời

Quê hương thanh bình

Muôn dân yên lành sống cuộc đời tự do muôn năm!!!"

Link:

Nhạc của Nguyệt Ánh, Ca sĩ Quốc Anh:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=ozOiXTPhFj

(2): Ta Về

(Thi sĩ Ngô Minh Hằng)

 

"Một mai ta sẽ trở về

Bóng ta gọi nắng con đê đầu làng

Quốc ca từng nhịp hát vang

Gió reo và lá cờ vàng tung bay

Cây đa ấy, lũy tre này

Đón ta lá cũng vẫy tay lá mừng

Ta về, mắt mẹ rưng rưng

Núi sông vào hội trùng phùng hoa đăng

Ta về,  phố cũ ta thăm

Đem tin vui xóa đau thầm, giải oan

Ta về,  lòng biển hân hoan

Sóng reo mừng nước Việt Nam hoàn hồn

Ta về, rừng cũ ta hôn

Từng viên đất lạnh vuì chôn bạn tù

Gọi hồn từ cõi âm u

Đứng lên rũ sạch thiên thu oan hờn

Ta về, ghé đỉnh Trường Sơn

Hiển linh Tử sĩ thoát hồn vào mây

Ta quỳ, ôm nhánh cỏ may

Vô danh, muôn thuở còn đây, anh hùng

Ta về, ơi núi, ơi sông

Cờ bay vàng khắp ruộng đồng như hoa..."

******************************************

Add comment


Security code
Refresh


Newer articles:
Older articles:

Last Updated ( Saturday, 28 April 2012 14:28 )  
Username   Password       Forgot password?  Forgot username?  Register / Create an account